0
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 1986 trước sự khủng hoảng về kinh tế xã hội ở Việt Nam (kinh tế
ngày càng sa sút nghiêm trọng, lạm phát tăng cao, đời sống nhân dân giảm
nhanh chóng) trước sự biến chuyển lớn lao của tình hình thế giới (chiến tranh
lạnh kết thúc, q trình tồn cầu hố, xu thế hồ bình, hữu nghị, hợp tác ngày
càng phát triển. Ngay cả Liên xơ và Trung Quốc, hai nước lớn trong hệ thống xã
hội chủ nghĩa cũng tiến hành những sự cải cách cho phù hợp với sự chuyển biến
của tình hình trong nước và quốc tế). Đại hội VI, Đảng cộng sản Việt Nam
(ĐCSVN) đã đưa ra đường lối đổi mới chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung,
quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đa
phương hố đa dạng hố các quan hệ quốc tế. Từ đường lối đổi mới đó kinh tế
Việt Nam dần dần thốt khỏi khủng hoảng và từng bước phát triển, đời sống
người dân được cải thiện nâng cao rõ rệt cả về vật chất lẫn tinh thần, quan hệ
quốc tế được mở rộng theo đúng chủ trương “Việt Nam muốn làm bạn, làm đối
tác tin cậy của tất cả các nước”.
Song song với các kết quả đạt được, thành tựu của sự mở cửa, sự thơng
thương quan hệ với nhiều nước thì văn hố từ khắp các châu lục cũng tràn vào
Việt Nam, có những yếu tố tiến bộ, tích cực thúc đẩy kinh tế - xã hội - Văn
hố... phát triển (như kĩ thuật, cơng nghệ, các giá trị văn háo khiến các dân tộc
hiểu và gần bũi nhau hơn...) lại có cả những yếu tố, nhưng tệ nạn phá vỡ các giá
trị đạo đức tốt đẹp, kìm hãm sự phát triển (như các tệ nạn xã hội : Mại dâm, ma
t, cờ bạc, các bệnh nguy hiểm của nạn ăn chơi trác táng... các luận điệu xun
tạc của các thế lực phản động...). Có nhiều nhà nghiên cứu nhận xét rằng người
Việt Nam đặc biệt là giới trẻ ngày nay đang xa dần những giá trị truyền thống
tốt đẹp của dân tộc, lại căng q mức ảnh hưởng tác động từ bên ngồi.
Văn hố là thuộc tính, là nền tảng làm nên bản sắc dân tộc. Giữ gìn bản
sắc cũng là cách thức cơ bản để các dân tộc khơng tự đánh mất mình.
Câu hỏi đặt ra vậy người Việt Nam phải có thái độ như thế nào để vừa giữ
được các giá trị bản sắc dân tộc, vừa tiếp thu, tiếp nhận văn hố từ bên ngồi vào
2
NI DUNG
Bỏo chớ l sn phm ca phng Tõy, ra i cựng vi s hỡnh thnh v
phỏt trin ca ch ngha t bn (CNTB). Bỏo chớ ra i phi cú cỏc iu kin :
iu kin k thut tc l phi cú ngh in ch ri, in hot bn bi t bỏo trc
ht phi cú tớnh nh k; iu kin th hai l phi cú ngi lm bỏo (l mt
ngh); iu kin th ba l phi cú c gi (núi cho cựng bỏo chớ cng l mt sn
phm hng hoỏ. Vit Nam trong thi k phong kin nhng hỡnh thc thụng tin
s khai ó c s dng nh nhng cõu vố lu truyn trong dõn gian, ting mừ
lng, ting trng ging thp iu trong sinh hot ỡnh lng... n nhng hỡnh
thc thụng tin chớnh thc ca Nh nc phong kin t chc ra Qung Vn ỡnh
thi Lờ Thỏnh Tụng hay Qung Minh ỡnh thi Gia Long chng hn. Núi chung
õy mi ch l nhng hỡnh thc s khai ca thụng tin, nú cha phi l bỏo chớ.
Bỏo chớ ch xut hin Vit Nam khi thc dõn Phỏp xõm lc nc ta, khi k
thut in v th s dng ti Vit Nam. Nhng thit b ny, c s dng trc
ht in n cỏc cụng vn, ch th, hot ng ca cỏc tng tỏ, binh lớnh tin
hnh chin tranh xõm lc v bỡnh nh cỏc ni m thc dõn Phỏp chim c.
u nm 1865 soỏi ph Nam K thy cn thit phi m mang giỏo dc,
truyn bỏ hc thut v t tng Phỏp nht l to cho vic a quc ng thc s
vo qu o xõm lng vn hoỏ ỏnh bi ch Nho, quyt nh cho xut bn t
bỏo ting Vit u tiờn : t Gia nh Bỏo. õy l t bỏo m u cho lch s bỏo
chớ Vit Nam. Bỏo chớ Vit Nam t khi hỡnh thnh (nm 1865 vi s ra i ca
t Gia nh Bỏo) n nm 1945 cú th chia thnh cỏc giai on sau:
1. Giai on hỡnh thnh (1865 - 1907)
Nh trờn ó núi bỏo chớ l cụng c ca thc dõn Phỏp nhm nụ dch dõn
ta. Phỏp a bỏo chớ, mt loi hỡnh vn hoỏ phng Tõy vo Vit Nam nhm
truyn bỏ t tng hc thuyt ca Phỏp ng thi vi vic xoỏ dn nh hng
ca vn hoỏ Hỏn ó n sõu trong tõm thc ngi Vit Nam. Tuy nhiờn, thc dõn
Phỏp mc dự a vn hoỏ bỏo chớ vo nhng khụng cho nhõn dõn ta c t do
hoặc bắt buộc các cơng sở, các làng xã phải mua và đọc báo. Thời kỳ này các tờ
báo tun truyền cho chính sách của thực dân Pháp gần như giữ vai trò độc tơn
cũng có tờ áo thể hiện tinh thần u nước rõ rệt như tờ Phan n báo (1898) do
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
4
Diệp Văn Cương lập ra với loạt bài. Đòn Câu ARCHIMEDE của Cuồng Sĩ.
Bằng Giang có nhận xét rất đúng rằng: Đay là tơ báo quốc ngữ đầu tiên bị cấm ở
Nam Kỳ.
Trương Vĩnh Ký, đại diện cho giới cơng chức làm viẹc cho Pháp là một
trong những nhà báo đầu tiên của nước ta. Ơng là chủ bút tờ Gia Định báo từ
năm 1869. Về chính trị, rõ ràng ơng là người thân Pháp : Ca ngợi cơng ơn khai
hố của thực dân, bào chữa cho chính sách đầu hàng và hành động phản
quốccủa bọn Việt Nam. Nhiều lần Trương Vĩnh Ký cho rằng : ta khơng chống
lại được văn minh phương Tây, hơn nữa còn cơng khai khẳng định :Tơi phục vụ
cho cả hai đất nước đẻ ra tơi và tổ quốc lớn là nước Pháp. Tuy nhiên Trương
Vĩnh Ký có cơng thúc đẩy báo chí non trẻ của ta sung sức và khơng ngừng phát
triển bằng việc đưa các bài nghiên cứu nghiêm túc lên trên mặt báo. Có thể nói
trình độ văn hố, khoa học khơng ngừng hỗ trợ nếu khơng nói là quyết định uy
tín cho tờ báo bởi sự nghiêm túc, kịp thời và sinh động. Trương Vĩnh Ký còn có
cơng lớn trong việc phổ biến chữ quốc ngữ qua tun truyền, cổ động và dạy
trên tờ Gia Định báo.
Bước sang thế kỷ XX báo chí Việt Nam có bước chuyển biến với nội
dung phong phú hơn, có tính chun sâu hơn, có sự tham gia của nhiều giai tầng
hơn (phản ánh rõ nét sự thay đổi của xã hội Việt Nam).
Về nội dung các mục được mở rộng : có các trang đăng tải truyện dịch,
truyện dài, truyện ngắn, mục thơ ca (đăng các thơ sáng tác mới, văn học dân
gian sưu tầm); tầm mắt vươn xa với mục “Âu châu điện báo” của Nơng cổ mít
đàm; “Điện báo tồn cầu” của Đăng cổ tùng báo, mục “Nhời đàn bà” để tranh
thủ độc giả phụ nữ; rồi cả mục quảng cáo...
Về nghệ thuật báo chí cũng có những bước tiến đáng kể nhất là tờ Đăng
kêu gọi đồng bào hợp quần tương thân tương ái... Những tư tưởng cấp tiến này
khiến thực dân Pháp lo sợ và chúng ra lệnh bắt ơng. Tờ báo sang tay các chủ bút
khác, màu sắc cũng khác đi.
2. Giai đoạn 1907 - 1918
Sau khi phong trào Đơng Kinh Nghĩa Thục, phong trào Đơng Du, phong
trào chống thuế bị dập tắt, một mặt thực dân Pháp thi hành chính sách kiểm
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
duyệt gắt gao bịt mồn bịt miệng những tư tưởng tiến bộ, ngăn chặn sách báo
cách mạng từ ngồi vào (Tân thư, Tân văn) (Chính sách kiểm duyệt ngặt nghèo
này khiến cho sau khi Đăng cổ tùng báo ngừng xuất bản ở Bắc kỳ, trên tồn
quốc chỉ có hai tờ báo tiếng Việt xuất bản ở Nam Kỳ là lục tỉnh tân văn và nơng
cổ mít đàm). Mặt khác, chúng tìm cách vạch ra một đường lối báo chí mới có
hiệu lực nhằm phản cơng lại những tư tưởng u nước. Trong khi đó năm 1911
cách mạng Tân Hội thành cơng gây ra một tiếng vang lớn trong nhân dân ta,
nhiều người u nước Việt Nam đã đi theo tiếng gọi ấy, trong đó có cụ Phan Bội
Châu. Việt Nam quang phục hội ra đời với tơn chỉ “Đánh đuổi giặc Pháp khơi
phục Việt Nam” và gây ra các vụ bạo động khiến thực dân Pháp hết sức lo sợ
càng làm cho chúng quyết tâm thực hiện ngay đường lối báo chí mới. Chính
Sestier - thanh tra chính trị bản xứ đã thừa nhận “Thật là một việc tốn cơng vơ
ích và là một đường lối chính trị tồi khi muốn dập tắt tư tưởng và tình cảm của
dân chúng An Nam, đã thể hiện rõ rệt trong sự bàn luận các vấn đề chính tri”.
Đường lối báo chí đó là : Đặt cho báo chí nhiệm vụ làm tấm mộc để chắn đỡ ảnh
hưởng của phong trào giải phóng dân tộc từ bên ngồi tràn về, đồng thời đặt
nhiệm vụ dùng báo chí để hướng dẫn dư luận bản xứ. Theo đó “Chính phủ cần
phải tỏ ra khơng hề đối lập với tiến hố”, “đang muốn giúp nó phát triển và
những người viếtvăn muốn giáo dục cho dân chúng và những nhà dịch thuật có
khả năng cải tạo những tin tức ở nước ngồi, trong phạm vi kính trọng tự do và
thanh danh người khác cũng là tơn trọng chính phủ bảo hộ.
Đúng là giọng điệu của chủ thuyết Pháp - Việt đề huề.
trong s 1, ụng Dng tp chớ ó nhng v n bom, bo ng ca Vit Nam
quang phc hi l quõn cung di, l dựng khớ gii tiu nhõn l dũi b
ngoi quc... ỏng b r ln sụng hụ ho quan li hi nc Phỏp - Vit phi
hp tỏc m tr i. T bỏo ch trng Trung ngha vi i Phỏp cu tin b
ci lng, khai hoỏ. H khụng ph nhn ngi Phỏp c nhiu quyn li
nhng gii thớch rng ú l s n bự cụng lai khai hoỏ, bo h, tr an. H khụng
ph nhn (khụng th ph nhn) dõn ta b tr nhng li cho rng di ch
thuc a cũn khỏ hn l sng di ch nh vua hi c lp.H cũn t bo
cha rng ch nghớa Phỏp - Vit mi l s yờu nc. H cng khng nh chớnh
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
8
họ mới là những người biết u thương giống nòi, còn những người cách mạng
thì chẳng làm được gì hết mà chỉ làm loạn hại nước hại dân.
Tờ Nam Phong với chủ bút Phạm Quỳnh cũng có một luận điệu như thế,
tin vào thiên chức của Đại Pháp xưa nay vẫn được dạy cho phát triển quốc t
của mình khiến cho dân mình biết có một nhân cách riêng mà sống theo nhân
cách ấy. Phạm Quỳnh cho rằng nhiệm vụ của nhà báo là người đứng giữa giãi
bày ban bố những mưu hay chước phải cho phần nhiều người đọc được biết
cũng thay mặt quốc dân mà trình bày cho Nhà nước rõ cái chân tình trong nước
và những sở nguyện của dân. Khác với Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh đề cao
tư tưởng tơn qn, trung vua tức là u nước.
Nguyễn Bá Trác trong bài xã luận với đầu đề “thế nào là u nước đăng
trên số đầu của Cơng thị báo và dịch ra quốc ngữ trên số 2 của Trung Bắc tân
văn đã nói rằng : Nước là gì ? Nước tức là dân. Muốn u nước thì phải u dân.
Muốn u dân thì phải u người bênh vực cho dân. Nước đại Pháp bênh vực
cho dân ta đó. Vậy ta muốn u nước thì tất nhiên phải u nước Đại Pháp.
Đúng là tư tưởng thân Pháp.
Tuy nhiên, bên cạnh tiếng nói ca ngợi cơng ơn khai hố của thực dân
Pháp, tun truyền cho chính sách của Pháp ở Đơng Dương mang khuynh
hướng quốc gia cải lương thì báo chí thời kỳ này có những bước chuyển quan