Tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam - Pdf 27

MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
2.2.Thực trạng tái cấu trúc của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
24
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Nội dung
Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn
BIDV Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và phát triển Việt
Nam
CAR Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
CP Cổ phiếu
FCB Ngân hàng Thương mại cổ phần Đệ nhất
HBB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nhà Hà Nội
HĐQT Hội đồng quản trị
LNST Lợi nhuận sau thuế
MBB Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội
NĐ-CP Nghị định- Chính phủ
NH Ngân hàng
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHSN Ngân hàng sáp nhập
NHTM Ngân hàng Thương mại
NHTMCP Ngân hàng Thương mại Cổ phần
NHTMCPVN Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam
NHTMNN Ngân hàng Thương mại Nhà nước
NHTW Ngân hàng Trung ương
ROA Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
ROE Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sơ hữu
SCB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn
SHB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Hà nội
TCTD Tổ chức tín dụng
Tienphongbank Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong

định lượng như tăng trưởng GDP giảm, doanh nghiệp phá sản, đóng cửa tăng mà
còn thể hiện đặc biệt rõ nét ở xu hướng gia tăng các biến cố, những tín hiệu chỉ
báo mức độ rủi ro hệ thống, các loại tin đồn có tác động gây rối dư luận, làm suy
giảm mạnh lòng tin thị trường vốn đã suy yếu.
Đứng trước tình hình này, hệ thống các NHTM, đặc biệt là NHTMCP
muốn phát triển, đứng vững và trường tồn trong cơn khủng hoảng kinh tế toàn
cầu thì cần phải thực hiện đổi mới, tái cấu trúc. Đây vừa là mục tiêu, vừa là động
lực khiến các NHTMCPVN phải gồng mình đối phó, qua đó có thể tự đánh giá
và làm mới mình thông qua quá trình tái cấu trúc. Chính điều này đã thôi thúc
chúng em đi sâu vào nghiên cứu đề tài “Tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Việt Nam”.

1
CHƯƠNG 1: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VÀ TÁI
CẤU TRÚC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
1.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại cổ phần
1.1.1. Hệ thống Ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Ngân hàng Thương mại Nhà nước
Ngân hàng thương mại Nhà nước là ngân hàng thương mại trong đó Nhà
nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ. Ngân hàng thương mại Nhà nước bao gồm
ngân hàng thương mại do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và ngân hàng
thương mại cổ phần do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ.
Ở ngân hàng thương mại nhà nước có quy định “Không được rút lợi
nhuận khi ngân hàng không thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản
khác đến hạn” (theo “Nghị Định của Chính Phủ về tổ chức và hoạt động của
Ngân Hàng Thương Mại” Số: 59/2009/NĐ-CP).
1.1.1.2. Ngân hàng thương mại liên doanh
Ngân hàng thương mại liên doanh là ngân hàng thương mại được thành
lập tại Việt Nam, bằng vốn góp của Bên Việt Nam (gồm một hoặc nhiều ngân
hàng Việt Nam) và Bên nước ngoài (gồm một hoặc nhiều ngân hàng nước

các công cụ trực tiếp, gián tiếp yêu cầu để phát huy tối đa nguồn huy động vốn
thì NHTMCP khó được hưởng những lợi thế trên về cơ chế chính sách cũng như
ưu đãi của chính phủ.
Đối với NHTMCP bộ máy quyền lực cao nhất là Hội đồng quản trị và mọi
hoạt động đều đặt dưới quyền của Hội đồng quản trị. Thành viên của Hội đồng
quản trị do đại diện cổ đông bầu ra, từ 3- 11 người, nhiệm kỳ 2 – 5 năm. Các cá
nhân hoặc tổ chức nào nắm giữ lượng cổ phần trong tay lớn thì thường có thể
đóng một vị trí quan trọng trong bộ máy tổ chức và tham gia vào các hoạt động
của ngân hàng. Điều này cũng dẫn đến một rủi ro tiềm ẩn là: nếu các hoạt động
kinh tế của ngân hàng không được kiểm soát chặt chẽ thì tổ chức sẽ phải chịu
ảnh hướng lớn, thua lỗ và thiệt hại. Nhiều người vì muốn tạo chỗ đứng của mình
trong lĩnh vực ngân hàng nên đã đổ vốn mua cổ phần của ngân hàng. Nhưng
việc đổ vốn này không đơn thuần chỉ nhằm thu lợi nhuận từ hoạt động ngân
3
hàng mà còn tìm cách thâu tóm, chuyển vốn dễ dàng từ ngân hàng cho các dự án
sân sau hoặc xảy ra vấn đề sở hữu chéo. Mặt khác, yếu tố chủ yếu mà
NHTMCP quan tâm đó chính là lợi nhuận. Loại hình ngân hàng này mang nặng
tính kinh tế cao.
Tuy nhiên, do cơ cấu tổ chức hoạt động của NHTMCP VN cho thấy
những tiềm năng phát triển rất tích cực. Đứng trước sự biến động thay đổi từng
ngày của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, NHTMCP VN có thể giải
quyết các vấn đề tài chính, nhanh chóng thích nghi đổi mới và nâng cao chất
lượng hoạt động, quản lý một cách linh hoạt, phù hợp với từng thời kỳ của xã
hội. Phải nói các NHTMCP góp phần không nhỏ vào việc giải quyết nạn thất
nghiệp, nâng cao thu nhập và mức sống của dân cư cũng như góp phần bảo đảm
vốn đối với các ngành kinh tế nhằm phát triển ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong một quốc gia.
B. Những hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại cổ phần
a. Hoạt động huy động
v

gian ngắn hoặc dài tùy theo nhu cầu dự kiến sử dụng trong tương lai. Cùng với
sự phát triển của nền kinh tế, sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ trong kinh
doanh là tất yếu. Ngày nay các NHTMCP thường cạnh tranh bằng cách nhận
tiền gửi với nhiều loại kỳ hạn khác nhau, lãi và phương thức trả lãi khác nhau
và cố gắng đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người gửi tiền.
* Tiền gửi giao dịch
Đây
là nguồn vốn mà NHTMCP huy động chủ yếu từ các doanh
nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, hầu hết tất cả các doanh nghiệp đều mở
tài khoản giao dịch tại các NHTM. Phần lớn những hoạt động thu chi bằng
tiền của các doanh nghiệp chủ yếu là do các NHTM thực hiện. Bởi vậy lưu
lượng tiền trong tài khoản của các doanh nghiệp tại các NHTM mặc dầu
chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn huy động của các NHTM nhưng sự
vận động của nguồn vốn này thường không ổn định, lãi suất thấp (thậm chí bằng
0).
Mục đích của nguồn tiền gửi này không nhằm lấy lãi mà để thực hiện
các giao dịch. Ngày nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế, không chỉ có
các doanh nghiệp mà nhiều người dân cũng đã lựa chọn hình thức tiền gửi này
để thực hiện các giao dịch trong cuộc sống hàng ngày của mình. Do đặc thù
của tiền gửi này là có thể rút ra bất kỳ lúc nào nên còn gọi là tiền gửi không
kỳ hạn hay tiền gửi có thể phát séc.
* Phát hành chứng khoán n

:
Khi nhìn vào bảng cân đối tài sản của một NHTMCP có thể dễ dàng
nhận thấy bên nguồn vốn thì khoản mục huy động dưới hình thức tiền gửi là
chiếm tỷ trọng lớn nhất và quan trọng nhất. Tuy nhiên các NHTMCP cũng có
thể huy động vốn dưới nhiều hình thức khác nữa như phát hành các công cụ
nợ trên thị trường tài chính như: phát hành các chứng chỉ tiền gửi, phát hành
trái phiếu, kỳ phiếu. Nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng cũng như

* Hoạt động tín dụng
:
Hiện nay mặc dầu nền kinh tế hiện đại, các dịch vụ của NHTM rất phát
triển nhưng hoạt động cơ bản nhất của NHTM vẫn là hoạt động truyền thống -
hoạt động tín dụng.
Đây
được coi là hoạt động quan trọng nhất đối với các NHTM. Bởi
phần lớn lợi nhuận của các NHTM có được chủ yếu là thu từ hoạt động này.
Hoạt động tín dụng là hoạt động thực hiện quá trình cung ứng vốn cho nền
kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất, đầu tư và tiêu dùng cho các chủ thể
trong nền kinh tế.
Để thiết lập quy trình tín dụng thích hợp và nâng cao hiệu quả hoạt động,
hoạt động tín dụng được phân chia theo những tiêu chí khác nhau như mục đích,
6
thời hạn, mức độ tín nhiệm, phương pháp hoàn trả, phương thức cấp tín dụng.
Đặc
thù của NHTM là kinh doanh tiền tệ. Nếu gặp rủi ro từ hoạt động
tín dụng thì không chỉ ngân hàng và người tiết kiệm, đầu tư ảnh hưởng mà sẽ
kéo theo nhiều hậu quả cho nền kinh tế. Bởi vậy đặt ra yêu cầu các NHTM
phải đặc biệt chú ý dành nhiều nguồn lực để quản trị các rủi ro tiềm ẩn trong
hoạt động này.
* Hoạt động ngân quỹ
Là hoạt động duy trì khả năng thanh toán thường xuyên cho khách hàng
và ngân hàng bằng việc duy trì một mức dự trữ thanh toán bắt buộc có thể do
NHTW quy định hoặc do NHTM tính toán cũng như việc đảm bảo cơ cấu của
các loại tiền để thanh toán cho khách hàng. Các khoản dự trữ này có thể là
tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác, hoặc chứng từ có giá
có thể chuyển thành tiền trong thời gian ngắn như tín phiếu kho bạc hoặc các
chứng khoán ngắn hạn có tính thanh khoản cao.
* Hoạt động đầu t

triển và đời sống ở mức cao (Uỷ thác trong quản lý tài sản và thực hiện di chúc;
uỷ thác trong danh mục đầu tư chứng khoán; uỷ thác trong việc trả lương; uỷ
thác phát hành cổ phiếu, trái phiếu, thanh toán lãi hoặc lợi tức và thanh toán
vốn khi trái phiếu đáo hạn)
* Tư
v

n
Ngân hàng cung cấp dịch vụ tư vấn dựa trên nhu cầu của khách hàng và
đội ngũ chuyên gia tài chính hùng hậu của mình. Các dịch này bao gồm:
- Tư vấn về thuế
- Xây dựng dự án đầu tư cho các doanh nghiệp
- Tư vấn phát hành cổ phiếu và trái phiếu cho doanh nghiệp và chính phủ
- Tư vấn thiết lập kế hoạch tài chính cho doanh nghiệp và cá nhân
- Tư vấn về công nghệ, thị trường cho các doanh nghiệp trên cơ sở
quan hệ với khách hàng và thông tin về thị trường, công nghệ
Dưới sự tác động của môi trường cạnh tranh, các NHTM ngày nay không
chỉ tư vấn về tài chính mà còn có thể tư vấn về các vấn đề kinh tế xã hội khác.
* Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm
Loại dịch vụ bảo hiểm này nhằm đảm bảo cho khách hàng thanh toán
nợ trong trường hợp tử vong hoặc thương tật. Bên cạnh đó NH cung cấp các
loại bảo hiểm phi nhân thọ (tài sản và tai nạn). Tuy nhiên tuỳ theo quy định
của từng quốc gia cũng giới hạn các NH thực hiện dịch vụ này (như phải
thành lập công ty bảo hiểm trực thuộc ngân hàng; hoặc chỉ được cung cấp bảo
hiểm theo một tỷ lệ nhất định so với vốn chủ sở hữu Ngân hàng).
* Môi gi

i
Dịch vụ môi giới được phát sinh nhờ các NHTM có lợi thế thông tin tài
chính, thương mại và kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính. Dịch vụ môi giới

ngân hàng mà lựa chọn sản phẩm cung cấp phù hợp với NH mình. Trong mỗi
sản phẩm của NH lại đa năng về hình thức, phương thức cung cấp. Khách hàng
có thể thoả mãn tất cả các nhu cầu dịch vụ tài chính tại một NHTMCP thông
qua một địa điểm. Thực sự các NHTMCP đang trở thành một bách hoá tài chính
trong nền kinh tế
9
1.2. Tái cấu trúc các Ngân hàng thương mại cổ phần
1.2.1. Khái niệm và mục tiêu tái cấu trúc Ngân hàng thương mại cổ
phần
1.2.1.1. Khái niệm
Tái cấu trúc là quá trình thay đổi, sắp xếp, tổ chức lại Ngân hàng; qua đó
thay đổi cấu trúc hiện tại nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và củng cố sức
mạnh, tăng cường vị thế của ngân hàng cho phù hợp với yêu cầu của thị trường.
Tái cấu trúc bao gồm cơ cấu lại về Tài chính, Công nghệ, Mạng lưới,
Quản trị điều hành, Tổ chức, Nhân lực hoặc đôi khi chỉ là một nội dung trong
số đó.
Khi các ngân hàng hoạt động không còn hiệu quả, một trong những
nguyên nhân chủ yếu đó là do mô hình, cơ cấu tổ chức của ngân hàng đã không
còn phù hợp, không đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế, hoặc đang chịu áp
lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập đòi hỏi các NHTM phải cơ cấu lại
ngân hàng của mình.
1.2.1.2. Mục tiêu
Thông qua việc tái cấu trúc hệ thống NHTMCP, tình hình tài chính có thể
được lành mạnh hóa trở nên minh bạch. Đồng thời, việc đảm bảo thanh khoản,
tăng vốn cho ngân hàng và chuyển đổi mô hình tổ chức hoạt động phù hợp với
tình hình kinh tế cũng giúp cho NHTMCP nâng cao hiệu quả hoạt động, tối đa
hóa lợi nhuận và đóng góp nhiều lợi ích cho xã hội.
Khi so sánh với các quốc gia trên thế giới thì hệ thống các NHTMCPVN
còn có nhiều điểm cần lấy làm gương để học tập và rút kinh nghiệm. Quá trình
tái cấu trúc giúp hệ thống NHTMCP có thể hiện đại hoá hoạt động kinh doanh,

Giai đoạn 4: Triển khai thực hiện: Kiểm tra, giám sáp và đánh giá nhằm
rút kinh nghiệm và xử lý các phát sinh trong quá trình tái cấu trúc, đảm bảo bám
sáp mục tiêu đã đề ra. Đây được xem như là giai đoạn quan trọng nhất trong tiến
trình tái cấu trúc. Giai đoạn này cần có sự kết hợp giữa nhiều bên liên quan
trong đó có cả Ngân hàng Nhà nước và cần phải thực hiện cơ cấu từng nội dung
một nhằm đảm bảo sự chắc chắn và an toàn cho ngân hàng được tái cấu trúc.
11
1.2.2.2. Nội dung tái cấu trúc
a. Tái cấu trúc tài chính các Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần
* Xử lý nợ xấu
Nợ xấu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả
năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các
con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản. Nợ xấu gồm gồm các khoản
nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên thường quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả
nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp. Nợ xấu
lớn chưa đựng nguy cơ đổ vỡ hệ thống ngân hàng sẽ dẫn đến khủng hoảng tài
chính tiền tệ, gây ra gánh nặng chi phí cho NHTM, suy giảm khả năng huy động
vốn và cho vay đối với nền kinh tế, làm giảm uy tín của NHTM. Ngoài ra nợ
xấu còn làm cản trở quá trình hội nhập của các NHTM và giảm khả năng cạnh
tranh trên thị trường. Do đó xử lý nợ xấu là một trong những nội dung đầu tiên
cần phải đề cập trong quá trình tái cấu trúc.
Các nguồn xử lý nợ xấu mà các NHTM có thể lựa chọn bao gồm: (1)
Nguồn dự phòng rủi ro được trích lập hàng năm; (2) Nguồn từ NHNN; (3)
Nguồn từ các tổ chức tín dụng quốc tế; (4) Trái phiếu chính phủ.
* Tái cấu trúc về vốn
Hiện nay các NHTMCP có thể tăng vốn tự có bằng hai nguồn chính đó là
từ bên ngoài và bên trong.
* Nguồn bên ngoài:
- Phát hành cổ phiếu thường:
+ Ưu điểm: Không phải hoàn trả cho người mua cổ phiếu, cổ tức của cổ

đến quyền lợi của cổ đông.
13
b. Tái cấu trúc hoạt động
Nội dung này bao gồm việc xem xét, quản lý và sử dụng theo hướng có
hiệu quả hơn các nguồn lực của ngân hàng bao gồm: quản lý tín dụng, quản lý
rủi ro, quản lý vốn, công nghệ thông tin và quản trị nguồn nhân lực
* Quản lý tín dụng: đảm bảo các nhu cầu của khách hàng với chất lượng
cao song song với việc quản lý dựa trên các quy định và nguyên tắc về hoạt
động tín dụng theo chuẩn mực ngân hàng quốc tế.
* Quản lý rủi ro: Xây dựng các thiết chế quản lý rủi ro nhằm hạn chế rủi
ro trong hoạt động ngân hàng: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất,
rủi ro hoạt động, rủi ro tỷ giá. Nội dung này phụ thuộc vào chính sách của từng
ngân hàng và bao gồm 4 giai đoạn: (1) Xác định rủi ro; (2) Định lượng rủi ro;
(3) Quản lý rủi ro; (4) Kiểm soát rủi ro.
* Quản lý vốn: Việc cơ cấu lại nguồn vốn và chính sách quản lý vốn
giúp ngân hàng giảm thiểu chi phí huy động vốn, giảm thiểu rủi ro và tăng năng
lực tài chính. Để đạt được nội dung này, ngân hàng thường thành lập các Ban
quản lý tài sản.
* Phát triển công nghệ: Ngày nay Khoa học công nghệ liên tục phát triển
và đổi mới, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Khi áp dụng và phát triển công
nghệ vào hoạt động của mình, Ngân hàng có thể đáp ứng tối đa nhu cầu của
khách hàng, gia tăng tiện ích và giảm thiểu tốn kém thời gian, tiền bạc. Do đó
khi cơ cấu lại, các Ngân hàng luôn đặc biệt tập trung vào nội dung này.
* Hệ thống kế toán, kiểm toán: Ngân hàng cần áp dụng hệ thống kế toán
quốc tế, tiến tới chuẩn mực hoá các hoạt động theo quốc tế nhằm đánh giá một
cách chính xác nhất thực trạng tài chính của mình.
* Quản trị nguồn nhân lực: Đào tạo nhân lực được xem là nội dung
mang tính nền tảng trong chiến lược tái cấu trúc ngân hàng. Nội dung của quản
lý nguồn nhân lực là xây dựng lực lượng cán bộ công nhân viên có đạo đức nghề
nghiệp, kỹ năng nghiệp vụ để thực hiện tốt các hoạt động.

Việc sắp xếp lại mạng lưới cũng cần lưu ý tới tính hiệu quả của nó tránh
việc dàn trải gây tốn kém trong quá trình hoạt động của ngân hàng.
15
1.2.3. Các phương thức tái cấu trúc
1.2.3.1. Hợp nhất, sáp nhập
Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 không có khái niệm mua,
bán doanh nghiệp, chỉ có khái niệm hợp nhất và sáp nhập doanh nghiệp quy
định tại Điều 152 và Điều 153.
Hợp Nhất: Hai hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là công ty bị
hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (sau đây gọi là công ty hợp
nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp
sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty bị hợp nhất.
Sáp nhập: Một hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là công ty bị
sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp
nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp
sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp
nhập.
Ngân hàng thương mại Cổ phần trên danh nghĩa cũng là một công ty được
thành lập với hoạt động kinh doanh tiền tệ và tín dụng do đó cũng sẽ nằm trong
đối tượng áp dụng của Luật trên.
Hoạt động sáp nhập - mua lại đang rất sơ khai trong nền kinh tế Việt Nam
và ngành Ngân hàng là ngành đi đầu với những thương vụ lớn. Có hai lý do
chính khiến hoạt động sáp nhập trở nên sôi động hơn: Thứ nhất là nhu cầu của
các ngân hàng Việt Nam tìm kiếm các đối tác chiến lược thông qua các thương
vụ bán cổ phần cho các ngân hàng khu vực và toàn cầu. Lý do thứ hai cũng là lý
do quan trọng hơn đó là động thái của Ngân hàng nhà nước khi yêu cầu tăng vốn
tối thiểu trong các NHTM lên 3000 tỷ đồng (tương đương với 142.9 triệu USD).
Đáng chú ý trong đó là những quy định về tỉ lệ góp vốn của các ngân hàng nước
ngoài đối với các ngân hàng thương mại cổ phần trong nước không được quá
15% (tỉ lệ này có thể được điều chỉnh trong một số trường hợp đặc biệt được

5 Tổng 34 100%
Nguồn: Tổng hợp nguồn vốn điều lệ của các Ngân hàng TMCP
Dữ liệu cập nhật của Ngân hàng Nhà nước qua các tháng từ cuối năm
2009 đến nay cho thấy hệ thống các ngân hàng thương mại không ngừng lớn
mạnh và có tốc độ tăng trưởng nhanh về quy mô. Trong đó, khối ngân hàng
thương mại cổ phần đang thể hiện sự tăng trưởng nhanh, cũng như khả năng
chiếm lĩnh thị phần mạnh hơn các khối còn lại.
18
2.1.2. Thực trạng của hệ thống Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt
Nam
Bảng 2: Quy mô hệ thống ngân hàng Việt Nam (tính đến 31/12/2012)
Đơn vị: tỷ đồng
Loại hình TCTD
Tổng tài sản có Vốn tự có Vốn điều lệ
Số tuyệt
đối
Tỷ
trọng
Số tuyệt
đối
Tỷ
trọng
Số tuyệt
đối
Tỷ
trọng
NHTM
Nhà nước
2.201.660 43,3% 137.268 32,2% 111.427 28,4%
NHTM Cổ phần 2.159.363 42,2% 183.139 43,0% 172.854 44,0%

độ
tăng
(%)
31/12/
2011
31/12/
2012
Tốc
độ
tăng
(%)
31/12/
2011
31/12/
2012
Tốc
độ
tăng
(%)
Tổng
tài
sản có
1.969.637 2.201.660 11,78 2.262.060 2.159.363 -4,54 546.775 555.414 1,58
Vốn
tự có
115.662 137.268 18,68 172.220 183.139 6,34 86.693 92.554 6,76
Vốn
điều
lệ
86.998 111.427 28,08 159.843 172.854 8,14 73.327 75.380 2,80

1,3 1,7 2,0 1,6 1,7 2,3
Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Từ năm 2007 đến năm 2012, thị phần huy động vốn của các Ngân hàng
thương mại cổ phần liên tiếp tăng lên thay vào đó là sự sụt giảm của khối Ngân
hàng quốc doanh. Các tổ chức tín dụng khá chỉ chiếm thị phần khá nhỏ. Nguyên
nhân là do sự đột phá về quy mô từ số lượng cho đến chất lượng của các Ngân
hàng thương mại cổ phần, đặc biệt là trong giai đoạn bùng nổ của thị trường
chứng khoán 2006 - 2007, đã tạo nên sự dịch chuyển thị phần mạnh mẽ như vậy.
2.1.3.2. Thị phần tín dụng của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt
Nam
Bảng 5: Cơ cấu thị phần tín dụng (tính đến tháng 3/2012)
21

Trích đoạn Hợp nhất 3 ngân hàng thương mại cổ phần Tín Nghĩa, thương mại cổ phần Sài Gòn, thương mại cổ phần Đệ Nhất Nguồn vốn, tài sản sau hợp nhất Nguồn nhân sự Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động điều hành Thành lập công ty mua bán nợ, thực chất là mô hình công ty mua bán tài sản (AMC)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status