MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
LỜI MỞ ĐẦU
Trong năm năm gần đây nhờ có chính sách cởi mở của Chính phủ, hệ thống ngân hàng
thương mại (NHTM) Việt nam đã có sự tăng trưởng mạnh kể cả về quy mô tài sản và số
lượng các ngân hàng. Hệ thống NHTM tiếp tục khẳng định là một kênh dẫn vốn quan trọng
cho nền kinh tế và đồng thời phối hợp với Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực hiện các
chính sách tiền tệ quan trọng của quốc gia.
Tuy nhiên trong quá trình phát triển, hệ thống NHTM Việt Nam cũng đang và sẽ phải
đối mặt với những thách thức nghiêm trọng như chất lượng tài sản kém, khó khăn về thanh
khoản, chất lượng lợi nhuận thấp, yếu kém về quản trị và về quản lý rủi ro. Có thể thấy
chính những bất ổn gần trên thị trường tiền tệ thời gian qua đã cho thấy rõ những tồn tại cần
khắc phục đó.
Trước thực trạng đó, việc tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trở
thành một trong những yêu cầu bức thiết. Điều này giúp cho các ngân hàng không bị rơi vào
tình trạng mất khả năng thanh toán và khôi phục năng lực của hệ thống ngân hàng giúp thúc
đẩy nền kinh tế nhanh hồi phục sau giai đoạn khủng hoảng.
Trong khuôn khổ của bài viết, nhóm tác giả xin được đề cập khái quát tới thực trạng
của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở đó, tác
giả đưa ra một số giải pháp và các bước để thực hiện việc tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt
Nam trong tình hình hiện nay.
Thực hiện: Nhóm 3 – Cao học TCDN Đêm 5 Trang 2
Tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Phần 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM
I.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ NHTM
I.1.1 Khái niệm
Ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian tiêu biểu, đóng vai trò
quan trọng trong việc khai thông các nguồn vốn tiếp kiệm đáp ứng nhu cầu đầu tư của các
chủ thể trong nền kinh tế, đồng thời nó giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho nền
kinh tế vận hành nhịp nhàng, hữu hiệu.
vốn. Thông qua việc khai thác các khoản vốn tiền tệ tạm htời nhàn rỗi trong nền kinh tế,
ngân hàng hình thành nên quỹ cho vay cấp tín dụng cho nền kinh tế. Với chức năng này,
ngân hàng vừa đóng vai trò là chủ thể đi vay, vừa đóng vai trò là chủ thể cho vay.
Chức năng trung gian tín dụng của ngân hàng được mô tả qua sơ đồ sau:
Với chức năng trung gian tín dụng, NHTM thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:
Huy động các nguồn vốn từ các chủ thể tiết kiệm, có vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế:
+ Nhận tiền gửi không có kỳ hạn, có kỳ hạn của các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã
hội, cá nhân dưới hiình thức tiền tệ (nội tệ hoặc ngoại tệ).
+ Nhận tiền gửi tiết kiệm của các tổ chức và các cá nhân.
+ Phát hành kỳ phiếu ngân hàng để huy động vốn trong xã hội.
Cấp tín dụng đầu tư đáp ứng nhu cầu về vốn cho các chủ thể trong nền kinh tế:
+ Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn đối với các tổ chức kinh tế cá nhân.
+ Chiết khấu thương phiếu, giấy tờ có giá.
+ Cho vay tiêu dùng, cho vay trả góp và các hình thức cấp tín dụng khác
Thông qua chức năng trung gian tín dụng NHTM góp phần tạo lợi ích cho tất cả các
chủ thể kinh tế tham gia và lợi ích chung cho nền kinh tế:
Đối với người gửi tiền: thông qua cơ chế huy động vốn của ngân hàng đã tập hợp các khoản
vốn tạm thời nhàn rỗi và tạo thu nhập cho người gửi tiền dưới hình thức lãi tiền gửi. Đồng
thời, ngân hàng cũng đảm bảo an toàn cho các tài khoản tiền gửi và cung cấp cho khách
hàng những dịch vụ thanh toán tiện lợi.
Đối với người vay: họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu về vốn kinh doanh, chi tiêu, thanh toán mà
không phải tiêu tốn nhiều chi phí về sức lực, thời gian cho việc tìm kiếm nơi cung ứng vốn
tiện lợi chắc chắn và hợp pháp.
Thực hiện: Nhóm 3 – Cao học TCDN Đêm 5 Trang 4
- Tổ chức kinh tế
- Doanh nghiệp
- Tổ chức xã hội
- Hộ gia đình, dân cư
- Tổ chức kinh tế
- Doanh nghiệp
hàng khi họ đáp ứng các yêu cầu theo quy định về việc mở và sử dụng tài khoản giao dịch
tại ngân hàng. Chức năng thanh toán của ngân hàng chỉ được thực hiện thuận lợi khi các
khách hàng tham gia có tài khoản giao dịch tại ngân hàng, do vậy, thủ tục mở tài khoản phải
chặt chẽ nhưng đơn giản, đảm bảo bí mật, an toàn cho khách hàng.
Quản lý và cung cấp các phương tiện thanh toán cho khách hàng: thanh toán qua ngân hàng
là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, nó được thực hiện qua việc phản ánh trên
sổ sách ngân hàng. Do đó, các chứng từ dùng làm căn cứ hạch toán sổ sách phải chuẩn xác
do ngân hàng cung cấp và kiểm soát, có như vậy mới đảm bảo cho quá trình thanh toán
được nhanh chóng, an toàn và chính xác. Vì vậy, ngân hàng sẽ thiết kế và cung cấp cho các
khách hàng phương tiện thanh toán khác nhau như: giấy chuyển tiền, ủy nhiệm chi, séc, thư
tín dụng… Những phương tiện này vừa đáp ứng yêu cầu quản lý và kiểm soát chặt chẽ,
đồng thời đáp ứng yêu cầu linh hoạt, tiện lợi và dễ sử dụng.
Thực hiện: Nhóm 3 – Cao học TCDN Đêm 5 Trang 5
- Người thụ hưởng
- Người bán hàng
- Tổ chức xã hội
- Cá nhân
- Người trả tiền
- Người mua hàng
- Tổ chức xã hội
- Cá nhân chuyển tiền
Lệnh
trả tiền
qua
TK
Giấy
báo có
NHTM
Tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Tổ chức và kiểm soát quy trình thanh toán giữa các khách hàng: để đảm bảo yêu cầu thanh
kinh doanh ngân hàng, nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận, cho nên phần lớn các ngân
hàng hiện nay là loại ngân hàng hỗn hợp, mặc dù tên gọi có thể là chuyên doanh nhưng hoạt
động lại mang tính chất là ngân hàng hỗn hợp.
Căn cứ vào tính chất sở hữu:
Ngân hàng thương mại bao gồm:
Thực hiện: Nhóm 3 – Cao học TCDN Đêm 5 Trang 6
Tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Ngân hàng thương mại quốc doanh: Các NHTM quốc doanh thuộc sở hữu của Nhà
nước, vốn tự có do ngân sách Nhà nước cấp phát ban đầu khi mới thành lập và cũng sẽ được
xem xét bổ sung khi cần thiết. Hoạt động của các ngân hàng này nhằm mục đích thực hiện ý
chí quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và tạo nguồn thu nhập cho ngân
sách.
Ngân hàng thương mại cổ phần: NHTM cổ phần có loại hình sở hữu hỗn hợp. Vốn
điều lệ ngân hàng hình thanh trong cơ chế góp vốn cổ phần, trong quá trình kinh doanh cần
mở rộng quy mô ngân hàng có thể phát hành thêm cổ phiếu mới. Loại hình ngân hàng này
phổ biến trong cơ chế kinh tế thị trường phát triển.
Ngân hàng thương mại liên doanh: NHTM liên doanh hình thành trên cơ sở góp vốn
liên doanh giữa các đối tác trong nước (Nhà nước hoặc một ngân hàng thương mại quốc
doanh) với một đối tác nước ngoài, trụ sở kinh doanh trong nước và vận hành trong khuôn
khổ pháp lý trong nước.
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: do ngân hàng nước ngoài thành lập, đặt trụ sở trong
nước, hoạt động theo luật pháp trong nước. Vốn điều lệ do ngân hàng chính quốc cung ứng
theo mức vốn quy định của ngân hàng trung ương nước sở tại quy định.
1.2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG NHTM VIỆT
NAM
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Lịch sử phát triển của hệ thống NHTM Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển của
từng thời kỳ cách mạng và công cuộc xây dựng Đất nước.
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong kiến dưới
sự thống trị của thực dân Pháp. Hệ thống tiền tệ, tín dụng ngân hàng được thiết lập và bảo
sở chính tại thủ đô Hà Nội, các Chi nhánh Ngân hàng tại các tỉnh, thành phố và các chi điếm
ngân hàng cơ sở tại các huyện, quận trên phạm vi cả nước.
Căn cứ vào những biến đổi quan trọng về tình hình và nhiệm vụ cách mạng cũng như
về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, quá trình phát triển
của hệ thống Ngân hàng Việt Nam có thể được chia làm 4 thời kỳ như sau:
Thời kỳ 1951 - 1954:
Trong thời kỳ này, Ngân hàng quốc gia Việt Nam được thành lập và hoạt động độc lập
tương đối trong hệ thống tài chính, thực hiện trọng trách đầu tiên theo chủ trương của Đảng
và nhà nước là: Phát hành giấy bạc ngân hàng, thu hồi giấy bạc tài chính; Thực hiện quản lý
Kho bạc Nhà nước góp phần tăng thu, tiết kiệm chi, thống nhất quản lý thu chi ngân sách;
Phát triển tín dụng ngân hàng phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hoá, tăng cường lực lượng
kinh tế quốc doanh và đấu tranh tiền tệ với địch.
Thời kỳ 1955 - 1975:
Đây là thời kỳ cả nước kháng chiến chống Mỹ, miền Bắc xây dựng và chiến đấu, vừa
ra sức chi viện cho cách mạng giải phóng miền Nam; mọi hoạt động kinh tế xã hội phải
chuyển hướng theo yêu cầu mới. Trong thời kỳ này, Ngân hàng Quốc gia đã thực hiện
những nhiệm vụ cơ bản:
Củng cố thị trường tiền tệ, giữ cho tiền tệ ổn định, góp phần bình ổn vật giá, tạo điều kiện
thuận lợi cho công cuộc khôi phục kinh tế.
Phát triển công tác tín dụng nhằm phát triển sản xuất lương thực, đẩy mạnh khôi phục và
phát triển nông, công, thương nghiệp, góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây
dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Miền Bắc và giải phóng Miền Nam.
Thời kỳ 1975 - 1985:
Đây là giai đoạn 10 năm khôi phục kinh tế sau chiến tranh giải phóng và thống nhất
nước nhà, là thời kỳ xây dựng hệ thống ngân hàng mới của chính quyền cách mạng; tiến
Thực hiện: Nhóm 3 – Cao học TCDN Đêm 5 Trang 8
Tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
hành thiết lập hệ thống ngân hàng thống nhất trong cả nước và thanh lý hệ thống ngân hàng
của chế độ cũ ở miền Nam. Theo đó, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam của chính quyền Việt
Nam cộng hoà (ở miền Nam) đã được quốc hữu hoá và sáp nhập vào hệ thống Ngân hàng
chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài, Hợp tác xã tín dụng, Quỹ tín
dụng nhân dân, công ty tài chính Trong thời gian này, 4 ngân hàng thương mại quốc
doanh lớn đã được thành lập gồm: 1) Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam; 2) Ngân hàng
đầu tư và phát triển Việt Nam; 3) Ngân hàng Công thương Việt Nam; 4) Ngân hàng ngoại
thương Việt Nam.
Thực hiện: Nhóm 3 – Cao học TCDN Đêm 5 Trang 9
Tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Từ năm 1991 đến nay: Thực hiện chủ trương đường lối chính sách của Đảng trong
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá hệ thống ngân hàng Việt Nam không ngừng đổi mới
và lớn mạnh, đảm bảo thực hiện được trọng trách của mình trong sự nghiệp xây dựng và
phát triển kinh tế đất nước trong thiên niên kỷ mới. Những dấu ấn dưới đây liên quan trực
tiếp và thúc đẩy quá trình đổi mới mạnh mẽ hoạt động Ngân hàng:
Năm 1993: Bình thường hoá các mối quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế
(IMF, WB, ADB)
Năm 1995: Quốc hội thông qua nghị quyết bỏ thuế doanh thu đối với hoạt động ngân
hàng; thành lập ngân hàng phục vụ người nghèo.
Năm 1997: Quốc hội khoá X thông qua Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật
các tổ chức tín dụng (ngày 2/12/1997) và có hiệu lực thi hành từ 1/10/1998; Thành lập Ngân
hàng phát triển Nhà Đồng bằng Sông cửu long (Quyết định số 769/TTg, ngày 18/9/1997).
Năm 1999: Thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (ngày 9/11/1999).
Năm 2000: Cơ cấu lại tài chính và hoạt động của các NHTMNN và cơ cấu lại tài
chính và hoạt động của các NHTMCP.
Năm 2002: Tự do hoá lãi suất cho vay VND của các tổ chức tín dụng - Bước cuối
cùng tự do hoá hoàn toàn lãi suất thị trường tín dụng ở cả đầu vào và đầu ra.
Năm 2003: Tiến hành cơ cấu lại theo chiều sâu hoạt động phù hợp với chuẩn quốc tế
đối với các Ngân hàng thương mại; Thành lập NHCSXH trên cơ sở Ngân hàng phục vụ
người nghèo để tiến tới tách bạch tín dụng chính sách với tín dụng thương mại theo cơ chế
thị trường; Tiến hành sửa bước 1 Luật NHNNVN.
Năm 2008: Thực hiện cam kết khi gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới, Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam đã chính thức cấp phép thành lập 05 Ngân hàng 100% vốn nước ngoài,
Mạng lưới hoạt động: Không chỉ phát triển về số lượng, qui mô mạng lưới của các
NHTM cũng tăng lên nhanh chóng. Tuy nhiên, số lượng chi nhánh, phòng giao dịch (CN,
PGD) và ATM của các NH còn khá chênh lệch nhau do chiến lược phát triển và đặc trưng
của từng ngân hàng. Riêng 4 NHTMQD đã chiếm 35,7% tổng số lượng ATM của toàn hệ
thống. VBARD giữ vai trò chủ đạo trong phát triển đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn nên
có mạng lưới hoạt động rộng khắp với 2.300 CN, PGD và 1.704 ATM trong năm 2010. Tuy
nhiên, hiệu quả hoạt động ATM của Agribank chưa cao tương ứng với qui mô. Trong khi đó,
các NH như VCB và SEAB với thế mạnh là hoạt động thẻ có mạng lưới ATM lớn thứ 3 và 4
trong khi qui mô về CN, PGD thấp hơn nhiều.
Biểu đồ 1.1 : Số lượng Chi nhánh, PGD và ATM của một số ngân hàng lớn
Nguồn: Báo cáo ngành ngân hàng - VCBS
Khối ngân hàng thương mại quốc doanh chiếm ưu thế về vốn và nhà nước vẫn nắm
quyền chi phối tại một số NH đã cổ phần hóa: Các NHTMQD là các NH thuộc sở hữu của
Nhà nước hoặc đã được cổ phần hóa một phần nhưng chủ sở hữu chính vẫn là Nhà nước.
Hầu hết các NH trong khối này đều có lợi thế về qui mô vốn, với tổng vốn điều lệ của 4 NH
Thực hiện: Nhóm 3 – Cao học TCDN Đêm 5 Trang 11
Tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
lớn tại 31/12/2010 là 64.037 tỷ đồng, dẫn đầu là VBARD với 21.042 tỷ đồng. Khách hàng
truyền thống của khối này là các Tổng công ty nhà nước, tuy nhiên việc cho vay các DN
quốc doanh tiềm tàng nguy cơ nợ xấu nhiều hơn so với các DN khác. Theo thống kê của
NHNN, trong 2,5% nợ xấu toàn ngành của năm 2010, có tới 60% là nợ xấu của các DN
quốc doanh.
Khối ngân hàng thương mại cổ phần có hoạt động linh hoạt và dần chiếm lĩnh thị
phần của khối NHTMQD: Các NHTMCP có cơ cấu cổ đông đa dạng hơn các NHTMQD,
tập trung vào hoạt động cho vay các DN vừa và nhỏ và hoạt động ngân hàng bán lẻ. Thị
phần của khối này tăng nhanh trong những năm gần đây do chiếm lĩnh được từ khối
NHTMQD, chiếm 37,1% thị phần tín dụng của toàn ngành trong năm 2010 với tổng số vốn
điều lệ lên tới 151.590 tỷ đồng.
Tuy nhiên, qui mô của nhóm NH này vẫn nhỏ hơn nhiều so với các NHTM quốc
doanh. Dẫn đầu về vốn điều lệ trong nhóm này là Eximbank (EIB) với 10.560 tỷ đồng, theo
NAM GIAI ĐOẠN 2007 – 2011
2.1.1 Vốn và tốc độ tăng trưởng tài sản
Qui mô vốn còn nhỏ so với các NH trong khu vực:
Mặc dù tổng tài sản tăng trưởng nhanh, qui mô của các NH Việt Nam vẫn nhỏ hơn
nhiều so với các nước trong khu vực. Theo số liệu của Bloomberg, trung bình 2 chỉ tiêu tổng
tài sản và vốn chủ sở hữu của 8 NH niêm yết tại Việt Nam là 166.844 tỷ đồng và 12.574 tỷ
đồng, thấp hơn mức trung bình của các nước trong khu vực như Trung Quốc, Malaysia, Ấn
Độ, Thái Lan và Indonesia. Với qui mô tương đối nhỏ, các NH Việt Nam đều chịu áp lực
phải tăng cường qui mô nguồn vốn nhằm đảm bảo các chỉ số an toàn hoạt động. NHNN
hiện tại đang sử dụng hai công cụ chính để nâng cao khả năng an toàn vốn của các NHTM:
(1) quy định về mức vốn điều lệ tối thiểu và (2) quy định về hệ số an toàn vốn tối thiểu
(CAR).
Thực hiện: Nhóm 3 – Cao học TCDN Đêm 5 Trang 13
Tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Đến cuối 2010 vẫn có 10 NH chưa đáp ứng yêu cầu về vốn điều lệ tối thiểu. Tính đến
thời điểm 31/12/2010, mới chỉ có 28/38 NHTMCP có vốn điều lệ từ 3.000 tỷ đồng trở lên.
10 ngân hàng còn lại có vốn điều lệ từ 1.500-2.800 tỷ đồng và không thể tăng vốn đúng thời
hạn do thị trường chứng khoán diễn biến không thuận lợi. Chính vì vậy, NHNN đã phải gia
hạn cho việc tăng vốn đến hết 31/12/2011.
Tính đến thời điểm tháng 8/2011, đã có thêm 4 NH hoàn thành việc tăng vốn là NH Đệ
Nhất (FCB), NH Nam Á (NAB), NH Phương Tây (WEB) và NH Nam Việt (NVB). Tổng
cộng số vốn tối thiểu mà 6 NH còn lại phải huy động đến hết năm 2011 là 5.310 tỷ đồng.
Như vậy, trong trường hợp xấu nhất khi các NH này không hoàn thành được việc tăng vốn
trong năm nay, thì thanh khoản của hệ thống NH hầu như sẽ không bị ảnh hưởng.
Hầu hết các NH đều đáp ứng được tỷ lệ CAR tối thiểu 9% tại thời điểm cuối 2010.
Tính đến cuối 2010, hầu hết các NHTM đã đáp ứng được yêu cầu về hệ số CAR tối thiểu
9%. Một số ít các NH chưa đáp ứng được bao gồm VBARD (6,1%), MSB (8,1%), CTG
(8,6%) và NVB (8,9%), trong đó các NH CTG và NVB đều đã tiến hành tăng vốn trong thời
gian vừa qua, do đó chúng tôi cho rằng tỷ lệ CAR của các NH này đã đạt mức 9% tại thời
điểm hiện tại. MSB cũng đang tiến hành tăng vốn từ 5.000 tỷ lên 7.000 tỷ đồng để đáp ứng
Thực hiện: Nhóm 3 – Cao học TCDN Đêm 5 Trang 16
Tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
đầu về doanh số thẻ các loại, chiếm 23,4% tổng doanh số thẻ của ngành. VBARD vươn lên
vị trí thứ 2 với gần 20% thị phần, doanh số tăng gấp 3 lần so với 2009. Tiếp theo là CTG và
SEAB chiếm lần lượt 17% và 16% thị phần
Biểu đồ 2.2: Doanh số và thị phần thẻ năm 2011
Nguồn: Hiệp hội thẻ Việt Nam
2.1.2 Một số đặc điểm hoạt động và chỉ tiêu kinh doanh của ngành
Tăng trưởng hoạt động tín dụng và huy động vốn:
Thứ nhất, tăng trưởng tín dụng và huy động ở Việt Nam luôn ở mức cao trên 20%.
Với đặc trưng của một nền kinh tế mới nổi, tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động của
Việt Nam luôn ở mức cao trên 20% trong suốt giai đoạn 2000 – 2010. Mức tăng trung bình
cho tín dụng và huy động trong giai đoạn này lần lượt là 31,55% và 28,91%, trong đó đỉnh
điểm là năm 2007 với 53,89% và 47,64%. Tốc độ cung tiền M2 trong giai đoạn 2005 – 2010
cũng đạt trung bình 29,19%
1
.
So với các nước trong khu vực, tăng trưởng tín dụng và M2 của Việt Nam cao hơn
nhiều so với Indonesia (14,5% và 12,4%) và Thái Lan (7% và 4%). Đây là một trong những
nhân tố đóng góp vào sự phát triển nhanh của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn này, thể
hiện qua tốc độ tăng GDP trung bình là 7,15%, đạt đỉnh 8,5% vào năm 2007. Tuy nhiên,
tăng trưởng tín dụng nóng cũng chính là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng bong bóng tài
sản mà nhiều nước mới nổi như Việt Nam mắc phải khi nguồn vốn chảy vào các lĩnh vực có
rủi ro cao như bất động sản.
Biểu đồ 2.3: Tăng trưởng tín dụng và huy động giai đoạn 2000 – 2010
1 Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Thực hiện: Nhóm 3 – Cao học TCDN Đêm 5 Trang 17
Tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Nguồn: Báo cáo ngành ngân hàng, VCBS
Thứ hai, tăng trưởng tín dụng luôn cao hơn tăng trưởng huy động và GDP. Tỷ lệ
Bắt đầu từ năm 2008, thị trường tài chính thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng bắt
đầu gặp khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, các NHTM
Việt Nam vẫn duy trì được mức tăng trưởng lợi nhuận tốt trong giai đoạn này với trung bình
tăng trưởng của 8 NHTM hàng đầu là 46% trong năm 2008, 59% trong năm 2009 và 31%
trong 2010. Trong đó các ngân hàng nổi bật với mức tăng trưởng tốt như EIB, MB, TCB và
MSB đều là đại diện của khối NHTMCP. CTG là đại diện duy nhất của khối NHTMQD có
được mức tăng trưởng nổi bật trong giai đoạn này. Kết quả kinh doanh của khối NH nước
ngoài không được công bố rộng rãi, tuy nhiên đại diện của khối này là HSBC Việt Nam đã
đạt mức tăng trưởng 40% lợi nhuận sau thuế trong năm 2010. Năm 2011 tiếp tục là một năm
khó khăn với ngành ngân hàng với những diễn biến kinh tế vĩ mô phức tạp trong 8 tháng
đầu năm. Lợi nhuận của các NH được dự báo sẽ tăng trưởng chậm hơn so với 2010, tuy
nhiên mức trung bình vẫn được duy trì trên 20%.
Tuy nhiên, hiện nay cơ cấu thu nhập chưa đa dạng, chủ yếu phụ thuộc vào hoạt động
tín dụng. Nguồn thu nhập từ hoạt động tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu
nhập của hầu hết các NHTM trong nước. Năm 2010, tỷ trọng trung bình thu nhập lãi trong
tổng thu nhập của 10 NH hàng đầu Việt Nam là 76,8%. Đối với một số NH có qui mô nhỏ
hơn, tỷ trọng này thậm chí còn lên tới hơn 90% (Liên Việt: 92,2%, Đại Dương: 103,5%,
Nam Việt: 93,1%, Phát triển Mê Kông: 98,8%). Điều này cho thấy cơ cấu thu nhập của hệ
thống NH Việt Nam chưa có sự đa dạng, phụ thuộc nhiều vào hoạt động tín dụng, kéo theo
rủi ro về chất lượng tín dụng. Đồng thời, khi tăng trưởng tín dụng bị hạn chế như tình hình
hiện tại, thu nhập của các NH sẽ bị ảnh hưởng nặng nề.
Chất lượng tín dụng và tình hình nợ xấu:
Do ảnh hưởng của việc tăng trưởng tín dụng cao, nợ xấu luôn là một trong những vấn
đề nổi cộm của ngành Ngân hàng Việt Nam từ trước tới nay, trong đó có hai vấn đề chính
cần chú ý: (1) sự khác biệt trong cách phân loại nợ theo chuẩn Việt Nam (VAS) và theo
chuẩn quốc tế (IAS) và (2) sự gia tăng nợ xấu của toàn hệ thống trong thời gian gần đây.
Thứ nhất, có sự khác biệt tương đối lớn trong phân loại nợ giữa VAS và IAS: Theo
số liệu công bố của NHNN, tỷ lệ nợ xấu năm 2010 của toàn hệ thống đang ở mức 3%, tăng
so với mức 2,5% vào cuối năm 2009. Con số này chưa tính đến các khoản nợ xấu của
Vinashin, chiếm khoảng 0,7% tổng dư nợ toàn ngành. Theo đánh giá của NHNN thì con số
quản lý tín dụng không hiệu quả. Tăng trưởng tín dụng nóng, cùng với chất lượng quản lý
tín dụng không tốt của các NHTM Việt Nam, là nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng của
nợ xấu trong thời gian qua. Mặc dù ý thức được điều này, NHNN đã yêu cầu các NHTM
hạn chế tăng trưởng tín dụng quá cao, nhưng trong thực thế tốc độ tăng trưởng tín dụng vẫn
luôn ở mức trên 20% trong 10 năm gần đây. Đặc biệt, tăng trưởng tín dụng lên tới 53,89%
trong năm 2007, 37,73% trong 2009 trước khi hạ nhiệt xuống 27,65% trong 2010. Việc cho
vay ồ ạt trong những năm trước, cộng thêm với sự việc của Vinashin gần đây, đã để lại
nhiều hệ lụy, trong đó có việc gia tăng nợ xấu trong thời gian qua.
Thực hiện: Nhóm 3 – Cao học TCDN Đêm 5 Trang 21
Tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Biểu đồ 2.5: Tỷ lệ nợ xấu trong các ngân hàng lớn năm 2010 và
2011.
Tỷ lệ nợ xấu cũng như nợ nhóm 2 của các ngân hàng thương mại năm 2011 đã tăng mạnh so
với cùng kỳ năm trước. Nợ xấu chung của hệ thống ngân hàng năm 2011 ở mức 3,3% tổng
dư nợ, cao hơn so với mức 2,14% vào cuối năm 2010.
Theo số liệu của 8 ngân hàng thương mại đã công bố báo cáo tài chính riêng lẻ quý 4/2011
thì chỉ có VCB có tỷ lệ nợ xấu giảm nhẹ, còn lại đều có tỷ lệ nợ xấu tăng cao. Riêng
Habubank, tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh từ 2,39% năm 2010 lên 4,69% năm 2011. Nợ nhóm 2 của
các ngân hàng đều có sự tăng nhanh cả về giá trị tuyệt đối và tỷ lệ tương đối. Các nhà băng
có tỷ lệ này tăng nhanh nhất là HBB từ 9,86% năm 2010 lên 13,34%, VCB tăng từ 5,27 lên
8%, MBB tăng từ 0,6 lên 1,76%.
Biểu đồ 2.6: Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng giai đoạn 2002 - 2011
Thực hiện: Nhóm 3 – Cao học TCDN Đêm 5 Trang 22
Tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam
2.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CỦA HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY
2.2.1 Một số thành tựu của hệ thống NHTM Việt Nam trong thời gian qua
Trong thời gian qua, hệ thống ngân hàng đã cung cấp thêm một lượng vốn khá lớn cho
nền kinh tế, chiếm khoảng 16-18% GDP hàng năm và gần bằng 50% tổng vốn đầu tư toàn
Để khắc phục vấn đề thiếu thanh khoản, các ngân hàng này đã sử dụng công cụ lãi suất cao
để cạnh tranh về huy động vốn trên thị trường 1; vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi
suất có khi lên tới 30% - 40%/năm . Những động thái này đã làm cho thị trường tiền tệ luôn
luôn bất ổn, ảnh hưởng không nhỏ đến điều hành chính sách tiền tệ của NHNN. Gần đây,
một số cơ chế, chính sách của NHNN đã được điều chỉnh theo hướng tăng cường quản trị
rủi ro, điển hình là Thông tư 13, 19 (sửa đổi), Thông tư 22 qui định các tỷ lệ an toàn đối với
hoạt động của các TCTD, hướng tới một cơ chế giám sát theo mức độ rủi ro. Tuy nhiên, hệ
thống giám sát trên cơ sở rủi ro vẫn chưa thể vận hành trong ngắn hạn, vì thế các rủi ro: tín
dụng, thanh khoản, lãi suất, tỷ giá…đều xảy ra ở tất cả các ngân hàng với các mức độ khác
nhau. Chính điều này đã làm cho lòng tin của người dân, các nhà đầu tư vào hệ thống ngân
hàng giảm sút.
Về quản trị ngân hàng
Với nhiều NHTM, nguồn vốn huy động ngắn hạn chiếm tới 70 – 80% tổng nguồn,
thậm chí đối với một số ngân hàng, tỷ trọng này còn cao hơn, trong khi tỷ trong cho vay
trung dài hạn không nhỏ . Với độ vênh lớn về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ, thì vấn đề
thiếu thanh khoản, tiềm ẩn rủi ro thanh toán là lớn. Mặt khác, do áp lực tăng tổng tài sản ,
nhiều ngân hàng bằng mọi cách để có vốn, cách mà các NHTM sử dụng chủ yếu là dùng lãi
suất huy động cao, tất yếu lãi suất cho vay cũng rất cao, có thời điểm LSCV lên tới
25%/năm. Lãi suất cho vay càng cao, thì rủi ro từ phía khách hàng không trả được nợ khi
đến hạn sẽ càng lớn, nợ xấu của các ngân hàng tăng mạnh là điều dễ hiểu. Hiện nay, tỷ lệ nợ
xấu là 3,5%, trong đó đáng lo ngại là nợ nhóm 5 có xu hướng tăng nhanh từ đầu quí 3 năm
2011 đến nay . Vì vậy nếu không có những biện pháp hữu hiệu để mỗi ngân hàng tái cơ cấu
lại vốn của mình, thì nguy cơ bất ổn sẽ kéo dài, việc đổ vỡ là khó tránh khỏi.
Vài năm gần đây, chính sách lãi suất giữa ngoại tệ và nội tệ VND có độ doãng lớn, lãi
suất cho vay ngoại tệ thấp (5-7%/năm), lãi suất cho vay VND rất cao (20%-25%/năm), ngân
hàng nhanh chóng chuyển sang cho vay bằng ngoại tệ, làm cho tăng trưởng tín dụng ngoại
tệ tăng cao . Thực trạng này không chỉ làm căng thẳng thêm cung cầu ngoại tệ, tiềm ẩn rủi
ro tỷ giá cho các ngân hàng, khách hàng, mà còn làm tăng tình trạng đola hóa nền kinh tế.
Về chất lượng nguồn nhân lực
Thực hiện: Nhóm 3 – Cao học TCDN Đêm 5 Trang 24
ứng cho doanh nghiệp và dân cư, mở rộng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt và
thanh toán qua ngân hàng.
Tuy nhiên, không phải ngân hàng nào cũng có được một nền tảng công nghệ hiện đại đáp
ứng được các dịch vụ giá trị gia tăng, đặc biệt là các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ
chưa có đủ kinh nghiệm và vốn để triển khai đầu tư cho công nghệ.
Thực hiện: Nhóm 3 – Cao học TCDN Đêm 5 Trang 25