LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của nhóm
chúng tôi.
Các kết quả, kết luận trong đề tài nghiên cứu là trung thực, các số liệu
và tài liệu tham khảo có nguồn gốc rõ ràng.
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2013
Nhóm tác giả nghiên cứu
Nguyễn Thị Hiền
Phạm Thị Thanh Hiền
Dương Ngọc Diệp
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ABD Ngân hàng phát triển Châu Á
BHXH Bảo hiểm xã hội
BMS Hệ thống quản lý nợ trong nước
BTC Bộ Tài chính
CCTM Cán cân thương mại
CCTT Cán cân thanh toán
CP Chính phủ
CSTK Chính sách tài khóa
CSTT Chính sách tiền tệ
DMFAS Hệ thống quản lý nợ nước ngoài
DMO Cơ quan quản lý nợ công
DMS Hệ thống quản lý nợ
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
EU Liên minh Châu Âu
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FILP Chương trình đầu tư tài khóa và vay mượn
GDCK Giao dịch chứng khoán
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
HĐND Hội đồng nhân dân
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Trong quá khứ, khủng hoảng nợ công cũng đã được biết đến vào đầu
thập kỷ 80 của Thế kỷ XX. Năm 1982, Mê-hi-cô là quốc gia đầu tiên tuyên bố
không trả được nợ vay IMF. Đến tháng 10/1983,đã có 27 quốc gia với tổng nợ
lên tới 240 tỷ USD đã tuyên bố hoặc chuẩn bị tuyên bố hoãn nợ. Như vậy vấn
đề khủng hoảng nợ công đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử chứ không phải mới
xuất hiện gần đây. Mỗi giây qua đi, mỗi quốc gia trên thế giới nhận thêm nợ
mới, kéo tổng nợ toàn cầu tăng thêm từ vài trăm nghìn tới vài triệu USD.
Ta thấy, nợ công là một phần quan trọng và không thể thiếu trong tài
chính mỗi quốc gia. Từ những nước nghèo nhất ở Châu Phi đến những quốc
gia đang phát triển như ở Việt Nam, Campuchia hay với những cường quốc
giàu có với trình độ phát triển cao như ở Mỹ, Nhật, EU thì đều phải đi vay để
phục vụ cho cácnhu cầu chi tiêu và sử dụng của Chính phủ nhằm đạt những
mục tiêu khác nhau. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ
và có nhiều chuyển biến hết sức phức tạp, khó lường, điển hình là cuộc khủng
hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra từ cuối năm 2008, đầu năm 2009, khủng hoảng
nợ công nghiêm trọng đang lan ra một số nước Châu Âu, nợ công và quản lý
nợ công đã và đang trở thành vấn đề nóng được các nhà lãnh đạo các quốc gia
trên thế giới quan tâm. Nợ công cần phải được sử dụng hợp lí, hiệu quả và
quản lý tốt, nếu không thì khủng hoảng nợ công có thể xảy ra với bất cứ quốc
gia nào, tại bất cứ thời điểm nào và để lại hậu quả hết sức nghiêm trọng. Đức
Khổng Tử có nói: “Làm ra hai mà tiêu một thì thịnh, làm ra một mà tiêu một
thì hòa, làm ra một mà tiêu hai thì không tránh khỏi lụi bại”…Điều này suy
cùng, vừa đúng cho cá thể lại vừa đúng cho cả một quốc gia.
Nước ta đang tích cực thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế quốc dân thì
1
vấn đề nợ công và quản lý nợ công càng cần được quan tâm, xử lý và giải
quyết một cách kịp thời và phù hợp, vì tương lai phát triển bền vững nền kinh
- Nguyễn Thị Vân Anh (2008) trong công trình nghiên cứu “Hoàn thiện
quản lý nợ Chính phủ của Bộ tài chính” đã làm sáng tỏ về nội dung về nợ
Chính phủ và quản lý nợ Chính phủ.
- Với đề tài “Vấn đề nợ công tại các nước phát triển và tác động đến
nền kinh tế Việt Nam” trong công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ, chủ biên
là TS. Nguyễn Đức Độ, TS. Nguyễn Thị Minh Tâm và nhóm tác giả (2010),
đã làm rõ nội dung về nợ công cũng như chỉ rõ tác động của nợ công đến các
biến số kinh tế vĩ mô và ảnh hưởng khủng hoảng nợ công của các nước phát
triển đến nền kinh tế Việt Nam.
Các đề tài trên đây đều đã đạt được một số thành tựu và mục tiêu
nghiên cứu khác nhau nhưng đề tài “Tăng cường quản lý nợ công nhằm
phát triển bền vững hệ thống tài chính ở Việt Nam” được nghiên cứu trong
bối cảnh Việt Nam đang tiến hành tái cấu trúc hệ thống tài chính, trong khi đó
khủng hoảng nợ công của các nước trên thế giới( Hy lạp, Síp) đã ảnh hưởng
không chỉ đến hệ thống tài chính quốc gia mà liên quan đến nhiều nước khác
trên thế giới. Từ đó, trên cơ sở mang tính khái quát, tổng hợp và xây dựng cơ
chế quản lý nợ công cho Việt Nam trong điều hiện hiện nay nhằm dần tiến tới
cơ chế quản lý nợ công chủ động, đạt được mục tiêu không chỉ phát triển
nóng nền kinh tế mà phải phát triển bền vững nền kinh tế.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lí luận về nợ công, đặc biệt tập
trung nghiên cứu nội dung cơ bản của cơ chế quản lý nợ công. Phân tích,
đánh giá tình hình nợ công của Việt Nam, qua đó nhằm mục đích đánh giá
3
thực trạng về cơ chế quản lý nợ công của Việt Nam.
- Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nợ công của một số nước trên thế
giới, từ đó đề xuất các giải pháp mang tính chiến lược và giải pháp cụ thể,
đồng thời nêu kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý nợ công nhằm phát
triển bền vững hệ thống tài chính ở Việt Nam.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
cấp được thu thập thông qua việc phỏng vấn chuyên gia về lĩnh vực tài chính,
tiền tệ, ngân hàng. Các dữ liệu thứ cấp bao gồm các văn bản chế độ ngành tài
chính, tài liệu hội thảo, khóa học đào tạo. Nguồn số liệu được sử dụng đảm
bảo độ tin cậy và phù hợp với phương pháp mà đề tài nghiên cứu sử dụng.
6. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài
nghiên cứu
được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nợ công.
Chương 2: Nợ công nhằm phát triển hệ thống tài chính.
Chương 3: Thực trạng quản lý nợ công ở Việt Nam.
Chương 4: Giải pháp tăng cường quản lý nợ công nhằm phát triển bền
vững hệ thống tài chính ở Việt Nam.
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NỢ CÔNG
1.1. Khái quát về nợ công của quốc gia
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm
1.1.1.1.Khái niệm
Theo cách tiếp cận của Ngân hàng thế giới WB và Quỹ tiền tệ quốc tế
IMF, nợ công được định nghĩa là “các nghĩa vụ nợ của khu vực công” bao
gồm nợ của khu vực công cùng với nợ của khu vực tư nhân được khu vực
công bảo lãnh. Khu vực công bao gồm các thể chế sau:
(a) Chính phủ trung ương và các bộ, ban ngành;
(b) Các cơ quan chính trị cấp dưới, như tỉnh, huyện và thành phố;
(c) Các ngân hàng trung ương;
(d) Các thể chế tự quản (như các doanh nghiệp tài chính và phi tài
chính, các ngân hàng thương mại và ngân hàng phát triển, các ngành dịch vụ
xã hội như đường sắt, doanh nghiệp nhà nước …), trong đó:
• Ngân sách của thể chế đó phải được Chính phủ phê duyệt;
nhận.
1.1.1.2. Đặc điểm
Tuy có nhiều cách tiếp cận rộng hẹp khác nhau về nợ công, nhưng về
cơ bản, nợ công có những đặc trưng sau đây:
- Nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước
Khác với các khoản nợ thông thường, nợ công được xác định là một
khoản nợ mà Nhà nước (bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) có
trách nhiệm trả khoản nợ ấy. Trách nhiệm trả nợ của Nhà nước được thể hiện
dưới hai góc độ trực tiếp và gián tiếp. Trực tiếp được hiểu là cơ quan nhà
nước có thẩm quyền sẽ là người vay và do đó, cơ quan nhà nước ấy sẽ chịu
trách nhiệm trả nợ khoản vay (ví dụ: Chính phủ Việt Nam hoặc chính quyền
7
địa phương). Gián tiếp là trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền
đứng ra bảo lãnh để một chủ thể trong nước vay nợ, trong trường hợp bên vay
không trả được nợ thì trách nhiệm trả nợ sẽ thuộc về cơ quan đứng ra bảo
lãnh (ví dụ: Chính phủ bảo lãnh để Ngân hàng Phát triển Việt Nam vay vốn
nước ngoài).
- Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền
Việc quản lý nợ công đòi hỏi quy trình chặt chẽ nhằm đảm bảo hai
mục đích: một là, đảm bảo khả năng trả nợ của đơn vị sử dụng vốn vay và cao
hơn nữa là đảm bảo cán cân thanh toán vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia;
hai là, để đạt được những mục tiêu của quá trình sử dụng vốn. Bên cạnh đó,
việc quản lý nợ công một cách chặt chẽ còn có ý nghĩa quan trọng về mặt
chính trị và xã hội. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nguyên tắc quản
lý nợ công là Nhà nước quản lý thống nhất, toàn diện nợ công từ việc huy
động, phân bổ, sử dụng vốn vay đến việc trả nợ để đảm bảo hai mục tiêu cơ
bản như đã nêu trên.
- Mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng nợ công là phát
triển kinh tế – xã hội vì lợi ích chung
Nam với bên nước ngoài.
Nợ công từ công cụ nợ là khoản nợ công xuất phát từ việc cơ quan nhà
nước có thẩm quyền phát hành các công cụ nợ để vay vốn. Các công cụ nợ
này có thời hạn ngắn hoặc dài, thường có tính vô danh và khả năng chuyển
nhượng trên thị trường tài chính.
Theo tính chất ưu đãi của khoản vay làm phát sinh nợ công thì nợ
công có ba loại là nợ công từ vốn vay ODA, nợ công từ vốn vay ưu đãi và nợ
thương mại thông thường.
9
Theo trách nhiệm đối với chủ nợ thì nợ công được phân loại thành
nợ công phải trả và nợ công bảo lãnh. Nợ công phải trả là các khoản nợ mà
Chính phủ, chính quyền địa phương có nghĩa vụ trả nợ. Nợ công bảo lãnh là
khoản nợ mà Chính phủ có trách nhiệm bảo lãnh cho người vay nợ, nếu bên
vay không trả được nợ thì Chính phủ sẽ có nghĩa vụ trả nợ.
Theo cấp quản lý nợ thì nợ công được phân loại thành nợ công của
trung ương và nợ công của chính quyền địa phương. Nợ công của trung ương
là các khoản nợ của Chính phủ, nợ do Chính phủ bảo lãnh. Nợ công của địa
phương là khoản nợ công mà chính quyền địa phương là bên vay nợ và có
nghĩa vụ trực tiếp trả nợ. Theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm
2002 thì những khoản vay nợ của chính quyền địa phương được coi là nguồn
thu ngân sách và được đưa vào cân đối, nên về bản chất nợ công của địa
phương được Chính phủ đảm bảo chi trả thông qua khả năng bổ sung từ ngân
sách trung ương.
1.1.3. Chỉ tiêu đo lường nợ công của quốc gia
Chỉ số nợ công trên GDP
Nợ công trên GDP được đo bằng tỷ số phần trăm giữa tổng nợ công
tích lũy và tổng sản phẩm trong nước hàng năm.
Nợ công trên GDP thể hiện mối tương quan giữa tổng số nợ của khu
vực công cộng với năng lực tạo ra thu nhập phải chịu thuế (là nguồn dùng để
thanh toán nợ công). Do phụ thuộc vào thu nhập phải chịu thuế nên tỷ lệ nợ
Trong các chỉ tiêu đánh giá thì chỉ tiêu tổng nợ trên GDP có thế là chỉ số quan
trọng nhất vì nó thể hiện khả năng trảnợ lâu dài của nền kinh tế còn chỉ số nợ
trên giá trị xuất nhập khẩu phản ánh được khả năng tạo nguồn trả nợ trong
ngắn hạn. Chỉ số trả nợ hàng năm trên xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ có thể
thấp trong khi chỉ số nợ trên xuất khẩu cao có thể xảy ra trong trường hợp các
11
khoản mới vay, chưa đến hạn trả lãi hay ngược lại khi mà phải trả nợ gốc và
lãi cho các khoản vay cũ. Vì vậy khi dùng các chỉ số để đánh giá mức độ nợ
nần của một nước không nên chỉ dùng duy nhất một chỉ số mà phải kết hợp
các chỉ số với nhau cùng với tìm hiểu nguồn gốc các khoản vay để có được
những kết luận chính xác.
1.2. Tăng cường quản lý nợ công
1.2.1. Sự cần thiết tăng cường quản lý nợ công
Về bản chất, khi Nhà nước mong muốn hoặc bắt buộc phải chi tiêu
vượt quá khả năng thu của mình ( thu thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác)
mà không có khả năng hoàn trả thì buộc Nhà nước sẽ phải đi vay vốn và điều
đó làm phát sinh tình trạng nợ công. Như vậy, nợ công chính là hệ quả của
việc Nhà nước vay vốn và có trách nhiệm phải hoàn trả.
Với hầu hết các quốc gia có nền kinh tế thị trường, đa phần đều tiến
hành hoạt động vay nợ. Nợ công như bất kỳ một yếu tố kinh tế nào đều có
tính tích cực và tính tiêu cực. Quản lý nợ công sao cho hiệu quả luôn là một
bài toán khó, đặt ra cho chính phủ của bất kỳ quốc gia nào. Việc quản lý nợ
công hiệu quả sẽ góp phần hạn chế được những tiêu cực, yếu kém; phát huy
những ưu điểm vượt trội, góp phần phát triển kinh tế quốc gia.
Những tác động tích cực chủ yếu của nợ công bao gồm:
- Nợ công là nhân tố góp phần làm gia tăng nguồn lực cho Nhà nước,
từ đó làm tăng cường nguồn vốn phục vụ cho việc phát triển cơ sở hạ tầng và
tăng khả năng đầu tư đồng bộ của Nhà nước. Hiện nay, Việt Nam đang trong
giai đoạn tăng tốc phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, trong đó cơ sở hạ tầng là yếu tố có tính chất quyết định. Muốn phát
luật về quản lý nợ công.
Nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng của Nhà nước trong quản lý nhà nước
về nợ công là xây dựng được một khuôn khổ pháp lý và thể chế cho quản lý
nợ công, trong đó có sự phân định rõ ràng trách nhiệm và quyền hạn của các
cơ quan chức năng được ủy quyền thay mặt chính phủ trong việc vay, trả nợ,
phát hành bảo lãnh hay thực hiện các giao dịch tài chính như cho vay lại.
Theo quy định của Luật quản lý nợ công thì Bộ Tài chính là cơ quan
chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý nợ công, song, các Bộ, ngành khác
cũng có những trách nhiệm liên quan nhất định, và điều này cũng đã được qui
định rõ trong Luật Quản lý nợ công. Cùng với Bộ Tài chính, NHNN có vai trò
quan trọng trong việc nâng cao tính hiệu quả của quản lý nợ công, từ khâu
xây dựng chiến lược quản lý nợ công đến khâu thực hiện chiến lược. NHNN
tham gia ý kiến với Bộ Tài chính về những vấn đề liên quan đến biến động thị
trường tiền tệ, như mức lãi suất, tình hình thanh khoản, sự thay đổi về cung
tiền; đưa ra quan điểm trong việc xây dựng kế hoạch, chiến lược quản lý nợ
công về cơ cấu nợ, cơ cấu các loại chứng khoán, công cụ vay nợ, khối lượng
và lãi suất, nguồn vay nợ; thực hiện chức năng đại lý phát hành tín phiếu kho
bạc và nhận tiền gửi kho bạc; tạo tính thanh khoản cho thị trường trái phiếu
Chính phủ; bù đắp nguồn vốn thiếu hụt tạm thời cho thâm hụt ngân sách trong
khuôn khổ CSTT cho phép.
• Xây dựng, ban hành chỉ tiêu an toàn về nợ, mục tiêu, định hướng huy
động, sử dụng vốn vay và quản lý nợ công trong từng giai đoạn; hệ thống các
chỉ tiêu giám sát nợ chính phủ, nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia và kế
14
hoạch vay, trả nợ chi tiết hàng năm.
Việc ban hành các chỉ tiêu an toàn về nợ cũng như các chỉ tiêu giám
sát nợ là công cụ quan trọng để đánh giá tình hình vay và trả nợ của quốc gia
cũng như có những cảnh báo khi mà nợ vượt qua ngưỡng “an toàn” từ đó thực
thi các chính sách kịp thời để điều chỉnh và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu
cực khi mà khủng hoảng nợ xảy ra.
không bị tình trạng tích tụ các khoản nợ chậm trả, đồng thời vẫn cho phép nền
kinh tế đạt được một tỷ lệ tăng trưởng chấp nhận được”.
Để việc vay nợ không dẫn đến những xáo trộn vĩ mô và có thể đảm
bảo trả được nợ hay nói cách khác chính là đảm bảo tính bền vững của nợ
công trong dài hạn, cần phải xem xét ba khía cạnh:
(1) Năng lực trả nợ hiện có của nền kinh tế, bao gồm: mức thu nhập
chung của nền kinh tế, thu nhập bằng ngoại tệ và thu ngân sách;
Năng lực trả nợ hiện có của nền kinh tế, thể hiện bằng thu nhập quốc
dân và thu nhập bằng ngoại tệ, triển vọng tăng trưởng GDP và xuất khẩu, là
kết quả của chính sách kinh tế vĩ mô trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Năng lực trả nợ là yếu tố hết sức quan trọng quyết định tính bền vững nợ
trong dài hạn. Năng lực trả nợ lớn cho phép quốc gia có thể giữ ổn định nền
kinh tế với mức vay nợ nước ngoài lớn tương ứng.
(2) Gánh nặng nợ công tích lũy của quốc gia tại thời điểm xem xét và
kì hạn phải trả;
Mức nợ tích lũy tại thời điểm xem xét là kết quả của các chính sách
vay nợ trong quá khứ. Đây cũng là xuất phát điểm để xem xét trong dài hạn
gánh nặng nợ của quốc gia có nguy cơ làm mất ổn định nền kinh tế hay
không. Tác động của mức nợ tích lũy ở chỗ để trả vốn gốc và lãi nợ nhà nước
16
sẽ phải thu thuế. Mức nợ tích lũy lớn thì thuế thu sẽ phải lớn như vậy không
khuyến khích đầu tư. Hơn nữa, khi nguồn lực phải mang trả nợ lớn thì sẽ phải
cắt nguồn lực cho phát triển xã hội, tạo việc làm và xóa đói giảm nghèo.
(3) Tốc độ tăng của nợ công trong những năm sắp tới bao gồm cả cơ
cấu nợ và kỳ hạn nợ.
Tốc độ tăng của nợ công trong thời gian tới liên quan đến chính sách
vay và trả nợ trong hiện tại và tương lai. Giám sát và kiểm soát tốc độ tăng
của nợ công là khía cạnh không thể thiếu để giữ ổn định vĩ mô trong dài hạn.
Để theo dõi và đảm bảo được tính bền vững của nợ công, cần nắm bắt
và phân tích được các cân đối lớn của nền kinh tế và tình hình nợ công.
này mở cửa thị trường dịch vụ, là thị trường mà các công ty xuyên quốc gia
có lợi thế cạnh tranh. Điều kiện thương mại xấu đi có nghĩa là năng lực trả nợ
của quốc gia trong tương lai sẽ kém đi.
- Lạm phát: tỷ lệ lạm phát nhanh cùng với tỷ giá hối đoái thực tế là
những dấu hiệu trước khủng hoảng.
- Thâm hụt tài khóa và tín dụng trong khu vực công là những chỉ báo
của vấn đề mất cân đối trong nước.
Các chỉ số kinh tế vĩ mô có thể cho biết những dấu hiệu ban đầu của sự
mất cân đối trong các lĩnh vực ngân hàng, tiền tệ và nợ công. Tuy nhiên
chúng chưa phải là những điều kiện đủ để đưa ra quyết định về tình hình nợ
công. Để theo dõi và đánh giá tình hình mức nợ tích lũy và tốc độ tăng trưởng
nợ, người ta sử dụng hệ thống các chỉ số nợ công.
• Đánh giá mức nợ và tốc độ tăng nợ công thông qua hệ thống chỉ số
nợ công:
Việc đánh giá tình hình nợ công của một đất nước là vấn đề hết sức
18
quan trọng để có những chính sách, chiến lược vay nợ cho đầu tư hợp lý, đảm
bảo được khả năng trả nợ và hạn chế nguy cơ vỡ nợ.
1.2.3. Các công cụ quản lý nợ công
1.2.3.1. Văn bản pháp luật, chính sách
Quản lý nợ công là việc phân bổ, sử dụng và điều tiết hợp lý các nguồn
vay của chính phủ vào việc chi tiêu, đầu tư để đạt hiệu quả cao nhất, tránh sự
trùng lặp và lãng phí các nguồn vốn vay mượn. Do vậy, các khoản vay này
cần phải được kiểm soát chặt chẽ, công bố công khai một cách cụ thể, minh
bạch và trách nhiệm trong việc sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng vốn vay này.
Để thực hiện được điều đó, cần phải có một hệ thống các văn bản pháp luật,
chính sách, thông tư hướng dẫn việc đầu tư và sử dụng phân bổ các nguồn
vốn; hướng dẫn thẩm định và kiểm toán các dự án trước khi phát hành bảo
lãnh một cách hợp lý, cụ thể.
Trong hệ thống các văn bản pháp luật thì Luật quản lý nợ công là công
Như vậy, Luật quản lý nợ công và các văn bản, chính sách về quản lý
nợ công của Nhà nước đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều
tiết chi tiêu các khoản mục vay nợ của Chính phủ, góp phần nâng cao hiệu
quả sử dụng nợ, quy định rõ trách nhiệm cụ thể, tránh tình trạng tham ô, tham
nhũng lãng phí trong việc sử dụng các khoản nợ của quốc gia.
1.2.3.2. Hệ thống công nghệ thông tin:
Trong thời đại công nghiệp hóa – hiện đại hóa như hiện nay, sự tiến bộ
của công nghệ thông tin đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của nền
kinh tế đất nước. Công nghệ thông tin ảnh hưởng đến việc cung cấp và xử lý
các thông tin về tình hình vay nợ và báo cáo tình hình nợ. Các hoạt động quản
lý nợ cần phải được hỗ trợ bởi một hệ thống thông tin chính xác, đầy đủ và
20