MỤC LỤC
Lời mở đầu 2
Kết luận 21
Tài liệu tham khảo 22
Lời mở đầu
Cho thuê tài chính là một định chế tài chính phi ngân hàng ra đời khá sớm.
Công ty cho thuê tài chính đầu tiên là của Mỹ được thành lập bởi Henry Shofeld
vào năm 1952. Những thành tựu công nghệ đổi mới liên tục khiến cho các doanh
nghiệp có nhu cầu đối với tài sản mới thường xuyên hơn. Đi thuê giúp cho các
doanh nghiệp có được tài sản với những điều khoản có lợi hơn là việc mua thiết bị.
Tuy nhiên đối với thị trường châu Á, châu Phi… nó mới nổi trong những năm
1970 và 1980. Và ở Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ khi công ty cho
thuê tài chính đầu tiên mới chỉ được thành lập vào năm 1996 và hoạt động cho
thuê tài chính cũng đã manh nha ở các ngân hàng hoạt động trước đó nhưng mãi
khi Chính phủ ban hành nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5/2001 thì hoạt động
cho thuê tài chính ở Việt Nam được hình thành và phát triển ngày càng mạnh mẽ.
Để hiểu rõ hơn về hoạt động này được pháp luật Việt Nam quy định như thế nào,
chúng ta cùng tìm hiểu nội dung mà nhóm đã tìm hiểu dưới đây.
Trong quá trình làm không thể không có những thiếu sót. Nhóm chúng tôi rất
mong nhận được sự góp ý của cô và các bạn.
2
Nhóm 9 lớp LW006_112_T03 Pháp luật về hoạt động cho thuê tài
chính
1. Tổng quan về hoạt động cho thuê tài chính:
1.1. Khái niệm và đặc điểm:
1.1.1. Khái niệm cho thuê tài chính:
Theo khoản 1 điều 1của Nghị định 16/2001/NĐ-CP: “Cho thuê tài chính là
hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị,
phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa
bên cho thuê với bên thuê. Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương
tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền
4
Nhóm 9 lớp LW006_112_T03 Pháp luật về hoạt động cho thuê tài
chính
Tóm lại:
Thứ nhất, cho thuê tài chính là phương thức cấp tín dụng mà đối tượng là
một tài sản cụ thể. Khác với các hình thức cấp tín dụng khác mà theo đó, tổ chức
tín dụng chuyển giao một khoản tiền, trong hình thức cấp tín dụng cho thuê tài
chính, tổ chức tín dụng tiến hành cấp tín dụng bằng cách chuyển giao cho khách
hàng (bên thuê) một tài sản cụ thể (máy móc, dây chuyền sản xuất, phương tiện
vận tải hoặc động sản khác) để bên thuê sử dụng trong một thời gian nhất định.
Bên thuê có nghĩa vụ trả toàn bộ tiền thuê theo thoả thuận.
Thứ hai, cho thuê tài chính là hình thức cho thuê mà hầu hết các quyền
năng của chủ sở hữu (bên cho thuê) được chuyển giao cho bên thuê. Khác với các
hình thức thuê tài sản thông thường theo quy định của pháp luật dân sự, trong hoạt
động cho thuê tài chính, bên cho thuê thường chỉ giữ quyền sở hữu “danh nghĩa”
đối với tài sản cho thuê (quyền này cho phép tổ chức tín dụng có thể thu hồi tài sản
cho thuê nếu bên thuê vi phạm hợp đồng), còn những quyền năng cụ thể đối với tài
sản cho thuê được chuyển giao hầu như hoàn toàn cho bên thuê.
1.2. Các bên tham gia quan hệ cho thuê tài chính:
- Bên cho thuê: Bên cho thuê là nhà tài trợ dùng vốn của mình mua các tài
sản thiết bị để xác lập quyền sở hữu của mình đối với các tài sản thiết bị đó rồi
đem cho thuê để người đi thuê sử dụng trong một thời gian nhất định. Bên cho
thuê là các công ty cho thuê tài chính được thành lập và hoạt động theo quy đinh
Pháp luật hiện hành ở Việt Nam. Thời gian hoạt động tối đa của các Công ty cho
thuê tài chính là 50 năm.
- Bên thuê: Bên thuê là các tổ chức, cá nhân, các loại hình doanh nghiệp,
các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế, các nhân, hộ gia đình có xu hướng sử dụng
tài sản thiết bị cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Bên thuê là người có nhu
cầu cần tài trợ dưới hình thức thuê tài chính. Bất kỳ một loại hình doanh nghiệp
nào tồn tại và hoạt động theo pháp luật có đủ điều kiện, có nhu cầu sẽ được công
Theo phương thức này, bên thuê được quyền lựa chọn, thỏa thuận với bên
cung cấp về tài sản. Bên cho thuê chỉ thực hiện việc mua tài sản theo yêu cầu của
bên thuê đã được hai bên thỏa thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính. Trong đó:
- Bên thuê được chủ động lựa chọn máy móc thiết bị, thỏa thuận với nhà
cung cấp bằng hợp đồng hoặc biên bản ghi nhớ.
- Bên thuê – Bên cho thuê ký kết hợp đồng cho thuê tài chính.
- Bên cho thuê – Nhà cung cấp ký kết hợp đồng mua bán máy móc thiết bị
là tài sản thuê theo thỏa thuận phù hợp với yêu cầu của bên thuê quy định tại hợp
đồng cho thuê tài chính.
- Nhà cung cấp giao hàng cho bên thuê, lắp đặt, chạy thử, nghiệm thu tài
sản.
- Bên cho thuê thanh toán tiền mua tài sản thuê cho nhà cung cấp.
- Bên thuê thanh toán tiền thuê tài chính theo hợp đồng cho thuê tài chính.
Đây là phương thức cho thuê tài chính được sử dụng phổ biến nhất nhờ
những ưu điểm sau:
- Bên thuê được quyền lựa chọn nhà cung cấp, trực tiếp thỏa thuận, đàm
phán với nhà cung cấp về những đặc tính của sản phẩm nhằm lựa chọn ra sản
phẩm phù hợp nhất, thỏa mãn tối đa yêu cầu của bên thuê.
- Bên cho thuê không phải mua sản phẩm trước, như vậy sẽ giảm bớt
những chi phí về kho bãi, hao mòn trong quá trình dự trữ và hơn nữa còn giúp
quay vòng vốn nhanh hơn nhờ không phải dự trữ hàng tồn kho.
6
Nhóm 9 lớp LW006_112_T03 Pháp luật về hoạt động cho thuê tài
chính
- Bên thuê trực tiếp nhận sản phẩm từ nhà cung cấp, nhờ vậy, bên cho thuê
giảm được rủi ro xảy ra khi bên thuê từ chối nhận hàng do những sai sót về mặt kỹ
thuật.
- Do việc lắp đặt, bảo dưỡng, sửa chữa sản phẩm đều thuộc trách nhiệm
của nhà cung cấp và bên thuê nên bên cho thuê không phải quan tâm đến tình trạng
hoạt động của tài sản.
1.4. Các điều kiện đảm bảo an toàn trong hoạt động cho thuê tài chính:
Theo điều 130 Luật các tổ chức tín dụng 2010 và Điều 4 Thông tư
13/2010/TT-NHNN:
7
Nhóm 9 lớp LW006_112_T03 Pháp luật về hoạt động cho thuê tài
chính
- Các doanh nghiệp cho thuê tài chính phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối
thiểu 9% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi ro của tổ chức tín dụng (tỷ lệ
an toàn vốn riêng lẻ).
Tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ =
Vốn tự có
Tổng tài sản “Có” rủi ro
- Doanh nghiệp cho thuê tài chính phải thực hiện Báo cáo tài chính hợp
nhất theo quy định của pháp luật, phải đồng thời duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
9% trên cơ sở hợp nhất vốn, tài sản của tổ chức tín dụng và công ty trực thuộc (tỷ
lệ an toàn vốn hợp nhất).
Tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất =
Vốn tự có hợp nhất
Tổng tài sản “Có” rủi ro hợp nhất
Về giới hạn cho thuê tài chính, Điều 128 Luật các tổ chức tín dụng 2010,
Điều 9 Thông tư 13/2010/TT-NHNN có quy định như sau:
- Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng không được vượt
quá 25% vốn tự có của tổ chức tín dụng phi ngân hàng; tổng mức dư nợ cấp tín
dụng đối với một khách hàng và người có liên quan không được vượt quá 50% vốn
tự có của tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
- Tổng dư nợ cho thuê tài chính đối với một khách hàng không được vượt
quá 30% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính.
- Tổng dư nợ cho thuê tài chính đối với một nhóm khách hàng có liên quan
không được vượt quá 50% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính, trong đó mức
cho thuê tài chính đối với một khách hàng không được vượt quá tỷ lệ quy định như
việc xử lý tài sản khi hợp đồng chấm dứt trước thời hạn. Bên cho thuê và bên thuê
không được đơn phương huỷ bỏ hợp đồng, trừ những trường hợp nêu tại điều 27
Nghị định này.”
Nghị định 16 không khẳng định hợp đồng cho thuê tài chính là hợp đồng
kinh tế hay dân sự. Việc xác định một hợp đồng cho thuê tài chính là hợp đồng
kinh tế hay dân sự và vì vậy căn cứ vào chủ thể và mục đích của hợp đồng, nghĩa
là:
- Hợp đồng cho thuê tài chính được coi là hợp đồng kinh tế khi nó được
giao kết giữa Công ty cho thuê tài chính với khách hàng thuê là chủ thể kinh doanh
và việc giao kết hợp đồng cho thuê tài chính là nhằm mục đích kinh doanh;
- Hợp đồng cho thuê tài chính được coi là hợp đồng dân sự khi nó được
giao kết giữa Công ty cho thuê tài chính với khách hàng thuê không phải là chủ thể
kinh doanh hoặc là chủ thể kinh doanh nhưng việc giao kết hợp đồng cho thuê tài
chính không nhằm mục đích kinh doanh.
Vì là một dạng của giao dịch kinh tế (dân sự), nên trước hết hợp đồng cho
thuê tài chính phải tuân thủ các điều kiện chung về một giao dịch có hiệu lực pháp
luật. Điều 131 Bộ Luật Dân sự Việt Nam (có hiệu lực từ 1996) quy định về điều
kiện một giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật. Theo đó, một giao dịch dân sự chỉ
có hiệu lực pháp luật khi: (i) người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
(ii) mục đích và nội dung giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội, (iii)
người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện; (iv) hình thức giao dịch phù hợp
với quy định của pháp luật.
2.1.2. Đặc điểm:
Thứ nhất, hợp đồng cho thuê tài chính là hợp đồng thanh toán trọn vẹn và
không thể hủy ngang vì tài sản thường có giá trị lớn và thời gian khấu hao tài sản
dài. Nếu như một trong các bên đơn phương huỷ bỏ cam kết của mình sẽ gây trở
ngại và khó khăn lớn cho bên kia. Giả sử bên cho thuê đòi thu hồi thiết bị trong khi
9
Nhóm 9 lớp LW006_112_T03 Pháp luật về hoạt động cho thuê tài
chính
những phương thức giao dịch này, việc tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam
với các đối tác nước ngoài sẽ giải quyết được vấn đề máy móc thiết bị, dây chuyền
công nghệ hiện đại cho đất nước và tránh cho Việt Nam không trở thành nơi phế
thải của các máy móc thiết bị sau thời gian sử dụng nhất định.
- Hợp đồng cho thuê tài chính có sự tham gia của 3 bên: Bên cho thuê, bên
thuê và nhà cung ứng. Ở đây bên thuê có quyền lựa chọn tài sản với bên cung ứng
phù hợp với yêu cầu của mình. Đây là loại hợp đồng cho thuê tài chính, tương ứng
với hình thức cho thuê tài chính thông thường đã trình bày ở trên, được áp dụng
phổ biến nhất.
Căn cứ và tổng số tiền trong thời hạn cơ bản:
- Hợp đồng cho thuê tài chính hoàn trả toàn bộ: Trong giao dịch này, tổng
số tiền thuê mà bên cho thuê nhận được trong thời hạn cơ bản của hợp đồng đủ bù
10
Nhóm 9 lớp LW006_112_T03 Pháp luật về hoạt động cho thuê tài
chính
đắp toàn bộ chi phí mua sắm tài sản, lãi suất vốn tài trợ, các chi phí quản lý cho
bên thuê. Với phương thức giao dịch này mang lại những tiện tích cho cả hai bên
(cho thuê và đi thuê) nên nó được áp dụng rất phổ biến. Theo thống kê của cơ quan
thuế Hoa Kỳ, số lượng hợp đồng theo phương thức này chiếm 90%. Phương thức
cho thuê tài chính này cũng được áp dụng phổ biến ở Việt Nam.
- Hợp đồng cho thuê tài chính hoàn trả từng phần: Tức là sau khi kết thúc
thời hạn cho thuê, tổng số tiền thu được chưa đù bù đắp chi phí để thu hồi đủ vốn
và đem lại lợi nhuận, người cho thuê cần phải cho thuê tiếp bằng hợp đồng mới.
Với phương thức giao dịch này, đưa ra cho người thuê quyền lựa chọn mua tài sản
thuê hoặc tiếp tục thuê tài sản thêm một thời gian khi kết thúc thời hạn của hợp
đồng. Như vậy, ta có thể rút ra một số đặc trưng của hợp đồng cho thuê tài chính
hoàn trả từng phần như sau:
• Trong thời hạn cơ bản các bên không có quyền huỷ ngang hợp đồng nếu
không có sự nhất trí chung.
• Hết thời hạn cơ bản các bên có quyền tự do lựa chọn tiếp tục thuê tài sản đó
• Hợp đồng bán rồi thuê lại: Các doanh nghiệp có thể bán tài sản của họ cho
các Công ty cho thuê tài chính sau đó thuê lại. Đây là trường hợp mà doanh nghiệp
thiếu vốn lưu động để khai thác tài sản cố định hiện có trong hoạt động sản xuất
kinh doanh song lại không đủ uy tín để vay vốn ngân hàng, trong trường hợp này
họ buộc phải bán một phần tài sản cố định cho ngân hàng hoặc Công ty cho thuê
tài chính, sau đó thuê lại tài sản đó để sử dụng, và như vậy sẽ có nguồn tài chính
để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động. Đặc trưng chủ yếu của loại hợp đồng này là bên
thuê giữ lại quyền sử dụng tài sản và chuyển giao quyền sở hữu pháp lý cho bên
cho thuê, đồng thời nhận tiền bán tài sản, nhưng tài sản đem bán phải còn giá trị sử
dụng hữu ích và giá trị của tài sản đó tuỳ thuộc vào giá cả hợp lý của tài sản đó
trên thị trường tại thời điểm diễn ra hoạt động mua bán.Với đặc thù là các loại hình
doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, phương
thức giao dịch này đáp ứng được nguồn vốn lưu động cho nhiều doanh nghiệp
trong nền kinh tế hiện nay ở Việt Nam khi nguồn vốn kinh doanh còn hạn chế, cơ
chế vay vốn Ngân hàng còn gặp nhiều khó khăn. Phương thức cho thuê này được
ghi nhận trong khoản 3, điều 16, Nghị định 16/2001/NĐ-CP tiếp cận dưới phương
diện bên cho thuê nên sử dụng thuật ngữ "mua và cho thuê lại".
• Hợp đồng cho thuê giáp lưng: Với sự cho phép của người cho thuê, người
thuê có thể cho người khác thuê tiếp. Loại hợp đồng cho thuê này được áp dụng
trong những trường hợp bên thuê thứ hai cần tài sản muốn đi thuê nhưng không
thực hiện trực tiếp từ những người cho thuê chuyên nghiệp - bên Công ty cho thuê
tài chính, do hoạt động yếu kém, do không đảm bảo uy tín hoặc đơn giản chỉ vì
doanh nghiệp đó chưa được người cho thuê biết đến. Ví dụ: Công ty cho thuê tài
chính nước ngoài thường chỉ chấp nhận tài trợ cho những Công ty lớn của Việt
Nam (bên thứ nhất). Hình thức cho thuê này cũng có thể áp dụng trong trường hợp
bên thuê thứ nhất khi đã thực hiện một phần hợp đồng, không còn nhu cầu thuê, do
đó họ phải tìm đến bên thuê thứ hai để chuyển giao hợp đồng với sự chấp thuận
của người cho thuê. Phương thức này giúp bên thuê thứ nhất không bỏ phí tài sản
thuê, đồng thời có thể kiếm lời từ bên thuê thứ hai. Bù lại bên đi thuê thứ nhất vẫn
phải liên đới chịu trách nhiệm đối với những rủi ro thiệt hại liên quan đến tài sản
tài chính cho một Công ty cho thuê tài chính khác. Trong trường hợp này, bên cho
thuê chỉ cần thông báo trước bằng văn bản cho bên thuê.
• Yêu cầu bên thuê đặt tiền ký cược hoặc có người bảo lãnh thực hiện hợp
đồng cho thuê tài chính nếu thấy cần thiết.
• Giảm tiền thuê, gia hạn thời hạn trả tiền thuê, bán tài sản cho thuê theo quy
định của Ngân hàng Nhà nước.
• Yêu cầu bên thuê bồi thường thiệt hại khi bên thuê vi phạm hợp đồng cho
thuê tài chính (các vi phạm này có thể gồm: không thực hiện nghĩa vụ bảo quản,
sửa chữa, thanh toán tiền bảo hiểm tài sản thuê trong thời hạn cho thuê. Bên cho
thuê có quyền thu hồi tài sản thuê và yêu cầu bên thuê thanh toán ngay toàn bộ số
tiền thuê khi vi phạm các điều khoản trong hợp đồng thuê).
• Được quyền sở hữu và đính ký hiệu sở hữu trên tài sản thuê trong suốt thời
hạn thuê;
• Có quyền yêu cầu bên thuê bồi thường mọi thiệt hại do không thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ bảo quản, sửa chữa, thanh toán tiền bảo hiểm tài sản thuê trong thời
hạn cho thuê.
- Nghĩa vụ của bên cho thuê:
• Ký hợp đồng mua tài sản với bên cung ứng theo các điều kiện đã được thoả
thuận giữa bên thuê và nhà sản xuất (hoặc bên cung cấp thiết bị), hoàn tất cả thủ
tục nhập khẩu tài sản, thanh toán ngay toàn bộ tiền mua tài sản cho thuê. Bên cho
thuê không chịu trách nhiệm về việc tài sản cho thuê không được giao hoặc giao
không đúng với các điều kiện do bên thuê thoả thuận với nhà sản xuất (hoặc nhà
cung cấp thiết bị).
• Đăng ký quyền sở hữu, làm thủ tục mua bảo hiểm đối với tài sản cho thuê.
Thực hiện đầy đủ, đúng các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng. Trong trường
hợp bên cho thuê vi phạm hợp đồng cho thuê, thì phải bồi thường thiệt hại.
2.3.1. Quyền và nghĩa vụ của bên thuê:
13
Nhóm 9 lớp LW006_112_T03 Pháp luật về hoạt động cho thuê tài
chính
nhân khác trong quá trình sử dụng tài sản thuê.
• Bảo dưỡng, sửa chữa tài sản thuê trong thời hạn thuê. Không được tẩy xoá,
làm hỏng ký hiệu sở hữu gắn trên tài sản thuê.
• Không được dùng tài sản thuê để thế chấp, cầm cố hoặc để đảm bảo cho bất
kỳ một nghĩa vụ nào.
• Thực hiện đầy đủ, đúng các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng.
Như vậy, trong mối quan hệ giữa bên cho thuê và bên thuê trong hợp đồng
cho thuê tài chính, bên thuê bao giờ cũng ở vị thế thứ yếu (thể hiện ở trách nhiệm
mà họ phải gánh chịu). Trong mối quan hệ đó bên cho thuê phải bỏ ra một khoản
tiền đầu tư lớn để mua máy móc thiết bị theo yêu cầu của bên thuê, do vậy, bên
cho thuê bao giờ cũng phải đặt ra những quy định trách nhiệm ngặt nghèo để bảo
14
Nhóm 9 lớp LW006_112_T03 Pháp luật về hoạt động cho thuê tài
chính
vệ quyền và lợi ích của mình. Để khuyến khích phát triển hoạt động cho thuê tài
chính, các quy định này đã được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật.
3. Xử lý và thu hồi tài sản thuê:
Cơ sở pháp lý cho việc thu hồi tài sản cho thuê là Thông tư liên tịch số
08/2007/TTLT-NHNN-BCA-BTP hướng dẫn việc thu hồi tài sản của công ty cho
thuê tài chính.
3.1. Điều kiện áp dụng:
Công ty cho thuê tài chính có quyền thu hồi tài sản cho thuê ngay nếu bên
thuê không thanh toán được số tiền thuê còn lại sau khi công ty cho thuê tài chính
đã có thông báo tuyên bố chấm dứt hợp đồng cho thuê trước thời hạn theo một
trong các trường hợp sau:
- Bên thuê không trả tiền thuê theo thỏa thuận trong hợp đồng cho thuê tài
chính;
- Bên thuê vi phạm các điều khoản của hợp đồng cho thuê tài chính;
- Bên thuê bị giải thể, phá sản;
- Người bảo lãnh bị giải thể, phá sản và bên cho thuê không chấp thuận đề
Trong quá trình tiến hành thu hồi tài sản cho thuê, nếu bên thuê, bên thứ ba
đang giữ tài sản hoặc bất kỳ cá nhân, tổ chức nào có hành vi đe dọa, chống đối,
cản trở, công ty cho thuê tài chính có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp
dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật để công ty cho thuê tài
chính thực hiện quyền thu giữ tài sản cho thuê.
Công ty cho thuê tài chính chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của việc thu hồi tài
sản cho thuê. Bên thuê hoặc bên thứ ba giữ tài sản cho thuê phải chịu các chi phí
hợp lý, cần thiết cho việc thu giữ tài sản cho thuê, gây thiệt hại cho bên cho thuê
thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
3.2.3. Hình thức xử lý tài sản cho thuê:
- Sau khi thu hồi tài sản cho thuê, trong thời gian tối đa 60 ngày, công ty
cho thuê tài chính phải xử lý xong tài sản cho thuê theo thỏa thuận bằng văn bản
giữa các bên. Trong trường hợp không có thỏa thuận hoặc không xử lý được tài
sản theo thỏa thuận thì công ty cho thuê tài chính được xử lý:
• Bán tài sản thu hồi;
• Cho bên thuê khác thuê tiếp;
• Công ty cho thuê tài chính trực tiếp sử dụng tài sản thu hồi;
• Tái xuất tài sản cho thuê;
• Các hình thức khác không trái quy định của pháp luật.
Trong đó:
Bán tài sản cho thuê được thực hiện như sau:
a. Công ty cho thuê tài chính được bán tài sản cho thuê theo các phương thức sau:
- Trực tiếp bán tài sản cho thuê cho người mua.
- Bán tài sản cho thuê qua tổ chức bán đấu giá theo ủy quyền của công ty cho thuê
tài chính.
b. Khi trực tiếp bán tài sản cho thuê, công ty cho thuê tài chính và bên mua tài sản
thỏa thuận với nhau về các điều khoản của hợp đồng.
Cho bên khác thuê tiếp tài sản thu hồi:
Tùy thuộc vào thời gian khấu hao còn lại của tài sản cho thuê, công ty cho thuê tài
chính có thể cho thuê tiếp theo 2 phương thức:
hồi tài sản cho thuê thì công ty phải hoàn trả cho bên thuê số tiền vượt.
3.3. Một số khó khăn trong việc xử lý và thu hồi tài sản thuê ở Việt
Nam:
Hiện nay, việc thu hồi tài sản khi bên thuê vi phạm hợp đồng luôn là vấn đề
nan giải của các công ty cho thuê tài chính, bởi sự thiếu đồng bộ của văn bản pháp
luật và thiếu sự hỗ trợ của các cơ quan thi hành pháp luật.
Mặc dù theo quy định việc thu hồi tài sản cho thuê được tiến hành tại nơi có tài sản
cho thuê với sự chứng kiến của bên thuê hoặc người được bên thuê ủy quyền quản
lý tài sản cho thuê và ít nhất một người đại diện của cơ quan có thẩm quyền (cơ
quan có thẩm quyền là Ủy ban nhân dân và cơ quan công an các cấp nơi có tài sản
cho thuê). Vậy nhưng các cơ quan có thẩm quyền thường rất ngại áp dụng các biện
pháp cưỡng chế đối với các doanh nghiệp tại địa phương để Công ty cho thuê tài
chính thu hồi tài sản cho thuê vì “ngại va chạm”. Mặt khác với quy định thời hạn
tối đa không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu thu hồi tài sản, bên thuê
17
Nhóm 9 lớp LW006_112_T03 Pháp luật về hoạt động cho thuê tài
chính
có nghĩa vụ giao tài sản cho thuê và các giấy tờ liên quan đến tài sản cho thuê cho
Công ty cho thuê tài chính như hiện nay là quá dài, bên thuê có thừa thời gian để
tẩu tán tài sản thuê.
Do đặc thù của cho thuê tài chính là cho thuê các động sản, tài sản cho thuê
rất đa dạng, nhiều chủng loại và có tính di động cao nên công tác xử lý nợ có liên
quan đến tài sản thuê tài chính không đơn thuần là xử lý tài sản để thu nợ mà việc
đầu tiên phải làm là truy tìm được tài sản để thu hồi xử lý nhằm thu hồi nợ. Đặc
biệt trong trường hợp khách hàng thuê thiếu thiện chí hợp tác hoặc cố ý gian dối,
lừa đảo để chiếm đoạt tài sản thì nhiệm vụ xử lý, thu hồi nợ còn khó khăn gấp trăm
lần. Khi đó cán bộ xử lý nợ phải thực hiện các công việc không khác gì các điều
tra viên, tốn rất nhiều thời gian, tiền bạc và công sức.
Điển hình là việc BIDV Leasing ký hợp đồng cho Công ty TNHH Việt Linh thuê
máy xúc đào thủy lực Komatsu. Khi thực hiện hợp đồng, công ty này đã tự ý
để thu hồi vốn trong trường hợp bên thuê không thanh toán đủ tiền thuê khi hợp
đồng chấm dứt trước hạn là không hợp lý.
Từ quy định của khoản 1 Điều 27 cho thấy, các trường hợp xử lý tài sản
thuê tại khoản 1 Điều 28 được áp dụng cho tất cả các dạng cho thuê tài chính, bao
gồm cả cho thuê tài chính không hoàn trả lại tài sản và cho thuê tài chính có hoàn
trả lại tài sản. Tuy nhiên, nội dung quy định tại khoản 1 Điều 28 thực chất chỉ phù
hợp với dạng cho thuê tài chính mà tổng số tiền thuê ít nhất tương đương với giá
trị của tài sản tại thời điểm ký kết hợp đồng (trong trường hợp này, thông thường
bên thuê không phải hoàn trả lại tài sản thuê khi chấm dứt hợp đồng thuê). Nếu
quy định này được áp dụng trong trường hợp tổng số tiền thuê thấp hơn giá trị của
tài sản tại thời điểm ký kết hợp đồng thì rõ ràng, pháp luật chỉ bảo đảm cho khả
năng thu hồi tiền thuê của bên cho thuê chứ không bảo đảm khả năng thu hồi
nguồn vốn cấp tín dụng, không phù hợp với nguyên tắc cấp tín dụng và do đó,
không bảo đảm được quyền lợi chính đáng của bên cho thuê.
Thứ hai, pháp luật còn có quy định bất cập về quản lý, sử dụng và trích
khấu hao đối với tài sản cố định thuê tài chính. Theo Quyết định 206/2003/QĐ-
BTC ngày 12/12/2003 của Bộ tài chính ban hành Chế độ quản lý, sử dụng và trích
khấu hao tài sản cố định thì về nguyên tắc, doanh nghiệp đi thuê tài chính tài sản
cố định phải quản lý, sử dụng và trích khấu hao như đối với tài sản thuộc sở hữu
của mình. Đối với việc thuê tài sản cố định không thoả mãn điều kiện cho thuê tài
chính thì được coi là thuê hoạt động (thuê vận hành) và trong trường hợp này, bên
cho thuê có nghĩa vụ trích khấu hao chứ không phải bên thuê. Vấn đề là ở chỗ,
trong Quyết định 206/2003/QĐ-BTC lại định nghĩa một cách rõ ràng về cho thuê
tài chính y hệt như Nghị định 16/2001/NĐ-CP trước khi sửa đổi, nên rất nhiều
trường hợp là thuê tài chính theo sự sửa đổi của Nghị định 65/2005/NĐ-CP không
được coi là cho thuê tài chính theo Quyết định này. Trong những trường hợp như
vậy, vướng mắc đặt ra là, bên nào (bên cho thuê hay bên thuê) sẽ phải thực hiện
nghĩa vụ trích khấu hao đối với tài sản thuê tài chính? Một sự mập mờ, chồng chéo
về định nghĩa cho thuê tài chính giữa các văn bản pháp luật đã gây ra sự khó khăn
trong việc trích khấu hao của các bên tham gia hoạt động cho thuê tài chính từ đó
Thứ năm, các văn bản hướng dẫn về hoạt động cho thuê tài chính của Ngân
hàng Nhà nước chưa được chỉnh sửa theo Luật các tổ chức tín dụng 2010 nên đã
tạo ra một số mâu thuẫn.
20
Nhóm 9 lớp LW006_112_T03 Pháp luật về hoạt động cho thuê tài
chính
Kết luận
Cho thuê tài chính là một lĩnh vực còn khá mới tại Việt Nam, việc sớm bổ sung
các chế tài tạo hành lang pháp lý cho phù hợp với thực tiễn, lấp đầy những khoảng
trống trong các văn bản luật nhằm thúc đẩy hoạt động này phát triển và mang lại
những lợi ích thiết thực cho các chủ thể kinh doanh là cần thiết. Tuy nhiên, bên
cạnh hành lang pháp lý thì bản thân các công ty cho thuê tài chính cũng cần phải
nâng cao chất lượng dịch vụ, năng lực thẩm định, quy trình quản lý để giảm
thiểu rủi ro đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều biến động và lãi suất
ngân hàng cao như hiện nay.
Triết gia Aristotle đã nói “Sự giàu có thực sự không phải nằm trong quyền sở hữu
tài sản mà là trong quyền sử dụng nó”. Một doanh nghiệp không nhất thiết phải sở
hữu tài sản để làm ra lợi nhuận. Nhiều khi chỉ cần quyền sử dụng tài sản trong một
khoảng thời gian nhất định cũng đủ để sinh lời.Chúng ta hãy tin rằng loại hình này
trong tương lai sẽ có những bước phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là ở Việt Nam.
21
Nhóm 9 lớp LW006_112_T03 Pháp luật về hoạt động cho thuê tài
chính
Tài liệu tham khảo
1. Trường Đại học Luật Hà Nội (2010). Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam,
Hà Nội: NXB Công an Nhân dân.
2. Bộ Luật Dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14/06/2005.
3. Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010.
4. Nghị định của chính phủ số 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5/2001 về tổ chức và
hoạt động của công ty cho thuê tài chính.
nam-dao-dang-luoi.htm
14.Vũ Điển (26/05/2011). Hoạt động cho thuê tài chính: Loay hoay tìm lối đi.
Được lấy về từ:
http://baocongthuong.com.vn/p0c215s219n9431/hoat-dong-cho-thue-tai-chinh-tai-
viet-nam-loay-hoay-tim-loi-di.htm
15.Quách Tuấn San (sưu tầm và tổng hợp). Các chủ thể tham gia trong quan
hệ cho cho thuê tài chính. Được lấy về từ:
http://www.saga.vn/Taichinh/Thitruong/Tochuctaichinhphinganhang/23387.saga
16.Website Công ty cho thuê tài chính ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt
Nam
http://www.vcbl.com.vn/Index.php
23