TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG
CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY CHO THUÊ TÀI
CHÍNH THUỘC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Đậu Thị Ngọc Tân
Lớp : Anh 3
Khóa : 45A
Giáo viên hướng dẫn : TS. Trần Thị Kim Anh
2.4.3. Lợi ích đối với nền kinh tế 22
2.5. Kỹ thuật tài trợ trong cho thuê tài chính 22
2.5.1. Tổng số tiền tài trợ 22
2.5.2. Thời hạn tài trợ 23
2.5.3. Kỹ thuật tính tiền thuê 24
2.6. Những chỉ tiêu phản ảnh sự phát triển của hoạt động cho thuê tài chính 25
2.6.1. Các chỉ tiêu định lượng 25
2.6.2. Các chỉ tiêu định tính 27
2.7. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của hoạt động cho thuê tài chính 27
2.7.1. Nhóm nhân tố cơ chế, chính sách pháp luật và môi trường kinh doanh 27
2.7.2. Nhóm nhân tố thuộc về công ty cho thuê tài chính 28
2.7.3. Nhóm nhân tố thuộc về doanh nghiệp đi thuê 30
3. Kinh nghiệm về hoạt động cho thuê tài chính tại một số quốc gia và
bài học với Việt Nam 31
3.1 Hoạt động cho thuê tài chính tại một số quốc gia trên thế giới 31
3.1.1 Hoạt động cho thuê tài chính tại Nhật Bản 31
3.1.2 Hoạt động cho thuê tài chính tại Hàn Quốc 32
3.1.3 Hoạt động cho thuê tài chính tại Trung Quốc 34
3.2 Bài học rút ra qua kinh nghiệm của các nước đối với Việt Nam 34
Chƣơng II Thực trạng hoạt động cho thuê tài chính tại các công ty cho
thuê tài chính thuộc ngân hàng thƣơng mại Việt Nam hiện nay 37
1. Sự ra đời và phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam
trong thời gian qua 37
1.1. Cơ sở pháp lý cho hoạt động cho thuê tài chính tại các công ty cho thuê tài
chính Việt Nam 37
1.2 Sự phát triển của hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam 39
2. Thực trạng hoạt động cho thuê tài chính tại các công ty cho thuê tài
chính thuộc ngân hàng thƣơng mại Việt Nam hiện nay 42
2.1 Tình hình hoạt động của các công ty cho thuê tài chính ngân hàng thương mại
Việt Nam 43
3.1.3 Về đăng ký sở hữu tài sản cho thuê 81
3.1.4 Vấn đề xuất, nhập khẩu tài sản thuê 81
3.1.5 Về xử lý thu hồi tài sản cho thuê do bên thuê vi phạm hợp đồng 81
3.1.6 Các giải pháp khác 82
3.2 Kiến nghị với các Bộ, Ngành liên quan 83
3.2.1 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 83
3.2.2 Kiến nghị với Bộ Tài chính 83
3.2.3 Kiến nghị đối với Hiệp hội cho thuê tài chính Việt Nam: 84
3.2.4 Kiến nghị đối với các ngân hàng mẹ của các công ty cho thuê tài chính 85
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Sự khác biệt giữa CTTC và tín dụng ngân hàng 11
Bảng 1.2: Phân biệt CTTC và Thuê mua trả góp 12
Bảng 2.1: Danh sách các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam hiện nay 40
Bảng 2.2 : Bảng tổng hợp vốn điều lệ của các công ty cho thuê tài chính ngân hàng
thương mại Việt Nam 44
Bảng 2.3:Tổng hợp nguồn vốn của các công ty cho thuê tài chính ngân hàng thương
mại Việt Nam năm 2009 45
Bảng 2.5: Tổng hợp tỷ lệ nợ quá hạn của các công ty cho thuê tài chính ngân hàng
thương mại Việt Nam (2007- 2009) 48
Bảng 2.6: Số lượng hợp đồng cho thuê tài chính các công ty cho thuê tài chính ngân
hàng thương mại Việt Nam (2007-2009) 50
Bảng 2.7: Tình hình lợi nhuận các công ty cho thuê tài chính ngân hàng thương mại
Việt Nam ( 2007-2009) 52
DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ
Hình 1: Hợp đồng cho thuê ba bên 13
Cho thuê tài chính là một trong những loại hình dịch vụ đó. Đây là hoạt
động được đánh giá là hình thức phát triển cao của tín dụng thuê mua, là hình
thức đầu tư vốn có hiệu quả. Với các ưu thế về hạn chế rủi ro, không phải thế
chấp, thủ tục đơn giản,…cho thuê tài chính đang là dịch vụ được ưa chuộng
trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển.
Tại Việt Nam, cho thuê tài chính chỉ mới ra đời cách đây hơn 13 năm,
nhưng đã đánh dấu một bước ngoặt lớn đối với sự phát triển và hội nhập về
các dịch vụ tài chính, ngân hàng và là một dịch vụ đầy tiềm năng. Thực tế cho
thấy tốc độ tăng trưởng dư nợ cho thê của các công ty cho thuê tài chính tăng
trưởng rất nhanh trong thời gian qua. Hiện ở Việt Nam có 13 công ty cho thuê
tài chính, trong đó chiếm ưu thế lớn nhất là 8 công ty trực thuộc các ngân
hàng thương mại. Với những đặc trưng và ưu thế riêng của mình, các công ty
này đang dần lớn mạnh và góp phần lớn vào sự phát triển chung của ngành
cho thuê tài chính tại Việt Nam.
Do đó, vấn đề cần nghiên cứu và đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm
khai thác một cách có hiệu quả những thế mạnh của cho thuê tài chính nói
chung và tại các công ty cho thuê tài chính ngân hàng thương mại nói riêng để
biến nó thành một kênh tài trợ vốn trung và dài hạn hữu hiệu cho nền kinh tế
là một yêu cầu cần thiết. Vì vậy, em quyết định nghiên cứu đề tài “Thực
trạng và giải pháp phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại các công ty
2
cho thuê tài chính thuộc ngân hàng thương mại Việt Nam” để thực hiện
khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và nghiên cứu thực trạng hoạt động cho thuê tài chính
tại các công ty cho thuê tài chính trực thuộc các ngân hàng thương mại Việt
Nam để đánh giá những mặt đã làm được, những tồn tại và nguyên nhân, để
từ đó đưa ra những giải pháp nhằm phát triển hoạt động này. Để hoàn thành
mục tiêu trên, các nhiệm vụ cụ thể của khóa luận bao gồm:
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến các thầy cô giáo khoa Quản trị kinh doanh trường Đại học Ngoại
Thương đã dạy em những kiến thức cơ bản trong nhà trường, đặc biệt cảm ơn
cô giáo hướng dẫn TS.Trần Thị Kim Anh đã giúp em trong quá trình viết
khóa luận. Do trình độ nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên khóa luận không thế
trảnh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp
của thầy cô để bài làm của em được hoàn thiện hơn và có chất lượng tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày 10/ 05/ 2010
Sinh viên
Đậu Thị Ngọc Tân
4
CHƢƠNG I
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ
TÀI CHÍNH
I. Khái quát về hoạt động của công ty cho thuê tài chính trong nền kinh
tế thị trƣờng
1.1 Định nghĩa về công ty cho thuê tài chính
Hiện nay trong các văn bản pháp luật của Việt Nam vẫn chưa đưa ra
một định nghĩa hoàn chỉnh về công ty CTTC. Theo điều 1 Nghị định
16/2001/NĐ-CP thì: “Hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam phải được
thực hiện thông qua các công ty cho thuê tài chính được thành lập và hoạt
động tại Việt Nam và tuân theo các quy định của nghị định này”; và điều 2
khách hàng và với kinh nghiệm tài trợ, khả năng nguồn vốn lớn giúp cho
các công ty này có thể đáp ứng phần lớn nhu cầu của khách hàng về các loại
tài sản có gía trị lớn, thời gian thuê kéo dài. Tuy nhiên, hoạt động của công ty
này cũng có nhiều điều bất lợi do thiếu các kiến thức chuyên môn về tài sản
cho thuê.
1.3 Các hoạt động chủ yếu của công ty cho thuê tài chính
Xem xét bản chất của nghiệp vụ thì công ty CTTC là loại hình tổ chức
tín dụng phi ngân hàng mà hoạt động kinh doanh thường xuyên là cho thuê
máy móc thiết bị, các động sản và bất động sản. Nhìn chung, các công ty
CTTC đều có các hoạt động chủ yếu sau:
1
Huy động các nguồn vốn trong phạm vi được pháp luật cho phép,
bao gồm:
- Nhận tiền gửi có kì hạn từ một năm trở lên của các tổ chức, cá nhân 1
6
- Vay vốn ngắn, trung và dài hạn của các tổ chức tín dụng trong và ngoài
nước
- Phát hành các loại giấy tờ có giá (có kì hạn trên một năm khi được
NHNN cho phép)
- Tiếp nhận các nguồn vốn khác theo quy định của NHNN
Sử dụng các nguồn vốn để thực hiện các nghiệp vụ sau:
- Cho thuê tài sản theo phương thức CTTC.
- Cho thuê tài sản theo phương thức cho thuê vận hành
“Cho thuê tài chính là một thỏa thuận mang tính hợp đồng cho phép
một bên (bên đi thuê) được sử dụng tài sản thuộc quyền sở hữu của công ty
cho thuê (bên cho thuê) và thực hiện các khoản chi trả định kì đã được quy
định cụ thể.”
2
Ở Việt Nam, theo Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 và Nghị
định 65/2005/NĐ-CP ngày 19/05/2005 về việc ban hành quy chế về tổ chức
hoạt động của công ty CTTC thì hoạt động CTTC được định nghĩa như sau:
“Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua
việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiên vận chuyển và các động sản khác
theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho
thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời
hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận. Khi kết thúc thời hạn thuê theo hợp
đồng, bên thuê được lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các
điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng CTTC. Tổng số tiền thuê một loại tài
sản quy định tại hợp đồng thuê ít nhất phải tương đương với giá của tài sản
đó trên thị trường vào thời điểm kí hợp đồng.” 2
Derek R.Soper, Robert M. Munro (1993), The leasing handbook, McGraw – Hill book company, tr13 8
Như vậy, trong hoạt động CTTC thường có các chủ thể sau đây tham
gia:
Bên đi thuê:
Là khách hàng thuê thiết bị, tài sản của người cho thuê (tức là người
nhận tài trợ tín dụng của công ty CTTC). Người thuê cũng là người có quyền
tiền này vào mục đích kinh doanh của bên đi vay. Còn trong giao dịch CTTC
thì công ty CTTC tài trợ vốn cho bên thuê (bên vay) dưới hình thức hiện vật
(gắn với mục đích sản xuất kinh doanh định trước của bên thuê).
Các loại tài sản thiết bị thường được sử dụng trong các giao dịch CTTC
rất đa dạng và có sự phát triển không ngừng, nhưng nhìn chung có thể chia
làm hai loại chính:
Bất động sản: như nhà cửa, văn phòng làm việc, cửa hàng kinh doanh,
nhà máy, phân xưởng sản xuất,…
Động sản: như máy móc thiết bị, xe ô tô,…
Hiện nay theo, quy định của pháp luật Việt Nam, các công ty CTTC
chưa được phép thực hiện nghiệp vụ CTTC đối với các tài sản được coi là bất
động sản mà chỉ được phép CTTC với các loại máy móc thiết bị và các loại
động sản khác đạt tiêu chuẩn tiên tiến, có giá trị sử dụng hữu ích trên một
năm, được sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu từ nước ngoài.
2.2. Đặc điểm hoạt động cho thuê tài chính
2.2.1. Các đặc trưng của cho thuê tài chính
Hoạt động CTTC đã ra đời, tồn tại và phát triển trong một thời gian khá
dài song trên thực tế vẫn chưa có một khái niệm, định nghĩa hay hệ thống tiêu
chuẩn chung nào được tất cả các quốc gia chấp nhận một cách chính thức.
Còn ở Việt Nam theo quy chế hiện hành thì một giao dịch CTTC phải thỏa
mãn một trong bốn điều kiện sau:
10
(1) Khi kết thúc thời hạn thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển
quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thỏa thuận của hai
bên
(2) Nội dung hợp đồng có quy định: Khi kết thúc thời hạn thuê, bên
thuê được quyền chọn mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị
thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại.
(3) Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian
tiền.
Như vậy, hoạt động CTTC có ưu điểm hơn so với tín dụng trung và dài
hạn của ngân hàng, đồng thời nó có độ an toàn cao hơn xét trên phương diện
tài trợ.
Bảng 1.1: Sự khác biệt giữa CTTC và tín dụng ngân hàng
Đặc điểm so sánh
Cho thuê tài chính
Tín dụng ngân hàng
Hình thức tài trợ
Bằng hiện vật
Bằng tiền
Đối tượng
Động sản
Động sản và bất động sản
Quyền sở hữu
Do bên cho thuê nắm giữ
cho đến khi quyền mua
của bên thuê được thực
hiện
Bên đi vay chiếm giữ
ngay từ đầu.
2.2.3. Phân biệt cho thuê tài chính với thuê mua trả góp
Hình thức tín dụng thuê mua hay còn gọi là thuê mua trả góp chính là sự
phát triển của hình thức tín dụng thương mại. Sở dĩ có sự phát triển này là do
trong những thập kỉ gần đây thuê mua trả góp đã được các nhà chế tạo phát
triển nó thành một hình thức tài trợ vốn thông qua tài sản hiện vật và nó cũng
được các định chế tài chính, các nhà kinh doanh cho thuê sử dụng như một
hình thức tài trợ cho thuê.
đồng quy định.
Chuyển giao cho người thuê
khi hết hạn hợp đồng.
Quyền sở hữu
Quyền sở hữu thuộc về
bên cho thuê và có thể
được chuyển giao cho bên
thuê khi hợp đồng kết
thúc nếu trong trường hợp
hợp đồng quy định.
Chuyển giao cho bên thuê
thời điểm kết thúc hợp đồng.
13
2.3. Các phƣơng thức cho thuê tài chính
2.3.1. Hợp đồng cho thuê theo sự thỏa thuận ba bên
Là loại hình CTTC có ba bên tham gia: Người cho thuê, nhà cung cấp và
người đi thuê. Đây là loại hình cho thuê phổ biến nhất, nó thể hiện đầy đủ nét
đặc trưng của hoạt động CTTC. Theo phương thức này, bên cho thuê chỉ thực
hiện việc mua tài sản theo yêu cầu của bên đi thuê và được hai bên thỏa thuận
theo hợp đồng thuê.
3
(2c) 2a (1b) (1a) (2d) (3)
- Bên thuê
Lựa chọn thiết bị cần thiết và chọn nhà cung cấp, thương lượng các
điều khoản bảo hành, thương lượng cách thức bảo dưỡng, thương lượng về
các chi tiết giao nhận (như vận chuyển, hoàn thành thủ tục hải quan, cấp giấy
phép…), thương lượng về thời gian lắp đặt và đào tạo, thương thảo giá mua,
cung cấp bảo hiểm toàn diện cho thời gian vận chuyển.
Thực hiện thoả thuận mua với nhà cung cấp và bên cho thuê.
Thực hiện hợp đồng thuê với bên cho thuê.
Có trách nhiệm sửa chữa, bảo dưỡng tài sản thuê trong suốt quá trình
thuê
Được quyền sử dụng tài sản.
- Nhà cung cấp
Đàm phán với bên thuê về loại thiết bị, các thông số kỹ thuật, giá
cả…
Cung cấp bảo hành và dịch vụ cho bên thuê
Giao thiết bị trực tiếp cho bên thuê trong tình trạng hoạt động tốt
Thực hiện hợp đồng mua với bên cho thuê
2.3.2. Hợp đồng tài trợ hai bên hay tài trợ trực tiếp
Là nghiệp vụ CTTC có hai bên tham gia: Người cho thuê và người đi
thuê. Trong đó, người cho thuê thường là các nhà sản xuất- họ sử dụng thiết
15
bị sẵn có và trực tiếp tài trợ cho người thuê nhằm đẩy mạnh việc tiêu thụ sản
phẩm, đồng thời tăng khả năng thu lời và giảm bớt hao mòn vô hình của máy
móc, thiết bị
4
.
(3b)
1c
- Tài sản thuê thường không quá lớn và thường là máy móc thiết bị
- Chỉ có 2 bên tham gia trực tiếp vào giao dịch: bên thuê và bên cho thuê
- Vốn tài trợ hoàn toàn do Bên cho thuê đảm nhiệm
- Bên cho thuê có thể mua lại thiết bị khi chúng bị lạc hậu.
Đây là một hình thức tài trợ mà các nhà sản xuất thường sử dụng để đẩy
mạnh việc tiêu thụ sản phẩm do họ sản xuất ra. Mặt khác nhờ luôn cập nhật
những công nghệ mới để chế tạo máy móc, thiết bị nên các nhà sản xuất có
thể sẵn sàng mua lại những cũng đã lạc hậuvề mặt công nghệ để tiếp tục cung
cấp những máy móc mới, hiện đại do họ chế tạo ra.
2.3.3. Hợp đồng bán và tái thuê (Buying and Lease back)
Bán và tái thuê là một thoả thuận tài trợ chính mà bên thuê bán lại tài sản
của chính họ cho bên cho thuê và đồng thời một hợp đồng CTTC được soạn
thảo với nội dung công ty CTTC (bên cho thuê) đồng ý cho bên thuê thuê lại
tài sản mà chính họ vừa bán
5
.
( 2a)
(2b)
(1a)
2a (1b)
( 2c)
(3)
Hình 3: Hợp đồng bán và tái thuê
(1a). Bên cho thuê ký hợp đồng mua tài sản của doanh nghiệp (bên đi
thuê)
(1b). Bên cho thuê và bên thuê ký hợp đồng CTTC (thuê lại tài sản)
(2a). Bên đi thuê lập thủ tục chuyển giao quyền sở hữu cho bên cho thuê.
trợ cho bên thuê tạo thành sự liên kết theo chiều ngang. Còn đối với trường
hợp các định chế tài chính hay các nhà chế tạo lớn giao tài sản cho chi nhánh
18
của họ (dealers) thực hiện giao dịch tài trợ cho khách hàng thì hình thành sự
liên kết theo chiều dọc.
2.3.5. Hợp đồng cho thuê bắc cầu (Leveraged lease)
Đây là một hình thức đặc biệt của thuê mua thuần chỉ mới được phổ
biến trong thời gian gần đây, xuất phát từ thực tế là các công ty CTTC có
những hạn chế về nguồn vốn không đủ khả năng tự tài trợ cho khách hàng.
Theo thể thức thuê mua này, bên cho thuê đi vay để mua tài sản cho
thuê từ một hay nhiều người cho vay nào đó. Theo luật pháp của một số quốc
gia khoản tiền vay này không được vượt quá 80% tổng giá trị của tài sản tài
trợ. Vật thế chấp cho khoản vay này là quyền sở hữu tài sản cho thuê và các
khoản tiền thuê mà bên thuê sẽ trả trong tương lai. Bên cho thuê được hoàn
trả tiền đã cho vay từ các khoản tiền thuê, thường do bên thuê trực tiếp trả
theo yêu cầu của bên cho thuê. Sau khi trả hết món nợ vay, những khoản tiền
còn lại sẽ được trả cho bên thuê.
Về phía bên thuê, không có sự khác biệt trong mối quan hệ giao dịch
với bên cho thuê so với các phương thức khác. Hình thức này đem lại lợi
nhuận và mở rộng khả năng tài trợ ra khỏi phạm vi nguồn vốn của công ty
CTTC.
Hình thức này thường được sử dụng trong những giao dịch giao dịch
thuê mua đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn, chẳng hạn thuê mua một máy bay
thương mại hay một tàu chở hàng hoặc một tổ hợp chuyên ngành lớn…
2.3.6. Hợp đồng cho thuê giáp lưng (Under lease)
Là phương thức tài trợ mà trong đó được sự thoả thuận của bên cho
thuê, bên thuê thứ nhất cho bên thuê thứ hai thuê lại tài sản mà bên thuê thứ
nhất đã thuê từ bên cho thuê
6