G242
Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
M số: 60.62.10 Ngời hớng dẫn khoa học:
NGƯT.PGS.TS. Nguyễn Đức Khiêm
Hà nội - 2006 i
Lời cam đoan
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và cha hề đợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
này đã đợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đợc
chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả
vật huyện Hoằng Hóa, huyện Nga Sơn, huyện Tĩnh Gia, Ban lãnh đạo và bà
con nông dân xã Hoằng Phúc Hoằng Hóa Thanh Hoá đã giúp đỡ và tạo
điều kiện cho tôi thực hiện đề tài.
Nhân dịp này tôi xin đợc gửi tới tất cả bạn bè thân hữu trong ngoài cơ
quan, ngời thân và gia đình, lời cảm ơn thân thiết của tôi về sự giúp đỡ vô t
và những lời động viên khích lệ nhiệt tình đã giành cho tôi trong suốt quá trình
học tập, thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, tháng 9 năm 2006
Hoàng Xuân Nghĩa
iii
Mục lục
1
. mở đầu
Trang
1.1.Đặt vấn đề
1
1.2. Mục đích của đề tài
4
1.3. Yêu cầu của đề tài
4
1.4. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4
1.4.1. ý nghĩa khoa học
iv
3.4. Phơng pháp nghiên cứu 23
3.4.1. Phơng pháp điều tra thành phần và sự phân bố của sâu hại lạc 23
3.4.2. Phơng pháp bảo quản mẫu vật 25
3.4.3. Bố trí thí nghiệm ngoài đồng 25
3.4.3.1.Điều tra biến động số lợng và tỷ lệ hại của sâu hại lạc 25
3.4.3.2. Khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc đối với sâu hại lạc 26
3.4.3.3. Mô hình IPM thử nghiệm
27
4. kết quả nghiên cứu và thảo luận
30
4.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên 30
4.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên 30
4.1.2. Khái quát đặc điểm khí hậu, thời tiết 30
4.1.3. Đặc điểm khí hậu, thời tiết 5 tháng đầu năm 2006 32
4.2. Tình hình sản xuất lạc ở Thanh Hoá 34
4.3. Thành phần sâu hại lạc tại Thanh Hoá vụ xuân 2006 41
4.4. Thành phần của một số loài thiên địch chủ yếu của sâu hại lạc 45
4.5. Đặc tính sinh vật học và diễn biến số lợng các 46
4.5.1. Đặc tính sinh vật học 46
4.5.2.Diễn biến số lợng các loài sâu hại chủ yếu vụ xuân 2006
50
4.6. Biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu hại lạc 55
4.6.1. Hiệu quả của một số biện pháp riêng lẻ áp dụng trong IPM 55
4.6.2. Diễn biến số lợng của một số loài sâu hại chủ yếu 69
4.6.3. Hiệu quả kinh tế của mô hình IPM 72
4.6.4. Đề xuất biện pháp IPM cho cây lạc ở Hoằng Hoá Thanh Hoá 77
- Tiêu chuẩn ngành TCN
- Khoa học kỹ thuật
khkt
- Khoa học Nông nghiệp
KHNN
- Độ lệch nhỏ nhất có ý nghĩa khi so sánh
LSD
0.05
- Hệ số biến động
CV%
vi
Danh mục các bảng, Hình, ảnh và đồ thị
Trang
Bảng 4.1. Số liệu khí tợng năm tháng đầu năm 2006 33
Bảng 4.2. Diện tích, năng suất và sản lợng lạc hàng năm của tỉnh Thanh Hoá 36
Bảng 4.3. ý kiến của nông dân về dịch hại trên cây lạc.
37
Bảng 4.4. ý kiến của nông dân về biện pháp phòng trừ sâu hại lạc
39
Bảng 4.5. ý kiến của nông dân về sử dụng thuốc BVTV trên lạc
40
Bảng 4.6. Thành phần và mức độ phổ biến của sâu hại lạc vụ xuân 2006 42
Bảng 4.6 (tiếp). Thành phần và mức độ phổ biến của sâu hại lạc vụ xuân 2006 43
Bảng 4.7. Thành phần và mức độ phổ biến thiên địch của sâu hại lạc 44
Bảng 4.8. Diễn biến mật độ của một số loài sâu miệng nhai hại lạc 51
7
1
. mở đầu
1.1.Đặt vấn đề
Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là một hệ thống về quản lý dịch hại sử
dụng các phơng pháp phòng trừ dịch hại khác nhau trong từng điều kiện nhất
định. Theo định nghĩa về IPM của tổ chức Nông lơng thế giới thì: IPM là
một hệ thống quản lý dịch hại mà tuỳ thuộc vào môi trờng liên quan và động
thái của các loài dịch hại, con ngời sử dụng và phối hợp các phơng pháp,
các kỹ thuật một cách hài hòa để duy trì quần thể sâu bệnh ở mức thấp hơn
mức gây hại kinh tế.
IPM không phải là một phơng án hành động cụ thể, mà là một phơng
hớng chiến lợc cho con ngời đi đến một biện pháp quản lý dịch hại tối u
trong một điều kiện sinh thái cụ thể. Tinh thần chung của IPM là:
+ Mục đích của IPM là bảo vệ cây không bị thiệt hại quá mức có ý nghĩa
kinh tế. IPM không nhằm tiêu diệt dịch hại mà duy trì quần thể của chúng ở
mức có lợi cho hệ sinh thái và cho con ngời,
+ Không quá tập trung vào một hoặc một nhóm biện pháp nào mà có thể sử
dụng nhiều biện pháp thích hợp tác động lên sinh quần đồng ruộng (với các
biện pháp chủ yếu là canh tác, sinh học và hoá học) nhằm làm cho các sinh
vật hại cây không thực sự hại có ý nghĩa kinh tế.
+ Chú trọng nhiều đến các nhân tố gây chết tự nhiên đối với dịch hại nh
biện pháp canh tác, sử dụng thiên địch, khí hậu thời tiết,
+ Phải đảm bảo hài hoà với các yêu cầu về bảo vệ sức khoẻ con ngời và
môi trờng, hớng tới một hệ sinh thái bền vững về lâu dài. (Nguyễn Trờng
Thành, 2004) [24]
Lạc là cây thực phẩm, cây họ đậu làm tốt đất. Hiếm tìm ra cây trồng nào
có tác dụng nhiều mặt nh cây lạc. Lạc là cây trồng cổ truyền, đợc trồng ở
hơn 100 nớc trên thế giới, với diện tích khoảng hơn 22 triệu ha. Sản lợng lạc
cho xuất khẩu từ 6.000 - 8.000 tấn lạc hạt, đạt kim ngạch 3,4 - 4,5 triệu USD.
Những năm gần đây, Thanh Hoá đã mạnh dạn đa nhiều chủ trơng,
biện pháp và chính sách cho phát triển cây lạc. Nhiều giống mới nh V79, 9
L05, L02, L12, L08, L18, L14, L15, L16, đã đợc đa vào sản xuất góp phần
tăng năng suất lạc bình quân của tỉnh từ 11,17 tạ/ha năm 1995 lên gần 20 tạ/ha
năm 2004 và diện tích tăng từ 13.626 ha năm 1995 lên 19.300 ha năm 2005.
Tuy nhiên, so với năng suất lạc bình quân của tỉnh Nam Định (35 tạ/ha), thì
năng suất lạc của Thanh Hoá còn ở mức thấp, chất lợng xuất khẩu cha cao.
Năng suất lạc ở Thanh Hoá thấp hơn so với một số tỉnh khác do những
yếu tố hạn chế nh: Nông dân trồng lạc thiếu vốn nên không có khả năng mua
giống tốt và đầu t phân bón, hệ thống cung ứng giống lạc cha đợc quan
tâm đúng mức nh cây lúa và cây ngô lai, nên tỷ trọng sử dụng giống mới
trong tỉnh còn thấp, các vùng trồng lạc trọng điểm của tỉnh thiếu hệ thống tới
tiêu chủ động nên năng suất thờng không ổn định. Đất trồng lạc chủ yếu là
đất nghèo dinh dỡng, nông dân lại không có thói quen sử dụng phân bón hợp
lý nên mặc dù một số địa phơng đã đa giống mới vào sản xuất nhng năng
suất vẫn thấp, cha khai thác hết tiềm năng năng suất của giống mới.
Tuy nhiên, cho đến nay sâu hại cũng là nguyên nhân quan trọng làm giảm
năng suất và phẩm chất lạc, làm tăng đầu t cho hộ nông dân.
Theo tác giả Nguyễn Viết Tùng và cộng sự (1997) [33] cho biết sâu hại lạc có
thể làm giảm 20 - 25% năng suất. Trong khi đó những nghiên cứu về sâu hại lạc
và biện pháp phòng chống còn quá ít so với các nghiên cứu khác, những nghiên
cứu này chỉ mới dừng lại ở mức độ tìm ra các loại thuốc hoá học có hiệu quả hay
điều tra sự phát sinh, gây hại của một số sâu hại chính. Chính vì vậy, cha đủ cơ
sở khoa học để xây dựng một hệ thống biện pháp phòng trừ có hiệu quả.
Nhìn chung, có thể nói rằng so với các loại cây lơng thực nh lúa, ngô
hợp lý trong IPM trên cây lạc, trên cơ sở đó xây dựng mô hình IPM trên cây
lạc tại huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hoá.
1.4. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.4.1. ý nghĩa khoa học
- Đề tài đã tiến hành điều tra, thu thập thành phần nhằm bổ sung thêm cho
danh lục côn trùng gây hại và côn trùng có ích trên lạc, trên cơ sở đó xác định số
loài chính gây hại cho lạc. Đề tài cũng đánh giá đợc một số giống lạc có tiềm
năng năng suất và một số đặc điểm liên quan khả năng chịu sâu của một số giống
mới, để làm cơ sở cho việc quản lý dịch hại tổng hợp sâu hại lạc. Trên cơ sở đó, 11
đề tài xác định đợc một số biện pháp phòng trừ hợp lý đạt hiệu quả cao, góp
phần cho định hớng trong công tác IPM trên cây lạc tại Thanh Hóa.
- Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc BVTV trên cây trồng nói chung, cây
lạc nói riêng ở huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hoá để thấy đợc mức độ nguy
hiểm, các hậu quả tiêu cực của việc sử dụng thuốc BVTV trong phòng chống
sâu hại cây trồng, thấy đợc mặt trái của thuốc BVTV do sử dụng không đúng
kỹ thuật, không đúng hớng dẫn gây nên. Đồng thời cũng thấy đợc những
mặt tích cực, mặt tốt, những u việt của thuốc BVTV trong việc bảo vệ mùa
màng. Mặt khác, từ đánh giá trên giúp cho việc xác định nguyên nhân của
những hiện tợng ngộ độc đáng tiếc sẩy ra và hiện tợng ô nhiễm môi trờng
sống của chúng ta, từ đó mà có giải pháp nhằm hạn chế những ảnh hởng xấu,
tiêu cực của thuốc BVTV gây ra.
- Phân tích các yếu tố ảnh hởng trực tiếp đến năng suất trong đó có
thuốc BVTV. Tìm ra yếu tố quan trọng có ảnh hởng đến việc sử dụng thuốc
BVTV hợp lý trên cây lạc để từ đó đa ra những giải pháp khả thi trong công
tác IPM trên lạc.
1.4.2. ý nghĩa thực tiễn
có nghĩa số loài trong hệ sinh thái nông nghiệp là nghèo nàn và mạng lới
thức ăn trong hệ sinh thái này là đơn giản (Weires R.W & Chiang, 1993) [49].
Trong những điều kiện nhất định, các loài trong hệ sinh thái nông nghiệp
phát triển hài hòa, cân đối nên dẫn đến một số loài dịch hại khó có thể phát
triển quá mức để bùng phát số lợng gây thành dịch gây hại cho cây trồng.
Con ngời hiểu biết về hệ sinh thái sẽ có các biện pháp thích hợp tác
động đến cấu trúc sinh quần trong hệ sinh thái, tạo nên thế cân bằng sinh
học cao theo hớng có lợi cho con ngời và hạn chế đợc sự phá hại của
dịch hại. Đây là cơ sở khoa học của công tác bảo vệ thực vật (BVTV) hiện
đại. (Đờng Hồng Dật, 1977) [8].
Trong công tác phòng chống dịch hại cây trồng cho thấy không có biện
pháp riêng lẻ nào có khả năng hạn chế đợc dịch hại lâu dài và có hiệu quả.
Hiện nay biện pháp quản lý tổng hợp dịch hại (IPM) là biện pháp có hiệu quả
nhất, góp phần làm giảm hậu quả do thuốc BVTV gây ra. 13
Nội dung chủ yếu của các biện pháp IPM là:
- áp dụng các biện pháp kỹ thuật trồng trọt tiên tiến để giúp cho cây
trồng phát triển sinh trởng tốt, khỏe.
- Chọn lọc và gieo trồng những giống có khả năng chống chịu đợc một
số loại sâu bệnh chủ yếu.
- áp dụng các biện pháp sinh học có hiệu quả.
- Bảo vệ các loài thiên địch bằng cách duy trì thảm thực vật, hạn chế sử
dụng thuốc BVTV, đồng thời nhân, nuôi, thả các loài thiên địch sẵn có trên
đồng ruộng.
- Chỉ sử dụng thuốc BVTV khi cần thiết trên cơ sở phân tích hệ sinh thái
đồng ruộng, dự tính dự báo sự phát sinh phát triển của dịch hại và khả năng
gây hại của chúng đối với cây trồng (Hà Quang Hùng, 1998) [16].
chúng ta có thể phát huy những u điểm và hạn chế những mặt tiêu cực của
từng biện pháp gây ra đối với cây trồng, con ngời và môi trờng sống.
2.2.1. Cơ sở khoa học của biện pháp phòng trừ tổng hợp IPM
- Biện pháp Kiểm dịch thực vật (KDTV):
Là biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn sự lây lan, xâm nhập của những
loài sinh vật gây hại cây thuộc diện nguy hiểm về kinh tế nhng cha có hoặc
mới có trong phạm vi hẹp và những loài sinh vật gây hại không đợc để lọt
sang vùng lãnh thổ khác. Đối với lạc chủ yếu ngăn chặn qua con đờng nhập
nội các giống mới.
- Biện pháp canh tác BVTV:
Là nhóm biện pháp rất cơ bản trong IPM nhằm tạo ra các điều kiện sinh
thái thuận lợi cho cây trồng sinh trởng, phát triển và các điều kiện không
thuận lợi cho sâu bệnh phát triển thành dịch hại.
+ Thời vụ: chọn thời vụ thích hợp cho cây trồng phát triển, khi thu hoạch
sản phẩm đạt giá trị kinh tế cao. 15
+ Chọn đất và làm đất: cần chọn đất đủ dinh dỡng, giữ đợc độ ẩm,
thoát nớc tốt, tạo điều kiện cho cây sinh trởng và hạn chế dịch hại.
+ Vệ sinh đồng ruộng: phòng trừ cỏ dại trên đồng ruộng, thu gom, tiêu
huỷ tàn d cây trồng và phần cây trồng mang mầm bệnh nguy hiểm.
+ Sử dụng giống khoẻ, sạch sâu bệnh: chỉ sử dụng hạt giống khoẻ, có độ
nẩy mầm cao, sạch sâu bệnh,
+ Sử dụng giống chống chịu.
+ Phân bón và cách bón phân: bón vừa đủ và cân đối, đúng thời kỳ tuỳ
thuộc vào từng giống, thời vụ sao cho cây khoẻ, tăng sức đề kháng sâu bệnh.
Tăng cờng sử dụng nguồn phân hữu cơ, hạn chế sử dụng phân hoá học.
+ Mật độ trồng: tuỳ từng giống mà có mật độ trồng hợp lý nhằm duy trì
Hình2.1. Kỹ thuật 4 đúng trong sử dụng thuốc BVTV
2.2.2. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu sâu hại lạc
Lạc là loại cây trồng mà thân và lá đều chứa hàm lợng dinh dỡng cao,
nên trong suốt quá trình sinh trởng và phát triển bị khá nhiều loài sâu hại
khác nhau phá hại, sâu phá hại ngay từ khi trồng cho đến khi thu hoạch, sâu
phá hại tất cả các bộ phận của cây cả trên mặt đất và dới đất. Tác hại của sâu
trên đồng ruộng dễ nhìn thấy, nhng đôi khi cũng nhầm lẫn với những hiện
tợng bệnh lý do thiếu các nguyên tố trong đất, thời tiết khí hậu và môi trờng
Bốn đúng
Đún
g
thuốc Đún
g
liều lợn
g
Đún
g
lúc Đún
g
gây ra. Mối quan hệ giữa côn trùng và cây trồng chịu ảnh hởng trực tiếp của
môi trờng sống và phụ thuộc vào các điều kiện ngoại cảnh. Thành phần sâu
hại lạc, cũng nh mức độ phổ biến và tác hại của chúng ở Việt Nam cũng đã
đợc một số tác giả đề cập đến. Song tác hại của côn trùng phụ thuộc vào điều
kiện sinh thái, mối quan hệ giữa thiên địch và sâu hại, biện pháp canh tác và
những đặc tính sinh vật học của từng loại. Vì vậy cần xác định thành phần sâu
hại chính cho từng vùng, đồng thời nắm đợc quy luật phát sinh, phát triển
của từng loại sâu hại từ đó có cơ sở xây dựng những biện pháp phòng trừ thích
hợp, vừa đem lại hiệu quả kinh tế, vừa bảo vệ đợc môi trờng và nguồn nớc
vì cùng một loại côn trùng nhng ở vùng này là chính, ở vùng kia là thứ yếu.
2.2.2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nớc
Cây lạc đã đợc trồng ở nhiều nớc trên thế giới, việc nghiên cứu cây lạc
không riêng chỉ giới hạn một nớc, mà có sự kết hợp giữa các nớc, các vùng
với nhau để không ngừng tăng năng suất, sản lợng và phẩm chất nông sản.
Trong quá trình thâm canh tăng năng suất lạc, côn trùng hại lạc là một
vấn đề trở ngại lớn đã và đang đợc nhiều nớc trên thế giới quan tâm, nhiều
tác giả đề cập tới. Trong quá trình sinh trởng và phát triển của cây lạc bị rất
nhiều sâu hại phá hoại.
ở vùng nhiệt đới cây lạc bị 37 loài sâu phá hại ở các bộ phận rễ, củ,
thân, hoa, hạt giống và thiệt hại do sâu gây ra vào khoảng 17,1% sản lợng,
do bệnh giảm 15% và do cỏ dại làm giảm 11,5%. Nh vậy thiệt hại do sâu hại
gây ra là lớn hơn cả. Hiện nay ngoài biện pháp hoá học, các nhà nghiên cứu
đang đặc biệt quan tâm đến nhiều biện pháp phòng trừ khác nh lợi dụng và
khích lệ thiên địch có trên đồng ruộng, các biện pháp kỹ thuật canh tác nh kỹ
thuật gieo trồng, luân canh, xen canh, dùng giống chống chịu, đã đợc ứng
dụng để phòng trừ một số loại sâu hại chính. Nhng sự thiệt hại kinh tế do sâu
hại gây ra vẫn khá cao ở nhiều nơi trên thế giới, nhiều loài trớc đây là thứ
yếu nay nổi lên thành đối tợng hại nghiêm trọng, ở ấ
n Độ dòi đục lá trớc
các loài ban miêu đen (Epicauta impresicornic Pic) họ (Meloidae) thuộc bộ
cánh cứng (
Coleoptera) trong số 29 loài gây hại, có 7 loại sâu hại chính, sâu 19
cuốn lá (Lamprosema indicata Fabr), ban miêu đen (Epicauta impresicornic
Pic), sâu khoang (Spodoptera litura Fabr), rệp đen (Aphis craccivora Koch),
rầy xanh (Empoasca flavescen Fabr), sùng trắng (Holotrichia sp), sâu xanh
(Heliothisarmigera Hiibner) và 22 loài thứ yếu.
Smith và Barfield (1982) [47] cho hay sâu hại lạc khá phong phú, họ đã
thống kê đợc 60 loài, nhng có ít gây hại có ý nghĩa đến kinh tế. Có một vài
loài gây hại làm ảnh hởng đến kinh tế. So với nhóm sâu chích hút gồm 100
loài nhng sự thiệt hại do nhóm này gây ra ảnh hởng đến năng suất lạc, chủ
yếu là rệp đen (Aphis craccivora Koch), rầy xanh (Empoasca flavescens Fabr)
và bọ trĩ (Caliothrips inducus Baynall).
Gosh và cộng sự (1981) [41] cho rằng rệp Aphis craccivora Koch là
loài sâu hại quan trọng của cây họ đậu ở quanh vùng Calcutta và đã làm
giảm sản lợng, chất lợng rau quả một cách nghiêm trọng.
Nhóm sâu gây hại trên mặt đất cũng rất nghiêm trọng bao gồm một
số loài sâu bộ cánh vẩy (Lepidoptera) nh sâu xám (Agrotis sp) và (Feltia
sp) cắn cây con, rệp và rầy bộ (Homoptera), sâu xanh bộ (Lepidoptera),
nhện đỏ bộ (Acarina), sâu khoang (Spodoptera litura Fabr) ở ấn độ và Nam
Phi: Bọ trĩ bộ Thysanoptera. Ngoài ra còn sâu đục lá (Apoaerama
modicella Derenter), sâu cuốn lá (Lamprosema indicata Fabr), sâu róm đỏ
(Amsacta albistriga Walk), (Mohamed A.B,1981) [45].
Theo Turninpseed, S.G và Kogan (1976) [48] thì sâu hại đã tấn công
vào tất cả các bộ phận trên cây đậu đỗ nh rễ, nốt sần, mầm, thân lá, hoa, quả
và hạt. Khi cây đậu đỗ đợc đem trồng tới vùng đất lạ nào đó, thì chúng sẽ bị
Viện Khoa học Nông nghiệp Miền Nam, Viện cây có dầu phía Nam và một số
cơ quan nghiên cứu khác.
Trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đã tập trung vào các lĩnh vực
nh lai chọn tạo giống, các biện pháp canh tác ảnh hởng đến năng suất lạc, các 21
nghiên cứu về thành phần sâu hại lạc và các biện pháp phòng chống sâu hại lạc
làm tăng kinh tế và những vấn đề liên quan tới ô nhiễm môi trờng. Trong công
tác nghiên cứu về IPM thì các công trình nghiên cứu còn cha nhiều.
Tuy vậy, vẫn có không ít khó khăn gây trở ngại trong sản xuất lạc ở
Việt Nam nh kiến thức canh tác về cây lạc của nông dân còn hạn chế, cha
xác định rõ đợc vị trí của cây lạc trong cơ cấu cây trồng, giá thành sản xuất
cao, giá bán tiêu thụ thấp, cha có hệ thống dịch vụ chế biến tiêu thụ ổn định.
Bên cạnh đó, khó khăn về thời tiết, khí hậu và sâu bệnh cũng là nguyên nhân
chính, cản trở sự phát triển sản xuất lạc ở nớc ta, làm cho diện tích trồng lạc
ở nớc ta trong những năm qua có chiều hớng tăng chậm, năng suất, sản
lợng lạc không ổn định và chênh lệch giữa các vùng. Ngoài những nghiên
cứu về giống và các yếu tố làm ảnh hởng đến năng suất lạc và hớng giải
quyết, những nghiên cứu về sâu hại lạc cũng đợc đề cập đến nh một yếu tố
quan trọng làm giảm năng suất và chất lợng lạc
Theo kết quả điều tra cơ bản năm 1967 - 1968 của Viện Bảo vệ thực vật
(1968) [34] đã thu đợc 149 loài sâu gây hại đậu đỗ. Trong đó có 5 loài sâu
gây hại lạc quan trọng đó là dế mèn lớn (Brachytrupes portentosus Licht), rệp
đen (Aphis craccivora Koch), bọ xít dài (Riptortus linearis sp), cuốn lá
(Lamprosema indicata Fabr), sâu đục lá (Apoaerama modicella Derenter). ở
mỗi giai đoạn phát triển của cây lạc đều có những loài sâu hại nghiêm trọng
nh: thời kỳ gieo hạt giai đoạn này cây còn nhỏ, thờng bị các loài sâu hại là
kiến nâu nhạt (Pheidole sp), kiến vàng (Cecophylla sp), Mối (Capritermes sp),
đỉnh cao vào cuối tháng 3 đến cuối tháng 4 và đợt cuối tháng 5 đầu tháng 6.
Thành phần sâu hại lạc ở Việt Nam trong các năm (1995 - 1996) các
chuyên gia ICRISAT đã phối hợp với các cán bộ nghiên cứu của nớc ta tiến
hành điều tra giám định thành phần sâu hại lạc và nghiên cứu các biện pháp
phòng trừ ở Việt Nam. 23
Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở Miền Bắc Việt Nam có tới 51 loài sâu hại
đợc phát hiện trên lạc, trong đó có 47 loài hại trên đồng ruộng và 4 loài hại
trong kho. Các loại sâu hại quan trọng, gây tác hại đáng kể nhất ở Miền Bắc là
sâu khoang (Spodoptera litura Fabr), sâu đục quả, đục hoa (Maruca testulalis),
sâu xanh (Helicoverpa armigera), bọ phấn (Bemisia sp.), rầy xanh (Empoasca
motti), bọ trĩ (Scirtothris dorsalis), rệp đen (Aphis craccivora Koch) và sâu đục
lá (Aproaerema modicella). Ngoài ra sùng trắng (Lepidiota sp) cũng gây hại
đáng kể ở một số vùng đất bãi ven sông, (Ngô Thế Dân và cộng sự, 2000) [6].
Nguyễn Thị Chắt (1998) [4] trong quá trình điều tra đã phát hiện đợc
55 loài sâu hại trên đậu phộng, tập trung trong 8 bộ, trong đó bộ cánh vẩy
(Lepidoptera) là 16 loài chiếm 29,1%, bộ cánh thẳng (Orthoptera) 13 loài
chiếm 23,6%, bộ cánh nửa cứng 8 loài chiếm 14,5%, bộ cánh cứng 8 loài
chiếm 14,5%, bộ cánh đều 6 loài chiếm 10,9%, bộ cánh màng (Hymenoptera)
2 loài chiếm 3,6%, bộ cánh tơ (Thysanoptera) 1 loài chiếm 1,8%, bộ nhện đỏ
(Acarina) 1 loài chiếm 1,8%. Trong 55 loài sâu hại điều tra trên đậu phộng có
24 loài xuất hiện ở mức trung bình đến rất nhiều, trong đó bộ cánh vẩy 11
loài, bộ cánh thẳng 4 loài, bộ cánh đều 4 loài, bộ cánh nửa cứng 2 loài, bộ
cánh màng 2 loài và bộ cánh tơ 1 loài. Trong điều kiện có nhiều thay đổi nh
hiện nay những loài xuất hiện ở mức trung bình nếu gặp điều kiện thuận lợi
cũng có thể dễ dàng bộc phát thành dịch.
Trong 24 loài sâu hại xuất hiện phổ biến trên có 6 loài xuất hiện nhiều
craccivora), rầy xanh (Empoasca ssp.), bọ trĩ (Scirtothrips ponsalis), và mối
(Odontotenmes sp.), trong đó nhiều loại trớc ở dạng thứ yếu nay nổi lên
thành đối t
ợng hại nghiêm trọng.
Trên cây lạc sự phát sinh gây hại của từng loại sâu cũng rất khác nhau,
tuỳ từng vùng, từng giống và giai đoạn sinh trởng. Nhóm sâu hại miệng
chích hút trong những năm gần đây đã gây hại nghiêm trọng cho lạc tại một
số vùng trồng lạc phía Bắc. Kết quả điều tra cho thấy, tỷ lệ cây bị hại giai
đoạn củ vào chắc 46 - 47%. Nhóm sâu hại này chỉ đáng lo ngại khi chúng gây
hại cây lạc còn nhỏ, sau mọc 35 - 45 ngày. Khi mật độ nhóm sâu này cao