HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
NGÔ NGỌC CƯỜNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP
THÚC ĐẨY HỢP TÁC CÔNG TƯ TRONG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
LỚP CAO HỌC QUẢN LÝ KINH TẾ: 804
MÃ SỐ: 60340410
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS BÙI THỊ HỒNG VIỆT
Hà Nội - 2014
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có xuất xứ rõ
ràng. Những kết luận trong luận văn chưa từng công bố trong bất cứ
công trình nào.
Tác giả luận văn
Ngô Ngọc Cường
2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT
Tiếng Việt
BVMT Bảo vệ môi trường
CGCN Chuyển giao công nghệ
CTMTQG Chương trình mục tiêu quốc gia
CCN Cụm công nghiệp
CN-TTCN Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
CP Cổ phần
CSSX Cơ sở sản xuất
EVN Vietnam Electricity (Tập đoàn Điện lực Việt Nam)
FHAN Federation of Handicraft Association of Nepal (Hiệp hội Thủ công
Nepal)
HACCP Phân tích mối nguy và kiểm soát tới hạn
HFIC Công ty Đầu tư Tài chính nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh
IT/ICT Công nghệ thông tin
LPVR Least present value of revenue (Giá trị hiện tại thấp nhất của doanh thu)
PFI Private Finance Initiative (sáng kiến tài chính tư)
PMC Phú Mỹ Corporation (Tập đoàn Phú Mỹ)
PPP Public Private Partnership (Đối tác công tư)
PSP Private Sector Participation (sự tham gia của khu vực tư)
SOE State own enterprise (Doanh nghiệp nhà nước)
TIFIA Transportation Infrastructure Finance and Innovation Act
UK United Kingdom (Vương quốc Anh)
VGF Viable Gap Fund (Quĩ bù đắp khoảng thiếu hụt tài chính)
VWS Vietnam Waste Solution (Công ty TNHH Xử lý chất thải rắn Việt Nam)
4
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
CHỮ VIẾT TẮT 3
MỤC LỤC 5
MỞ ĐẦU 8
Chương 1 19
1.1. Làng nghề 19
1.1.1. Khái niệm làng nghề và phân loại làng nghề 19
1.1.1.2. Phân loại làng nghề 20
1.1.2. Vai trò của làng nghề 22
1.1.3. Các yếu tố quyết định sự phát triển của làng nghề 25
1.2. HỢP TÁC CÔNG TƯ (PPP) TRONG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 29
hợp tác công tư trong phát triển làng nghề 104
Chương 3 106
KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HỢP TÁC
CÔNG TƯ TRONG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ Ở HÀ NỘI 106
3.1 TIỀM NĂNG VÀ CƠ HỘI CỦA PPP Ở CÁC LÀNG NGHỀ 106
3.1.1 Lĩnh vực có tiềm năng áp dụng PPP trong làng nghề 106
3.1.2 Cơ hội hợp tác công tư trong làng nghề 107
3.1.3 Đặc điểm của các dự án PPP trong tương lai 113
3.2. NHU CẦU HỢP TÁC VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC BÊN THAM GIA PPP TRONG
LÀNG NGHỀ 118
3.2.1 Nhu cầu và các hình thức PPP trong phát triển làng nghề 118
3.2.2 Vai trò của các bên tham gia hợp tác công tư trong làng nghề 120
3.3 ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PPP TRONG LÀNG NGHỀ
122
3.3.1 Quan điểm về chính sách, giải pháp thúc đẩy PPP trong làng nghề 122
3.3.2 Đề xuất chính sách thúc đẩy hợp tác công tư trong phát triển làng nghề 123
3.3.3 Giải pháp thúc đẩy PPP trong làng nghề 129
3.3.4 Khuyến nghị địa chỉ áp dụng chính sách và giải pháp thúc đẩy PPP trong phát triển
làng nghề 131
KẾT LUẬN 132
TÀI LIỆU THAM KHẢO 135
PHỤ LỤC 139
Danh mục các văn bản pháp luật liên quan đến làng nghề 139
6
7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam vốn là một nước nông nghiệp, nông dân chiếm đa số. Từ bao
đời nay ngành nghề truyền thống đã gắn bó với người dân nông thôn. Nó vừa
tạo công ăn việc làm lúc nông nhàn, tăng thu nhập cho người dân, vừa tạo dấu
và cơ sở ngành nghề ở nông thôn đang tăng lên với tốc độ bình quân từ 8,8-
9,8%/năm, hàng hoá của các làng nghề nước ta đã có mặt ở trên 100 nước
trên thế giới với kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng. Nếu như năm 2004,
kim ngạch xuất khẩu mới đạt 450 triệu đô la Mỹ, thì năm 2008 đã tăng lên
hơn 776 triệu và năm 2010 đạt khoảng gần 1 tỷ USD. Nếu tính cả các sản
phẩm đồ gỗ xuất khẩu thì tổng kim ngạch đạt trên 2,4 tỷ đô la Mỹ
3
. Phát triển
làng nghề là giải pháp hữu hiệu để tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân
nông thôn. Thu nhập bình quân của những người dân trong làng nghề cao gấp
1,7 lần so với bên ngoài
4
.
Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, các làng nghề gặp rất nhiều khó khăn,
phần vì do khủng hoảng kinh tế làm thu hẹp thị trường xuất khẩu, nhưng chủ
yếu là do những yếu kém trong nội tại của các làng nghề. Đó là các vấn đề
như: Quy hoạch phát triển; Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng; Quản lý môi
trường; Đầu tư công nghệ; Tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; Đào tạo và
phát triển nguồn nhân lực; Khai thác tiềm năng du lịch và các dịch vụ hỗ trợ
khác v.v Những hạn chế, yếu kém trên đang làm cho các làng nghề truyền
thống có nguy cơ khủng hoảng mất nghề, tan rã, đòi hỏi phải nghiên cứu tìm
giải pháp tháo gỡ kịp thời, hiệu quả. Một trong những giải pháp quan trọng,
đó là nghiên cứu chính sách và giải pháp nhằm thúc đẩy hợp tác công tư trong
phát triển làng nghề.
Việc thúc đẩy hợp tác công - tư trong phát triển làng nghề là đúng đắn
và cần thiết, phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh
2
Khuyến khích đầu tư vào làng nghề
3
Làng nghề và giải pháp xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề
5
Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống. Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 4/4/2012
10
Cho tới nay, việc khuyến khích sự hợp tác công - tư trong việc cùng hỗ
trợ làng nghề ở Việt Nam là vấn đề còn mới mẻ, chưa có tiền lệ. Xét về bản
chất, việc hỗ trợ các làng nghề trong một số mặt (xây dựng cơ sở hạ tầng,
quản lý môi trường, quy hoạch không gian làng nghề, chuyển giao khoa học
kỹ thuật hay hỗ trợ đào tạo ) đều có thể là các dịch vụ công, bán công, trong
đó nhà nước có thể trực tiếp hỗ trợ hoặc kêu gọi tư nhân tham gia, phù hợp
với chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong bối cảnh hiện nay, để hỗ trợ các làng nghề phát triển cần huy động sự
tham gia của nhiều bên, bao gồm nhà nước, khu vực tư nhân và các tổ chức xã
hội nghề nghiệp, các nhà đầu tư tại chỗ và bên ngoài, theo nguyên tắc cùng
chia sẻ lợi ích và rủi ro, theo định hướng và mục tiêu của nhà nước. Trên thực
tế, nước ta đã chủ trương áp dụng những bài học kinh nghiệm trong và ngoài
nước về hợp tác công - tư (PPP) trong phát triển làng nghề tại Việt Nam.
Chẳng hạn, Quyết định 2656 của Bộ NN&PTNT phê duyệt Chương trình Bảo
tồn và Phát triển làng nghề, cùng với những quy định pháp lý liên quan đến
PPP trong Quyết định 71/2010/QĐ-TTg, chủ trương thu hút tư nhân tham gia
cung cấp dịch vụ công thể hiện trong Nghị định 69/2008/NĐ-CP về xã hội
hóa hoạt động dạy nghề, môi trường, và chỉ thị 1792/2011/CT-TTg về tăng
cường quản lý đầu tư từ vốn NSNN và trái phiếu chính phủ quy định về cắt
giảm đầu tư công, tái cơ cấu đầu tư công kéo theo rất nhiều dự án phải chuyển
đổi hình thức đầu tư từ vốn NSNN, trái phiếu chính phủ sang hình thức BOT,
BT, hay PPP , hoặc bán, chuyển nhượng dự án, đã mở ra cơ hội cho việc kêu
gọi đầu tư phát triển làng nghề theo hình thức PPP.
Hà Nội là mảnh đất nghìn năm văn hiến, là thủ đô của cả nước, nơi
chứa đựng những tinh hoa văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc. Hà Nội cũng
là nơi có số lượng làng nghề nhiều nhất cả nước với 1.350 làng nghề trong đó
có 277 làng nghề được thành phố công nhận. Những làng nghề truyền thống ở
(Theo Nguyễn Hương: Phát triển nghề truyền thống trong xã hội hiện đại.
/>12
ở Hà Nội cũng như cả nước đang đứng trước những khó khăn như thiếu vốn
để duy trì và mở rộng sản xuất, thị trường tiêu thụ hạn chế, vấn đề đào tạo,
nâng cao tay nghề, vấn đề ô nhiễm môi trường, cơ sở hạ tầng kém phát triển
và các vấn đề xã hội khác đang ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống
dân cư các làng nghề và môi trường nông thôn nói chung, không bảo đảm sự
phát triển bền vững. Những khó khăn trên có thể được giải quyết nếu có cơ
chế, chính sách đúng đắn huy động được các nguồn lực trong xã hội, trong đó
có vấn đề hợp tác công tư trong lĩnh vực phát triển làng nghề - một vấn đề
còn rất mới ở nước ta. Việc nghiên cứu, đề xuất những chính sách và giải
pháp nhằm thúc đẩy hợp tác công - tư trong phát triển làng nghề trên địa bàn
Hà Nội là rất cần thiết, có ý nghĩa rất lớn về lý luận và thực tiễn trong quản lý
kinh tế, văn hóa và xã hội trên địa bàn Thủ đô nói riêng và cả nước nói chung.
Với những lý do nói trên, tôi chọn "Nghiên cứu chính sách và giải
pháp thúc đẩy hợp tác công tư trong phát triển làng nghề trên địa bàn Hà
Nội" làm đề tài luận văn thạc sỹ Quản lý kinh tế của mình.
2. Các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn.
Phương thức hợp tác công tư (PPP) đã có lịch sử hình thành và phát
triển lâu dài trên thế giới, và trở nên phổ biến từ những năm 1990. Cũng có
nhiều nghiên cứu phong phú và đa dạng về PPP, có thể kể đến một số nghiên
cứu gần đây và kết luận của các nghiên cứu này
7
:
- Hardcastle và các tác giả (2005), Jonh và Sussman (2006) khẳng định
không tồn tại một hình thức PPP chuẩn và mỗi nước đều có những chiến lược
về PPP riêng tuỳ thuộc vào bối cảnh, thể chế, nguồn tài trợ và tính chất của dự án;
- Yscombe (2007), Khulumane (2008) trong nghiên cứu của mình đã
nhấn mạnh: các quốc gia có thể chế nhà nước mạnh với khung pháp lý đầy đủ
và minh bạch thường thành công với PPP;
14
cầu và thực trạng môi trường ở Việt Nam và những đặc trưng của mối quan
hệ hợp tác công tư.
- Năm 2011, Vụ Pháp chế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã thực hiện đề tài
“Hoàn thiện khung pháp lý về hợp tác giữa nhà nước và tư nhân”. Đề tài
nghiên cứu tập trung chủ yếu vào việc phân tích, đánh giá thực trạng của việc
thực hiện các quy định về đầu tư phát triển hạ tầng của Việt Nam, hệ thống
các quy định về sự hợp tác giữa nhà nước - tư nhân trong đầu tư phát triển hạ
tầng, đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trên thế giới về vấn đề
này. Qua việc nghiên cứu hoạt động PPP trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, đề tài
cũng đã nghiên cứu đánh giá thực trạng của pháp luật về hợp tác nhà nước, tư
nhân. Bên cạnh đó, đề tài cũng đi sâu nghiên cứu các nguyên lý và yếu tố tác
động lên sự vận hành của mô hình PPP trên thế giới để tìm ra phương hướng
hoàn thiện quy định về PPP cho Việt Nam.
- Luân án Thạc sỹ kinh tế của Võ Quốc Trường (2011) về "Hợp tác
công tư trong lĩnh vực y tế - nghiên cứu trường hợp thành phố Hồ Chí Minh"
đi sâu nghiên cứu mô hình hợp tác công tư như là một giải pháp nhằm huy
động vốn tư nhân, thực hiện xã hội hóa y tế trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
- Luận án Tiến sĩ kinh tế của Huỳnh Thị Thúy Giang (2012) về “Hình
thức hợp tác công - tư (Public private partnership) để phát triển cơ sở hạ tầng
giao thông đường bộ Việt Nam” là một công trình nghiên cứu khá công phu
về PPP. Trong nghiên cứu này, tác giả đã nghiên cứu cách thức PPP hoạt
động tại những quốc gia chưa tồn tại thị trường PPP như Việt Nam để thu hút
vốn đầu tư phát triển đường bộ thông qua việc nghiên cứu các mô hình thực
nghiệm về PPP trên thế giới (bao gồm các nước phát triển và đang phát triển)
để tìm hiểu cách thức PPP vận hành và các nhân tố thành công trong việc
vượt qua các rào cản của hình thức này trong lĩnh vực đường bộ, lựa chọn mô
hình phù hợp áp dụng nghiên cứu trong điều kiện của Việt Nam. Nghiên cứu
15
cũng đánh giá tình hình đầu tư tư nhân trong lĩnh vực đường bộ ở Việt Nam
nghề ở Hà Nội thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn không nhằm vào các chính sách và giải pháp phát triển làng
nghề nói chung, mà là các chính sách và giải pháp thúc đẩy hợp tác công - tư
trong phát triển làng nghề ở Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề chủ yếu của làng nghề có thể
thực hiện hợp tác công - tư, bao gồm: Quy hoạch làng nghề, cơ sở hạ tầng
làng nghề, chuyển giao công nghệ, tiêu thụ sản phẩm, xử lý môi trường ,
trong đó tập trung vào vấn đề đào tạo nghề và xử lý môi trường
+ Về không gian: Tiến hành nghiên cứu, khảo sát 2 làng nghề tiêu biểu
là làng nghề chế biến nông sản ở Dương Liễu (Hoài Đức) và làng nghề gốm,
sứ Bát Tràng (Gia Lâm) Hà Nội.
Ngoài ra, Luận văn cũng đề cập ở một mức độ nhất định đến kết quả
nghiên cứu việc thực hiện PPP trong phát triển làng nghề tại một số cơ sở của
tỉnh Bắc Ninh và một số địa phương để đối chứng.
+ Về thời gian: Đề tài đi sâu tìm hiểu về các chính sách, chương trình,
dự án phát triển làng nghề và thúc đẩy PPP ở Hà Nội từ năm 2010 (gắn với
việc triển khai thực hiện Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 4/6/2010 của
Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp,
nông thôn) đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
17
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật mác-xít, chủ trương,
quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về phát triển
kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới, trong đó có vấn đề hợp tác công - tư trong
lĩnh vực phát triển làng nghề.
Về phương pháp cụ thể: Luận án sử dụng các phương pháp như điều tra
xã hội học, khảo sát thực tiễn tại một số làng nghề ở Hà Nội, sử dụng phương
nghề này, tồn tại đan xen nhiều mối quan hệ kinh tế, xã hội phong phú và
phức tạp.
Ngày nay ‘’làng nghề’’ được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ bó hẹp
trong phạm vi chính của một làng mà gồm một hoặc một số làng trên cùng
một tiểu vùng địa lý kinh tế, cùng sản xuất một số chủng loại mặt hàng truyền
thống hoặc cùng kinh doanh một ngành nghề phi nông nghiệp và có quan hệ
mật thiết với nhau về kinh tế, xã hội. Mặt khác, có những xã tất cả các làng
trong xã đều là làng nghề, trong trường hợp này, người ta gọi là xã nghề hoặc
rộng hơn gọi là vùng nghề.
Như vậy làng nghề là những làng ở nông thôn có những nghề phi nông
nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và thu nhập so với nghề nông.
Làng nghề được hình thành chủ yếu từ các vùng nông thôn và được tồn
tại theo cả một chặng đường lịch sử cho đến ngày nay.
- Ngành nghề nông thôn: " Là những hoạt động kinh tế phi nông nghiệp
bao gồm công nghiệp, thủ công nghiệp và các hoạt động dịch vụ phục vụ cho
sản xuất và đời sống; có trình độ và qui mô khác nhau; với mọi thành phần
kinh tế như hộ gia đình, hộ sản xuất, (gọi chung là hộ) và các tổ chức kinh
19
tế khác nhau như HTX, doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, xí nghiệp quốc
doanh chủ yếu của địa phương (gọi chung là cơ sở). Các tổ chức hộ và cơ sở
này với mức độ khác nhau đều có sử dụng các nguồn lực của địa phương (đất
đai, lao động, nguyên liệu, các nguồn lực khác) và có ảnh hưởng nhiều tới quá
trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương [25, tr 26].
- Cơ sở chuyên ngành nghề nông thôn: Là những cơ sở ở nông thôn
chuyên các hoạt động SXKD phi nông nghiệp (công nghiệp và thủ công
nghiệp, xây dựng và các loại dịch vụ) đã được cấp đăng ký doanh nghiệp theo
luật định, không phân biệt qui mô hoặc thành phần kinh tế nào (trừ các doanh
nghiệp nhà nước thuộc tổng công ty).
Phân loại theo thành phần kinh tế, cơ sở chuyên ngành nghề được chia
thành 5 nhóm: Tổ hợp sản xuất, HTX, doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH
. Phân theo nguồn gốc và quá trình phát triển.
Xét từ nguồn gốc và quá trình phát triển cùng với thời gian lịch sử cho
thấy làng nghề có 4 loại chủ yếu sau:
-Làng một nghề: Là những làng ngoài nghề nông ra chỉ có thêm một
nghề thủ công nghiệp duy nhất chiếm ưu thế tuyệt đối.
-Làng nhiều nghề: Là những làng ngoài nghề nông ra còn có thêm một
số nghề thủ công nghiệp.
-Làng nghề truyền thống: Là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời
trong lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay, là những làng nghề đã tồn tại hàng
trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm.
-Làng nghề mới: Là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan toả
của các làng nghề trong những năm gần đây, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới,
chuyển sang nền kinh tế thị trường.
21
1.1.3.4. Phân theo tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của làng nghề.
- Các làng nghề vừa sản xuất nông nghiệp vừa kinh doanh các ngành
nghề phi nông nghiệp.
- Các làng nghề thủ công chuyên nghiệp.
- Các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu
1.1.2. Vai trò của làng nghề
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn nói riêng
cùng với sự phát triển nền kinh tế thị trường và phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trước đây đã có những nhận
thức coi nhẹ làng nghề như làng nghề là nơi tận dụng sức lao động nhàn rỗi
trong sản xuất nông nghiệp một cách đơn thuần; sản phẩm sản xuất ra đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng là chủ yếu, sản phẩm hàng hóa của làng nghề chưa
được chú trọng…nhưng hiện nay nhận thức đó đã được thay đổi.
Trong nền kinh tế thị trường, phát triển làng nghề có ý nghĩa quan
trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất là đối với nước ta là một nước
có nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu thì việc phát triển làng nghề lại cực kỳ
thuật, các đối tượng là lao động thanh niên tạm thời nhàn rỗi chuyển sang
hoạt động ở những nghề mà họ có ưu thế hơn. Đây là một vấn đề hết sức quan
trọng làm cho kinh tế nông thôn phát triển tổng hợp, phong phú và đa dạng (ai
giỏi nghề gì, làm nghề đó). Điều đó giúp cho sản xuất nông nghiệp đẩy nhanh
được nhịp độ tập trung hóa, chuyên môn hóa và thâm canh hóa sản xuất, có
như vậy mới giải quyết công ăn việc làm cho người lao động và tăng thu nhập
cho họ. Theo một số kết quả điều tra, nghiên cứu mỗi cơ sở chuyên ngành
nghề ở các làng nghề tạo việc làm ổn định cho 27 lao động, mỗi hộ ngành
nghề cho 4-6 lao động. Ngoài lao động thường xuyên các hộ, các cơ sở ngành
nghề ở các làng nghề còn thu hút lao động nhàn rỗi trong nông thôn (Bình
23
quân 2-5 người/hộ và 8-10 người/ cơ sở) nhiều làng nghề đã thu hút trên 60%
số lao động vào các hoạt động ngành nghề [1].
1.1.2.2. Tạo thu nhập cho người lao động.
Theo kết quả điều tra đánh giá của Cục chế biến và ngành nghề nông
thôn (Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn), thu nhập bình quân của lao
động của các cơ sở chuyên ngành nghề phi nông nghiệp là 430.000đ/tháng, ở
hộ chuyên là 236.000đ/tháng, ở hộ kiêm là 186.000đ/tháng, bằng 1.7 – 3.9 lần
so với thu nhập bình quân của lao động nông nghiệp. Thu nhập từ các hoạt
động ngành nghề phi nông nghiệp ngày càng đóng vai trò chủ yếu trong lao
động của các hộ kiêm. ở các làng nghề số hộ đói hầu như không còn, số hộ
nghèo chiếm tỷ lệ nhỏ, số hộ giàu ngày càng tăng. Trên cơ sở tạo việc làm,
tăng thêm thu nhập, các làng nghề được coi là nhân tố chủ lực làm chuyển
dịch cơ cấu xã hội nông thôn theo hướng tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo, nâng
cao phúc lợi cho người dân.
1.1.2.3. Tăng giá trị tổng sản phẩm hàng hoá cho nền kinh tế.
Hiện nay làng nghề được phân bố rộng khắp ở các vùng, miền do đó
làng nghề có khả năng sử dụng tốt hơn các nguồn lực sẵn có ở nông thôn như:
các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn nguyên liệu, phế liệu, phụ phẩm
của nông nghiệp sản xuất ra, cũng như khai thác có hiệu quả nguồn vốn trong
riêng của từng địa phương. Vì vậy, cần duy trì và phát triển làng nghề nhất là
trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
1.1.3. Các yếu tố quyết định sự phát triển của làng nghề.
1.1.3.1. Vốn và tín dụng.
Sự phát triển của ngành nghề phi nông nghiệp ở các làng nghề thực
chất cũng là một bước, một hình thức của CNH nông thôn. Quá trình đó đòi
25