SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI LỚP 5 - Pdf 27

Lêi c¶m ¬n
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, sự hợp tác, giúp
đỡ nhiệt tình của
các đồng chí giáo viên trong nhà trường đã tạo điều kiện cho
tôi khảo sát thực
tế, thu thập số liệu, góp nhiều ý kiến cho tôi hoàn thành đề tài
sáng kiến này.
Do điều kiện nghiên cứu, thời gian, phạm vi có hạn nên sáng
kiến không thể
tránh khỏi những thiếu sót, kính mong sự góp ý chân thành
của đồng chí,
đồng nghiệp, của hội đồng khoa học cấp trường và cấp ngành
để SKKN của
tôi được hoàn thiện hơn và có giá trị ứng dụng thực tiễn. Tôi
xin chân
thành cảm ơn!
Ngêi viÕt
Lª ThÞ Hoµi Th¬ng
MỤC LỤC
A. Phần mở đầu:………………………………………….� ��…………………….
Trang 04
1. Lý do chọn đề tài :……………………………….…………� ��……
Trang 04
2. Mục đích nghiên cứu:………….………….… ………………
Trang 05
3. Phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu:…………………
Trang 05
4. Thời gian nghiên cứu:
Trang 06
B. Phần nội dung:……………………………….…………� ��… ………………
Trang 06

I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Theo “chiến lược con người” mà Đảng và nhà nước đã vạch ra
đường hướng rất đúng đắn là “ nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài”. Nhà trường của chúng ta hướng đến
phát triển tối đa những năng lực còn tiềm ẩn trong mỗi học sinh.
Ở trưởng tiểu học đồng thời với nhiệm vụ phổ cập giáo dục tiểu
học, việc chăm lo phát triển bồi dưỡng học sinh giỏi góp phần
đào tạo nhân tài cho đất nước được xem là một nhiệm vụ cần
thiết và quan trọng.
Nhiều năm qua, bản thân tôi được giao nhiệm vụ bồi dưỡng học
sinh giỏi môn Tiếng Việt lớp 5, tôi luôn luôn trăn trở đi sâu tìm
hiểu nội dung chương trình Tiếng Việt lớp 5 đại trà và nâng cao,
tìm phương pháp tối ưu để giảng dạy có hiệu quả. Và bản thân
tôi nhận thấy mục tiêu của việc bòi dưỡng học sinh giỏi tiếng
Việt không phải để tạo ra các nhà văn, nhà ngôn ngữ học mặc
dầu trên thực tế, trong những học sinh giỏi này sẽ có những em
trở thành những tài năng văn học, ngôn ngữ học. Mục tiêu chính
của việc làm này là bồi dưỡng lẽ sống, tâm hồn, khả năng tư duy
và năng lực ngôn ngữ, cảm thụ văn chương cho học sinh, góp
phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại. Để đạt
được những mục tiêu đó, việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn tiếng
Việt, đặt ra cho tôi những nhiệm vụ sau:
1. Phát hiện những học sinh có khả năng trở thành học sinh giỏi
Tiếng Việt.
2. Bồi dưỡng hứng thú Tiếng Việt cho học sinh.
3. Bồi dưỡng vốn sống cho học sinh.
4. Bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng Tiếng Việt cho học sinh.
Chính vì thế tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Bồi dưỡng
học sinh giỏi môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 5”.
Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi gặp phải những thuận

trình tích lũy lâu dài của các em,
II/ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Khảo sát thực trạng công tác bồi dưỡng và chất lượng học sinh
giỏi lớp 5 ở trường TH Nguyễn Văn Trỗi- cam Lộ - Quảng Trị.
Đề xuất một số biện pháp thực hiện công tác bồi dưỡng để nâng
cao chất lượng HS giỏi lớp 5 ở trường TH nguyễn Văn trỗi nói
riêng và ở trường Tiểu học nói chung.
III/ PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU:
1/ Phạm vi nghiên cứu: Do điều kiện thời gian có hạn nên đề
tài chỉ tập trung nghiên cứu một số biện pháp bồi dưỡng để nâng
cao chất lượng HS giỏi ở trường TH Nguyễn Văn Trỗi – Cam
Lộ- Quảng Trị.
2/ Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu biện pháp bồi dưỡng để
nâng cao chất lượng HS giỏi ở trường TH Nguyễn Văn Trỗi –
Cam Lộ- Quảng Trị.
3/ Phương pháp nghiên cứu:
a/ Phương pháp quan sát: Quan sát thức tế, thực trạng về công
tác chỉ đạo, công tác bồi dưỡng, quá trình học tập, chất lượng
học tập của HS giỏi lớp 5.
b/ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
c/ Phương pháp nghiên cứu tài liệu. Nghiên cứu sách, báo, giáo
trình có liên quan đến công tác bồi dưỡng HS giỏi.
Nghiên cứu chất lượng HS giỏi những năm trước. Nghiên cứư
công tác chỉ đạo của nhà trường đối với công tác bồi dưỡng HS
giỏi.
d/ Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Điều tra, phỏng vấn thu
thập thông tin về số liệu, chất lượng học sinh giỏi các năm trước
ở chuyên môn nhà trường, GVCN.
IV/ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU:

phong tào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh
tích cực”
Tuy nhiên thời gian dành cho chương trình bồi dưỡng đến khi
học sinh dự thi không phải là nhiều so với lượng kiến thức các
em cần nắm thì quá rộng. Bài tập cảm thụ văn học quá mới mẻ
và hết sức khó đối với các em.
Sự chú ý của các em chưa bền vững, khả năng tập trung chưa
cao nên học sinh thường nóng vội, đọc đề qua loa, chưa hiểu
thấu đáo đã bắt tay vào làm.
Trình độ ngôn ngữ của các em còn thấp mà yêu cầu đặt ra đối
với học sinh giỏi môn Tiếng Việt tương đối cao và đa dạng do
vậy nhiều năm liền số HSG đạt giải cấp huyện, cấp tỉnh rất ít và
chưa có giải cao.
Kết quả khảo sát chất lượng môn Tiếng Việt lớp 5: ( Đội tuyển)
2/ Chỉ tiêu phấn đấu:
Chỉ tiêu :HSG cấp huyện: 3-4 HS
HSG cấp tỉnh: 2-3 HS
IV/ NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP THỤC HIỆN:
A/ Tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt:
1/ Phát hiện học sinh có khả năng trở thành học sinh giỏi
môn Tiếng Việt:
Những học sinh có khả năng về môn Tiếng Việt có những biểu
hiện sau:
Các em có lòng say mê văn học, có hứng thú với nghệ thuật
ngôn từ, yêu thích thơ ca, ham mê đọc sách báo, thích nghe kể
chuyện, có những em ước mơ thành nhà văn hoặc trở thành cô
giáo dạy bồi dưỡng môn văn - Tiếng Việt. Phần lớn các em
không hờ hửng trước vẻ đẹp của ngôn từ văn chương, gắng ghi
nhớ và ghi chép những câu văn hay.
Các em có những phẩm chất tư duy có tính thống nhất: tư duy

Đoạn văn của em học sinh giỏi nó có tác động không phải chỉ
vào lí trí mà cả tình cảm của người đọc.
Vậy cần đặt vấn đề phải phát hiện những học sinh có khả năng
giỏi Tiếng việt từ lúc nào? Nên tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi
từ lớp nào?
Trên thực tế, có nhiều trường khi chuẩn bị thi học sinh giỏi mới
tập trung một số buổi để ôn luyện, nhiều trường bồi dưỡng từ
lớp 4. Có thể nói việc bồi dưỡng học sinh giỏi càng bắt đầu sớm
bao nhiêu càng có hiệu quả bấy nhiêu.
Ở lớp 1, nhiệm vụ chính của các em là nhanh chóng chiếm lĩnh
công cụ chữ viết, đọc thông - viết thạo nên ở những trường có
điều kiện cũng chỉ nên bồi dưỡng học sinh giỏi từ lớp 2.
Để phát hiện những học sinh có năng lực Tiếng Việt, cần có sự
điều tra các phép đo nhằm khảo sát, tìm hiểu hứng thú, tìm hiểu
thông qua phụ huynh, phỏng vấn trực tiếp các em, theo dõi, nắm
tình hình học tập của trẻ.
2/ Bồi dưỡng hứng thú học tập:
Hứng thú có vai trò quan trọng trong học tập và làm việc. Không
có việc gì người ta không làm được dưới ảnh hưởng của hứng
thú. Vì vậy M.goocki có nói: “ Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối
với công việc”. Vì vậy bồi dưỡng hứng thú học tập rất quan
trọng. Không có con đường nào khác là giúp các em thấy được
vẻ đẹp và khả năng kì diệu của tiếng Việt – văn học, từng giờ,
từng phút trong giờ Tiếng Việt, người giáo viên đều hướng đến
hình thành và duy trì hứng thú cho học sinh.
Ví dụ cách giới thiệu bài: Chúng ta đã được học rất nhiều bài về
mẹ, “Bao tháng bao năm mẹ bế con trên đôi tay mềm mại ấy” “
mẹ là ngọn gió của con suốt đời” “ Bình yêu nhất là đôi bàn tay
mẹ, những ngón tay gầy gầy xương xương” Hôm nay, chúng
ta lại được học một bài có tựa đề về “ Mẹ” của nhà thơ Bằng

tượng dù có bay bổng đến mấy vẫn phải có cơ sở bắt nguồn từ
thực tiễn. Người giáo viên đóng vai trò dẫn dắt, gợi mở, tạo
nguồn cảm hứng khơi dậy suy nghĩ trong các em như khi quan
sát một con lợn, một cây chuối đang trổ buồng, một đàn kiến tha
hạt gạo, một cây bàng đang thay lá
Giáo viên cần xây dựng cho học sinh hứng thú và thói quen đọc
sách . Đọc sách, các em không chỉ được thức tỉnh về nhận thức
mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp khơi
dậy năng lực hành động, bồi dưỡng tâm hồn. Người xưa nói: “
trong bụng không có 3 vạn quyển sách, trong mắt chưa có núi
sông kì lạ của thiên hạ thì chưa học được văn”.
4/ Bồi dưỡng kiến thức kĩ năng Tiếng Việt:
4.1 bồi dưỡng kiến thức- kĩ năng từ ngữ: Được chia làm 2 mãng
lớn:
a/ Bồi dưỡng lí thuyết về từ: Nội dung không vượt ra ngoài 12
bài lí thuyết về từ, từ đơn, từ ghép, từ láy, từ ghép tổng hợp, từ
ghép phân loại, các kiểu từ láy, các dạng từ láy, nghĩa của từ láy,
từ tượng hình, từ tượng thanh, từ nhiều nghĩa, từ cùng nghĩa, từ
trái nghĩa, từ cùng âm khác nghĩa
b/ Phân loại nhận diện từ theo cấu tạo:
Dựa vào số lượng tiếng của từ chia ra từ đơn và từ đa âm.
Phân loại nhóm từ đa âm phải dựa vào mối quan hệ giữa các
tiếng trong từ: Nếu có mối quan hệ về mặt ngữ nghĩa là từ ghép.
Nếu có mối quan hệ về âm là từ láy.
Lưu ý ở tiểu học, những từ thuần Việt như tắc kè, bồ hóng, bồ
kết hay những từ vay mượn: mì chính, xà phòng, mít tinh là
những từ mà cả 2 tiếng đều không có quan hệ cả về nghĩa lẫn về
âm, vì vậy những từ này không được dùng làm ngữ liệu để ra bài
tập. Nếu HS chủ động đưa ra để hỏi thì giáo viên trả lời đó là
một từ ghép đặc biệt: từ ghép ngẫu hợp

Dạng 7: Điền từ vào chỗ trống.
Và nhiều dạng khác nữa, giáo viên phải nắm chắc, cho HS được
tiếp cận nhiều lần thì bài kiểm tra mới đạt hiệu quả cao.
4.2 Bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng ngữ pháp: trong các đề thi học
sinh giỏi, phần ngữ pháp thường chiếm số điểm 5/20.
Các dạng đề và những điều cần lưu ý cho HS:
1/ Khái niệm câu và bản chất của câu:
Các em thường nhầm trạng ngữ là câu, nhầm ngữ danh từ là câu,
thường đặt câu thiếu thành phần. Vì vậy cần tập trung vào các
dạng bài tập:
- các ví dụ sau, ví dụ nào đã thành câu? Ví dụ nào chưa thành
câu? Vì sao? Chữa lại cho đúng.
- Chữa câu sai bằng 2 cách
2/ Cấu tạo ngữ pháp của câu, các thành phần câu:
Đó là các dạng bài tập: Yêu cầu HS chỉ ra các thành phần của
câu cho sẵn
Yêu cầu HS tìm bộ phận chính, bộ phận phụ của câu
Yêu cầu HS kết hợp các thành phần câu
Dạng mở rộng nòng cốt câu bằng cách thêm các thành phần phụ.
3/ Kiến thức về dấu câu và kĩ năng sử dụng dấu câu.
Dạng cho một đoạn văn không có dấu câu yêu cầu HS tự đánh
dấu câu và chỗ thích hợp.
Dạng chữa lại những chỗ đã đặt dấu câu không đúng.
4/ Kiến thức về từ loại, kĩ năng xác định từ loại:
Dạng yêu cầu HS tìm danh từ, động từ, tính từ trong câu, đoạn
văn
5 Bồi dưỡng cảm thụ văn học:
Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học là một quá trình lâu dài và
công phu. Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học trước hết là bồi
dưỡng vốn sống cho các em. Có vốn sống các em mới có khả

nhàm chán.
Thứ 2: giáo viên cần rèn luyện cho HS kĩ năng tìm hiểu phân
tích đề, quan sát tìm ý, những kĩ năng diễn đạt , viết đoạn và
hoàn thiện bài viết.
Trong khâu luyện làm văn, khâu đánh giá, sửa chữa rất quan
trọng. Giáo viên cần chấm chữa bài cho từng em thật kĩ lưỡng,
trả bài giúp HS thấy được những ưu khuyết điểm của bài viết
của mình, tự rút ra kinh nghiệm và sửa chữa. Nên tạo không khí
trao đổi, tranh luận khi chữa bài.
V/ KẾT QUẢ:
Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu thực hiện đề tài này, tôi nhận
thấy tuy đây mới chỉ là bước đầu vừa làm vừa rút kinh nghiệm
nhưng HS giỏi môn Tiếng Việt khối 5 mà tôi phụ trách đã có
nhiều bước chuyển biến mới. Về kiến thức từ ngữ, ngữ pháp các
em nắm rất chắc và đã quen thuộc với các dạng đề. Về khả năng
cảm thụ văn học và làm văn thì điểm tốt mới dùng lại ở một số ít
HS nhưng các em đã có sự tiến bộ vượt bậc so với khảo sát đầu
năm học :
- Năm học 2007 – 2008:
Kết quả thi HSG cấp huyện: Giải nhì: 1 em
Giải ba: 1 em
Giải khuyến khích: 2 em
Kết quả thi HSG cấp tỉnh: Giải ba: 1 em
Giải khuyến khích: 2 em
- Năm học 2008-2009:
Kết quả thi HSG cấp huyện: Giải nhì: 1 em
Giải khuyến khích: 2 em
Kết quả thi HSG cấp tỉnh: Giải khuyến khích: 2 em
C/ PHẦN KẾT LUẬN:
I/ BÀI HỌC KINH NGHIỆM:

tạo nền tảng vững chắc cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
Cam Hiếu, ngày 15 tháng 11 năm 2010
Đánh giá của Tổ CM và Người viết:
HĐKH nhà trường
Lê Thị Hoài Thương
PHỤ LỤC
1/ Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt I ở tiểu học
2/ Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt II ở tiểu học
3/ Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2
4/ Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3
5/ Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4
6/ Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5
7/ Luyện cảm thụ văn học ở tiểu học
8/ Giúp em học tốt Tiếng Việt 5
9/ Bồi dưỡng, phát triển văn 4-5
10/ 27 đề tuyển chon TLV 5
11/ Chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi văn 4-5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status