Phương pháp giải bài tập nhận biết một số chất vô cơ
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI
***
BÀI TẬP NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP
NHẬN BIẾT MỘT SỐ CHẤT VÔ CƠ
Người hướng dẫn : TS:Nguyễn Đă
Sinh viên : Nguyễn Thị Hiền
Lớp : ĐHTC Hoá I-Hà Nam
SV:Nguyễn thị Hiền-LớpĐHTC Hoá Hà Nam
1
Phương pháp giải bài tập nhận biết một số chất vô cơ
MỤC LỤC
Trang
Phần I : Mở đầu ……………………………………………… 4
1. Lý do chọn đề tài ………………………………………… 4
2. Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu ……………………………. 5
3. Đối tượng nghiên cứu …………………………………… 6
4. Phương pháp nghiên cứu …………………………………… 7
Phần II : Nội dung ……………………………………………… 7
I. Nội dung chính ……………………………………………… 7
1. Kiến thức cơ bản ………………………………………… 7
2. Các dạng bài tập điển hình ………………………………… 7
II. Nội dung cụ thể ……………………………………………… 7
A. Kiến thức cơ bản ………………………………………… 7
1. Trạng thái màu sắc của đơn chất …………………………. 8
2. Cách nhận biết các chất khí ………………………………. 8
3. Cách nhận biết các chất ở thể rắn ………………………. 9
4. Nhận biết axit và muối ………………………………… 9
5. Cách trình bày bài nhận biết ……………………………. 10
năng lực thích ứng, năng lực tư duy sáng tạo…Những yêu cầu trên đặt ra cho ngành
giáo dục phải đổi mới toàn diện để đáp ứng tốt hơn nhu cầu giáo dục của xã hội và
các nhân, từ chế độ đào tạo, cách thiết kế chương trình, những phương pháp cách
thức dạy học phù hợp .
Người giáo viên trong thời đại ngày nay không còn đơn thuần là người truyền
thụ kiến thức mà phải là người giữ vai trò điều khiển quá trình nhận thức, rèn luyện
tư duy sáng tạo, khả năng độc lập giải quyết vấn đề cho học sinh. Đồng thời giáo
viên là người nghiên cứu phát hiện những học sinh có năng lực trí tuệ sáng tạo và
tìm tòi những phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi để tạo nguồn nhân tài cho đất
nước, đào tạo những con người tài năng, nhanh nhạy bắt kịp với tốc độ phát triển
của nền kinh tế tri thức. Do đó,người giáo viên phổ thông cũng cần phải mở rộng sự
hiểu biết, không ngừng học hỏi, tìm tòi nghiên cứu những phương pháp những cách
thức giáo dục mới, có hiệu quả tối ưu. Để từ đó có những kinh nghiệm truyền thụ
kiến thức làm cho học sinh tiếp thu một cách tốt nhất, hiệu quả nhất.
Là một người giáo viên trẻ trong thế kỉ XXI này tôi tự nhận thấy mình phải
không ngừng học hỏi, nghiên cứu, tìm tòi để có đủ điều kiện và có khả năng đáp ứng
được những yêu cầu đặt ra đối với nền giáo dục hiện đại.
Hoá học là một môn khoa học thực nghiệm, qua các thí nghiệm học sinh lĩnh
hội được kiến thức, hiểu được bản chất của các hiện tượng. Là giáo viên bộ môn đã
qua một vài năm giảng dạy tôi nhận thấy học sinh nhận biết các hoá chất rất chậm,
điều kiện thực hành còn rất nhiều hạn chế nên kỹ năng còn rất lúng túng. Còn khi
gặp dạng bài tập nhận biết các chất thì học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn, lúng
SV:Nguyễn thị Hiền-LớpĐHTC Hoá Hà Nam
4
Phương pháp giải bài tập nhận biết một số chất vô cơ
túng, chưa tìm ra được các phương pháp nhận biết tối ưu nhất, việc trình bày và sử
dụng ngôn ngữ hoá học của các em còn nhiều hạn chế.
Chính vì vậy tôi quyết định chọn đề tài của mình là Nhận biết các chất,
nhưng do thời gian hạn chế và chương trình môn hoá học ở THCS chủ yếu nghiên
cứu về các chất vô cơ nên tôi chỉ đề cập đến Phương pháp giải bài tập nhận biết
- Ôn tập những kiến thức đã học
- Rèn luyện tư duy, tính nhạy bén và khả năng nắm vững kiến thức của học
sinh
- Giúp học sinh vận dụng những kiến thức của mình về tính chất vật lý cũng
như tính chất hoá học của các chất để nhận biết.
- Gắn kết giữa lý thuyết và thực hành, giúp cho học sinh khỏi lúng túng khi giải
quyết vấn đề nào đó trong cuộc sống có liên quan đến việc nhận biết các chất.
- Tạo điều kiện cho học sinh nắm bắt vấn đề một cách nhanh chóng nhằm giúp
cho học sinh hiẻu rõ và nhớ sâu hơn những kiến thức đã học, đồng thời cũng có
những bài tập khó giành cho học sinh khá giỏi để phát triển nâng cao kiến thức của
học sinh.
Do số tiết học ít nên thời gian giải bài tập trên lớp rất ít nên học sinh chưa nắm
được phương pháp giải và phân loại được các dạng bài tập. Nếu các em nắm được
phương pháp giải, biết phân loại các bài toán thì các em sẽ cảm thấy tự tin hơn, yêu
thích bộ môn hơn, từ đó kích thích được lòng ham mê, tính tư duy sáng tạo trong
quá trình học tập.
Tôi chọn đề tài này mong muốn góp phần bổ sung cho các em phần nào kiến
thức cần có trong chương trình hoá học ở THCS để làm hành trang cho các em tiếp
tục học lên PTTH
Phạm vi nghiên cứu còn nhỏ hẹp nhưng tôi nghĩ nó sẽ có tác dụng tích cực
đối với việc rèn luyện tư duy sáng tạo, khả năng vận dụng linh hoạt các kiến thức
của học sinh. Sau đây là một số dạng toán nhận biết với mức độ từ trung bình đến
khó thường gặp trong các kì thi chọn học sinh giỏi, thi vào trường chuyên lớp chọn
…
3. Đối tượng nghiên cứu
SV:Nguyễn thị Hiền-LớpĐHTC Hoá Hà Nam
6
Phương pháp giải bài tập nhận biết một số chất vô cơ
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài
+ Phương pháp dạy học hoá học ở THCS
P : Chất rắn, màu trắng hoặc đỏ
Ag : Chất rắn, màu trắng
Cu : Chất rắn, màu đỏ gạch
Hg : Chất lỏng, màu trắng
Br
2
: Chất lỏng, màu đỏ nâu
Cl
2
: Chất khí, màu vàng lục
2. Cách nhận biết các chất khí
Chất nhận
biết
Thuốc thử Hiện tượng
Cl
2
dd KI và hồ tinh bột Hoá xanh
SO
2
dd Br
2
Làm mất màu dd Br
2
HCl dd AgNO
3
Tạo AgCl
↓
trắng
H
H
2
Hơi H
2
O
O
2
,t
o
CuSO
4
khan (Trắng )
Tạo những giọt nước li ti,có
tiếng nổ nhẹ.
SV:Nguyễn thị Hiền-LớpĐHTC Hoá Hà Nam
8
Phương pháp giải bài tập nhận biết một số chất vô cơ
Hoá xanh
3. Cách nhận biết một số đơn chất ở thể rắn :
Chất nhận biết Thuốc thử Hiện tượng
K, Na, Li, Ca,
Ba,
H
2
O Tan, có khí H
2
thoát ra
Al, Zn dd kiềm ( NaOH, KOH ) Tan, có khí H
2
thoát ra
tím hoá đỏ
C (Đen ) Đốt cháy, cho sản phẩm lội qua
nước vôi trong
Tạo khí CO
2
làm đục
nước vôi trong
4. Nhận biết các axit và muối
Hoá chất Thuốc thử Dấu hiệu
Clorua
Sunfat
Sunfit
Phốtphat
d
2
AgNO
3
d
2
BaCl
2
d
2
HCl
d
2
AgNO
3
AgCl
↓
Ba
2+
Ca
2+
Mg
2+
Muối Fe
2+
Fe
3+
Cu
2+
Al
3+
Muối Na
K
Ca
Axit mạnh
d
2
BaCl
2
,CaCl
2
Kiềm
Axit mạnh
d
3
hoặc muối
có gốc CO
3
2-
d
2
NaOH
d
2
NaOH
d
2
NaOH
d
2
NaOH
d
2
NH
4
OH
Đốt với ngọn lửa
không màu
CO
2
↑
, làm nước vôi trong
vẩn đục
↑
mùi trứng thối
BaSO
4
↓
trắng
CaCO
3
↓
trắng
Mg(OH)
2
↓
trắng
Fe(OH)
2
↓
trắng xanh
Fe(OH)
3
↓
đỏ nâu
Cu(OH)
2
VD : Nhận biết 4 lọ mất nhãn, mỗi lọ đựng 1 trong 4 dung dịch sau: NaOH,
Na
2
SO
4
, H
2
SO
4
l và HCl .
* Giáo viên có thể đặt một số câu hỏi sau :
- Hãy đọc tên và phân loại các chất trên (thuộc chất vô cơ nào đã học) ?
- Những phản ứng đặc trưng nào để nhận biết dung dịch axit ?
- Những phản ứng đặc trưng nào để nhận biết dung dịch bazơ ?
- Dung dịch muối Na
2
SO
4
có làm đổi màu chất chỉ thị ( quỳ tím ) hay không ?
* Sau đó học sinh lên bảng trình bày sơ đồ nhận biết của mình. Giáo viên cho
nhận xét bổ sung
NaOH , Na
2
SO
4
, H
2
SO
4
, HCl
- Bước 3 : Cho thuốc thử vào mẫu, trình bày hiện tượng quan sát được( mô tả
hiện tượng ) rút ra kết luận đã nhận ra được hoá chất nào,hoặc thành các nhóm chất
có cùng hiện tượng với thuốc thử đó.
- Bước 4: Viết phương trình phản ứng minh hoạ
VD :Trình bày bài tập ở VD trên :
- Lấy mỗi lọ một ít hoá chất cho vào ống nghiệm khác nhau .
- Lần lượt cho quì tím vào từng ống nghiệm, ống nghiệm nào làm quì tím hoá
xanh là dung dịch NaOH, ống nghiệm không làm đổi màu quì tím là dung dịch
Na
2
SO
4
, 2 ống nghiệm làm quì tím hoá đỏ là 2 dung dịch H
2
SO
4
và HCl.
- Nhỏ vài giọt BaCl
2
vào 2 ống nghiệm đựng 2 axit H
2
SO
4
và HCl. ống
nghiệm nào có kết tủa trắng là H
2
SO
4
. Chất còn lại là HCl
- PTPƯ : H
Kết luận đã nhận ra ( 1 ) A ( 2 ) B ( 3 ) C …
Chú thích :
↑
Chất khí
↓
Chất kết tủa
“_” không có dấu hiệu gì
- Sau cùng viết các PTPƯ xảy ra khi nhận biết
B. Các dạng bài tập điển hình
DẠNG 1: Nhận biết các chất dựa vào tính chất vật lý
Loại bài toán này dựa vào sự khác nhau về tính chất vật lý như : màu sắc, mùi,
vị, tính tan trong nước …
Các tính chất đặc trưng cho từng chất như: khí CO
2
không cháy, sắt bị nam
châm hút, khí NH
3
có mùi khai, khí H
2
S có mùi trứng thối, khí NO
2
có màu đỏ nâu,
khí NO không màu sau đó hoá nâu trong không khí….
Bài toán 1:
Có 3 lọ mất nhãn đựng các chất rắn ở dạng bột đó là: NaOH, CuO, Mg(OH)
2
.
Làm thế nào để nhận biết các lọ đó bằng tính chất vật lý
* Phân tích :
bình đựng khí O
2
.
Bài toán 3:
Dựa vào tính chất vật lý hãy phân biệt các chất khí gồm khí H
2
, khí Cl
2
, khí H
2
S
đựng trong các bình thuỷ tinh bị mất nhãn trong suốt .
* Phân tích :
Học sinh dựa vào màu sắc và mùi của các khí để nhận ra từng khí .
* Giải :
- Ta dễ dàng nhận ra khí Cl
2
vì nó có màu vàng lục .
- Hai bình còn lại mở nắp bình, vẩy tay, bình nào khí có mùi trứng thối thì
bình đó chứa khí H
2
S .
- Bình còn lại chính là bình chứa khí H
2
Bài toán 4:
Dựa vào tính chất vật lý, hãy phân biệt 3 bình chứa 3 bột kim loại đều có màu
trắng bạc bị mất nhãn gồm: Fe, Al và Ag.
* Phân tích:
SV:Nguyễn thị Hiền-LớpĐHTC Hoá Hà Nam
14
15
Phương pháp giải bài tập nhận biết một số chất vô cơ
- Tất cả các chất được chọn dùng để nhận biết các hoá chất theo yêu cầu của đề
bài đều được coi là thuốc thử ( kể cả quì tím, phenolphtalein )
-Có thể dùng những chất đã nhận biết được hoặc các sản phẩm sinh ra trong quá
trình nhận biết làm thuốc thử.
Nhận biết các chất bằng phương pháp hoá học có các dạng thường gặp sau đây :
1. Nhận biết các chất (rắn , lỏng, khí ) riêng biệt
- Với loại bài tập này yêu cầu của đề bài là nhận biết n hoá chất thì chỉ cần nhận
biết ( n – 1 ) hoá chất, chất còn lại là chất thứ n.
- Học sinh cần sử dụng bảng nhận biết để nhận ra các hoá chất.
Nhận biết các hoá chất với thuốc thử không hạn chế.
Bài toán 1:
Có 5 lọ mất nhãn đựng 5 dung dịch sau:
HCl, NaOH, NaCl, Na
2
SO
4
, NaNO
3
. Bằng phương pháp hoá học hãy nhận biết
dung dịch trong mỗi lọ.
* Phân tích:
- Học sinh biết được dùng quỳ tím để nhận ra dung dịch HCl và NaOH.
- 3 dung dịch còn lại dùng các phản ứng đặc trưng của các gốc axit.
* Giải:
Trích mỗi dung dịch một ít dung dịch dùng làm mẫu thử cho vào 5 ống nghiệm.
Dùng 5 mẩu giấy quỳ tím nhung vào 5 ống nghiệm và quan sát. ống nào làm quỳ tím
chuyển thành màu đỏ đó là dung dịch HCl, ống nào làm quỳ tím chuyển thành màu
xanh đó là dung dịch NaOH. 3 dung dịch còn lại không có hiện tượng gì là NaCl,
trắng thì đó là dung dịch NaCl.
NaCl + AgNO
3
→
AgCl
↓
+ NaNO
3
SV:Nguyễn thị Hiền-LớpĐHTC Hoá Hà Nam
16
Phương pháp giải bài tập nhận biết một số chất vô cơ
Còn lại là dung dịch NaNO
3
Chú ý:
- Khi trình bày các hiện tượng thì phải kèm theo các phương trình phản ứng minh
họa ( theo phương pháp song song )
- Đối với 3 gốc SO
4
2-
, Cl
-
và NO
3
-
trong cùng một dung dịch thì nên nhận biết gốc
SO
4
2-
trước sau đó mới nhận biết đến gốc Cl
2
SO
4
và HNO
3
. Bằng phương
pháp hoá học hãy nhận biết dung dịch trong mỗi lọ.
* Phân tích :
Vì 3 dung dịch đều là dung dịch axit nên để nhận biết được 3 axit này học sinh
phải dựa vào các phản ứng đặc trưng của các gốc axit.
* Giải :
Trích mỗi lọ một ít dung dịch làm thuốc thử đựng riêng trong từng ống nghiệm.
- Dùng dung dịch BaCl
2
làm thuốc thử đầu tiên: cho vài giọt d
2
BaCl
2
vào các
mẫu thử và quan sát;
Ống nghiệm nào xuất hiện kết tủa trắng đó là mẫu đựng dung dịch H
2
SO
4
.
H
2
SO
4
+ BaCl
axit, nhận biết Fe và Mg dựa vào màu của bazơ tương ứng.
* Giải :
- Cho dung dịch NaOH vào 4 ống nghiệm. Cho lần lượt một chút bột 4 kim loại
vào 4 ống nghiệm đó, chỉ có Al tan và có bọt khí bay ra, nhận ra Al còn 3 kim loại
kia không có hiện tượng gì.
2Al + 2NaOH + 2H
2
O
→
2NaAlO
2
+ 3H
2
↑
- Nhận biết Ag bằng dung dịch HCl:
Cho 3 kim loại còn lại vào 3 ống nghiệm đựng dung dịch HCl, kim loại nào
tan đó là Mg và Fe cho 2 muối MgCl
2
và FeCl
2
Mg + 2HCl
→
MgCl
2
+ H
2
↑
Fe + 2HCl
→
FeCl
Trắng xanh
4Fe(OH)
2
+ 2H
2
O + O
2
→
4Fe(OH)
3
↓
Nâu đỏ.
* Chú ý :
- Nên dùng NaOH để nhận biết ra Al trước sau đó mới dùng HCl đẻ nhận biết
ra Ag
- Nếu nhận biết Ag trước thì 3 kim loại còn lại nhận biết khó hơn.
Bài toán 4 :
SV:Nguyễn thị Hiền-LớpĐHTC Hoá Hà Nam
18
Phương pháp giải bài tập nhận biết một số chất vô cơ
Bằng biện pháp hoá học hãy nhận biết 4 lọ mất nhãn chứa các dung dịch sau:
NaOH, HCl, NaCl, NH
4
Cl
* Phân tích :
Học sinh nắm được 4 hoá chất này gồm 3 loại axit, bazơ và muối. Dùng quỳ
tím nhận ra axit và bazơ, NH
4
Cl có phản ứng đặc trưng tạo ra khí NH
O
3
(1) Al
2
O
3
(2) Al + Fe
2
O
3
(3)
Dùng những phản ứng thích hợp để phân biệt 3 lọ trên. Viết các PTPƯ xảy ra.
* Phân tích :
Học sinh cần nắm được ở đây Fe và Fe
2
O
3
không tan được trong dung dịch
NaOH còn Al và Al
2
O
3
tan được: Al tan trong NaOH tạo ra khí còn Al
2
O
3
thì tan
nhưng không tạo ra chất khí.
* Giải :
Trích mỗi lọ một ít làm mẫu thử. Cho mẫu thử từng chất vào dung dịch NaOH
2
O
→
NaAlO
2
+ 3 H
2
2
Fe
2
O
3
không tan trong dung dịch NaOH
Lưu ý :
Nhận biết các chất với thuốc thử không hạn chế thì khâu chọn hoá chất rất
quan trọng vì nếu chọn hoá chất làm thuốc thử không thích hợp thì quá trình nhận
biết sẽ rất phức tạp và khó khăn, có thể không nhận ra hoá chất muốn tìm, mà lại
lãng phí hoá chất.
Khi chọn thuốc thử thì thuốc thử đó chỉ tác dụng với hoá chất cần nhận biết và
có dấu hiệu rõ ràng để thuận tiện cho việc nhận ra các hoá chất.
1.2. Nhận biết các chất riêng biệt với thuốc thử hạn chế.
Dạng bài tập này dùng thuốc thử duy nhất đó tìm ra một chất trong các chất đã cho.
Dùng chất đã tìm được làm thuốc thử cho các lọ còn lại .
Bài toán 1:
Có 4 lọ chứa các dung dịch H
2
SO
4
, HCl, NaCl, và BaCl
2
2
→
BaSO
4
↓
+ 2HCl
SV:Nguyễn thị Hiền-LớpĐHTC Hoá Hà Nam
20
Phương pháp giải bài tập nhận biết một số chất vô cơ
Axit còn lại sẽ là HCl, muối còn lại là NaCl
Bài toán 2 :
Chỉ dùng một hoá chất duy nhất, hãy nhận biết các lọ mất nhãn đựng các
dung dịch sau: H
2
SO
4
, Na
2
SO
4
, Na
2
CO
3
và MgSO
4
bằng phương pháp hoá học.
* Phân tích :
nhỏ vào các mẫu thử còn lại thấy mẫu nào xuất hiện bọt
khí thì đó là H
2
SO
4
.
H
2
SO
4
+ Na
2
CO
3
→
Na
2
SO
4
+ H
2
O + CO
2
↑
Mẫu nào xuất hiện kết tủa nhận được MgSO
4
, mẫu còn lại chính là Na
2
+ 2 muối không tan là: BaCO
3
, BaSO
4
+ 3 muối tan là: NaCl, Na
2
CO
3
, Na
2
SO
4
- Cho dung dịch HCl vào 2 mẫu không tan nếu mẫu nào tan và xuất hiện bọt
khí thì đó là muối BaCO
3
.
BaCO
3
+ 2HCl
→
BaCl
2
+ H
2
O + CO
2
↑
Mẫu còn lại là BaSO
4
- Cho dd HCl vào 3 mẫu tan, mẫu nào xuất hiện khí bay ra là Na
BaSO
4
↓
+ 2NaCl
Mẫu còn lại chính là muối NaCl
* Chú ý :
- Nếu không cho nước vào trước để phân biệt thành 2 nhóm thì không nhận
biết ra được các muối trên.
- H
2
O cũng được coi là hoá chất để nhận biết các chất
Bài toán 4:
Có 5 mẫu kim loại: Ba, Mg, Fe, Ag, Al. Chỉ dùng dung dịch H
2
SO
4
loãng để
nhận ra các dung dịch trên.
* Phân tích :
Học sinh phải nắm được Ag không phản ứng với axit H
2
SO
4
loãng và Al là kim
loại lưỡng tính, còn Ba là kim loại kiềm thổ có thể phản ứng được với nước.
* Giải :
- Lấy 5 ống nghiệm đựng dung dịch H
2
SO
+ H
2
↑
2Al + 3H
2
SO
4
l
→
Al
2
(SO
4
)
3
+ 3H
2
↑
Mg + H
2
SO
4
l
→
MgSO
4
+ H
2
↑
- Thêm tiếp Ba vào cho tới dư ( không còn xuất hiện kết tủa khi cho Ba vào ),
2
cho vào dung dịch MgSO
4
và FeSO
4
, ở mẫu
nào kết tủa khi để biến đổi một phần thành màu nâu đỏ ứng với kim loại Fe .
MgSO
4
+ Ba(OH)
2
→
Mg(OH)
2
↓
+ BaSO
4
↓
FeSO
4
+ Ba(OH)
2
→
Fe(OH)
2
↓
* Phân tích :
Ở bài toán này học sinh cần nắm được Ag không phản ứng với HCl, Fe
3
O
4
là
hỗn hợp của 2 oxit sắt khi phản ứng với HCl sẽ tạo ra 2 muối .
* Giải :
- Lấy mỗi lọ một ít bột cho vào các ống nghiệm làm mẫu thử .
SV:Nguyễn thị Hiền-LớpĐHTC Hoá Hà Nam
23
Phương pháp giải bài tập nhận biết một số chất vô cơ
- Cho HCl vào 4 mẫu thử và quan sát: mẫu nào không có hiện tượng gì ( không
tan ) đó là Ag, còn 3 mẫu tan, trong 3 mẫu tan ta thấy có mẫu xuất hiện bọt khí ta
xác định được đó là bột Fe ;
Fe + 2HCl
→
FeCl
2
+ H
2
↑
- Lấy 2 mẫu còn lại tiếp tục cho phản ứng với dung dịch NaOH dung dịch nào
xuất hiện kết tủa trắng xanh đó là FeO :
FeO + 2HCl
→
FeCl
2
+ H
2
+ NaOH
→
Fe(OH)
2
↓
+ 2NaCl
Trắng xanh
FeCl
3
+ NaOH
→
Fe(OH)
3
↓
+ 3NaCl
Đỏ nâu
* Chú ý :
Ở bài này với 2 thuốc thử là HCl và NaOH, ta phải dùng HCl trước để làm
tan các kim loại tạo ra các muối sau đó mới dùng NaOH, còn khi cho NaOH vào
trước sẽ không có hiện tượng gì .
Học sinh cần biết :
- Nhận biết các chất với thuốc thử hạn chế cần chú ý là các hoá chất đã nhận bết
được có thể dùng làm thuốc thử để nhận biết ra các hoá chất còn lại .
- Cần nắm chắc các phản ứng đặc trưng của các chất .
Bài toán 6:
Bốn lọ riêng biệt, mất nhãn chứa 4 chất bột màu trắng Na
2
O, P
O
5
là oxit axit.
- MgO không tan trong dd NaOH còn Al
2
O
3
thì tan.
* Giải :
Hoà tan mẫu thử từng chất vào nước
- Những chất tan được tạo thành dung dịch trong suốt là Na
2
O và P
2
O
5
Na
2
O + H
2
O
→
2NaOH
P
2
O
5
+ 3H
2
O
3
+ 2NaOH
→
2NaAlO
2
+H
2
O
Chất không tan là MgO
Bài tập áp dụng :
Bài 1 : Có 5 gói bột có màu tương tự nhau: CuO, FeO, MnO
2
, Ag
2
O và hỗn hợp
Fe + FeO. Chỉ dùng thêm dung dịch HCl có thể nhận biết được 5 gói bột trên
không ? Nếu được hãy trình bày cách nhận biết.
Gợi ý :- Có thể
- Chú ý :
CuCl
2
: Dung dịch có màu xanh
Cl
2
↑
: Khí có màu vàng lục
AgCl
↓
: Màu trắng
3
, Fe
2
O
3
, Al
2
O
3
, và SiO
2
bằng phương
pháp hoá học .
SV:Nguyễn thị Hiền-LớpĐHTC Hoá Hà Nam
25