Tiểu luận môn luật ngân sách nhà nước Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước lý luận và thực tiễn - Pdf 27

Phân cấp quản lý NSNN – Lý luận và thực tiễn
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
-oOo-
Bộ môn: Luật Ngân sách Nhà nước
* *☼
Phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước
Lý luận và thực ễn
Chương 3: Giải pháp 1
Phân cấp quản lý NSNN – Lý luận và thực tiễn
MỤC LỤC
Chương I: Lý luận chung về Phân cấp quản lý Ngân sách nhà nước 1
I. Khái niệm 2
II. Nguyên tắc phân cấp quản lý Ngân sách nhà nước 3
III. Nội dung phân cấp quản lý Ngân sách nhà nước 5
Chương II: Thực trạng phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam 22
I. Thực trạng phân cấp quản lý NSNN theo thẩm quyền 23
1. Những điểm tích cực 24
2. Những hạn chế 26
II. Thực trạng phân cấp quản lý NSNN theo nguồn thu và nhiệm vụ chi28
1. Thực trạng trong việc phân cấp theo nguồn thu 28
2. Thực trạng trong việc phân cấp theo nhiệm vụ chi 33
Chương III: Giải pháp 46
I. Phương hướng 46
II. Giải pháp cụ thể 47
III. Kinh nghiệm phân cấp quản lý NSNN của một số nước 52
Chương I
Lý luận chung về phân cấp quản lý Ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước không thể nào chỉ là một cấp ngân sách đơn lẻ bởi theo như
khoản 1 Điều 4 Luật Ngân Sách Nhà Nước năm 2002 : “Ngân sách nhà nước gồm ngân sách
Chương 3: Giải pháp 2

trung ương có thể giao cho chính quyền địa phương thưc thi một số nghiệp vụ thu chi cần
thiết, có liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của các cấp chính quyền
trên địa bàn mình quản lí.
Chế độ pháp lí về phân cấp quản lí ngân sách nhà nước là tổng hợp các qui phạm
pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội
phát sinh trong quá trình phân định trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền trong lĩnh vực ngân sách nhà nước và các quan hệ xã hội phát sinh trong quá
trình thực hiện việc phân giao nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách các cấp.
Theo như khoản 1 điều 4 Luật ngân sách nhà nước có thể thấy trong hệ thống ngân
sách này: Quốc Hội chỉ phân giao nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể cho ngân sách trung
ương, đồng thời cũng xác định khối lượng thu – chi trong năm ngân sách cho ngân sách địa
phương. Ngân sách địa phương cũng gồm nhiều cấp, do vậy sẽ có một cơ quan khác phân
chia nhiệm vụ thu – chi cho ngân sách địa phương và Luật ngân sách nhà nước năm 2002 đã
trao quyền quyết định đó cho cơ quan quyền lực nhà nước cấp tỉnh ( phân phối thu – chi giữa
các cấp ngân sách ở địa phương )
Thế nhưng không phải chỉ cần phân cấp như thế là đã ổn , là đã rõ ràng và các cấp
ngân sách có thể tự mình quản lí được mà “ phân cấp quản lí ngân sách “ còn cần phải dựa
vào và tuân theo 3 nguyên tắc sau đây.
II. NGUYÊN TẮC PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC:
Thứ nhất là : việc phân cấp quản lí ngân sách nhà nước phải phù hợp với phân cấp
quản lí kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của nhà nước và năng lực quản lí của mỗi cấp
trên địa bàn.
=> Cần có sự thống nhất trong phân cấp quản lí ngân sách nhà nước. Mắc dù được
phân định thành nhiều cấp nhưng tựu trung thì các cấp vẫn cùng thuộc một hệ thống duy
nhất. Trong hệ thống này, mặc dù mỗi cấp đều có hoạt động thu – chi riêng biệt của mình
nhưng chúng đều phải nhất quán, phải dựa trên những chuẩn mực nhất định và tuân thủ một
Chương 3: Giải pháp 4
Phân cấp quản lý NSNN – Lý luận và thực tiễn
chính sách cùng chế độ thu – chi ngân sách . Để đảm bảo cho nguyên tắc này thì ta cần tập
trung vào 3 vấn đề chủ yếu sau đây:

pháp luật ( phải tuân thủ chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mức về thu – chi ngân sách của
nhà nước)
Thứ ba là : việc phân chia nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính
quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định , cấp xã được tăng cường
nguồn thu, phương tiện và cán bộ quản lí tài chính ngân sách để quản lí tốt có hiệu quả các
nguốn lực tài chính trên địa bàn được phân cấp.
• Việc phân định thẩm quyền giữa các cấp chính quyền nhà nước trong hoạt động ngân sách
nhằm xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm của từng cấp chính quyền nhà nước , trong việc
thực hiện các hoạt động thu – chi ngân sách.
Nguyên tắc này nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách địa phương và thúc đẩy đại phương
phấn đấu để chủ đông cân đối ngân sách.
 Tóm lại : Vấn đề phân cấp quản lí ngân sách nhà nước là vân đề không hề đơn giản đối
với các cấp ngân sách và có thể sẽ làm cho các cấp khó thực hiện được tốt nhiệm của cấp
mình nếu không tuân theo các nguyên tắc trên. Bởi các nguyên tắc trên đã phân định rõ
ràng hoạt động thu – chi của từng cấp ngân sách, giúp các cấp ngân sách thực hiện tốt
chức năng của cấp mình, phù hợp với tình hình địa phương của cấp mình và bên cạnh đó
có sự hỗ trợ từ cấp trung ương xuống địa phương, và giữa các địa phương với nhau.
III. NỘI DUNG PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC:
Với định chế tổ chức hệ thống Nhà nước gồm nhiều cấp chính quyền, trong đó ngân
sách được coi là phương tiện vật chất chủ yếu để mỗi cấp chính quyền thực hiện các nhiệm
vụ, chức năng theo Hiến định và theo Luật định thì phân cấp quản lý ngân sách là nội dung
chủ yếu của phân cấp quản lý tài chính và về thực chất đó là sự giải quyết các quan hệ về
Chương 3: Giải pháp 6
Phân cấp quản lý NSNN – Lý luận và thực tiễn
ngân sách giữa chính quyền nhà nước trung ương và chính quyền nhà nước địa phương thể
hiện trên các mặt chủ yếu sau:
1. Trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong
lĩnh vực ngân sách nhà nước: là sự phân định quyền hạn, trách nhiệm của Chính phủ và
chính quyền địa phương trong các vấn đề chủ yếu của ngân sách như: quyết định dự toán;
phân bổ dự toán ngân sách; phê chuẩn quyết toán ngân sách: quyết định dự toán; phân bổ dự

án luật, pháp lệnh và các dự án khác về lĩnh vực ngân sách; Thẩm tra dự toán ngân sách nhà
nước, phân bổ ngân sách nhà nước, các báo cáo về việc thực hiện ngân sách nhà nước và
quyết toán ngân sách nhà nước do Chính phủ trình Quốc hội; Thẩm tra phương án phân bổ
ngân sách trung ương cho từng Bộ, ngành và mức bổ sung từ ngân sách trung ương cho từng
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Chính phủ trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Giám
sát hoạt động của Chính phủ, các ngành, các cấp trong việc thực hiện ngân sách nhà nước và
việc thực hiện pháp luật về ngân sách của các tổ chức và cá nhân; Kiến nghị với Quốc hội
các vấn đề về ngân sách, tài chính và tiền tệ.
c) Chính phủ quản lý, tổ chức triển khai và kiểm tra việc thực hiện dự toán ngân
sách nhà nước:
Theo quy định của Luật NSNN tại Điều 20 thì Chính phủ trình Quốc hội, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội và các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về ngân sách nhà nước;
ban hành các văn bản pháp quy về ngân sách nhà nước theo thẩm quyền; Lập và trình Quốc
hội dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách nhà nước, dự toán điều chỉnh ngân
sách nhà nước trong trường hợp cần thiết; Lập và trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phương
án phân bổ cụ thể ngân sách trung ương; Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội và Nghị quyết
của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng bộ,
ngành; nhiệm vụ thu, chi và mức bổ sung từ ngân sách trung ương cho từng tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương; Thống nhất phân cấp quản lý ngân sách nhà nước, bảo đảm sự phối
hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý ngành và địa phương trong việc thựuc hiện ngân sách nhà
Chương 3: Giải pháp 8
Phân cấp quản lý NSNN – Lý luận và thực tiễn
nước; Tổ chức và kiểm tra việc thực hiện ngân sách nhà nước, báo cáo Quốc hội, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội về tình hình thực hiện ngân sách nhà nước, các chương trình, dự án
quốc gia, các công trình xây dựng cơ bản quan trọng; Quy định nguyên tắc, phương pháp
tính toán việc bổ sung nguồn thu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới; Quy định
chế độ sử dụng khoản dự phòng ngân sách nhà nước và quản lý quỹ dự trữ tài chính; Quy
định hoặc uỷ quyền cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định các chế độ, tiêu chuẩn,
định mức chi ngân sách nhà nước để thi hành thống nhất trong cả nước; Kiểm tra Nghị quyết
của Hội đồng nhân dân về dự toán ngân sách và quyết toán ngân sách.

+ Trình Chính phủ dự án kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và các cân
đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân, trong đó có cân đối tài chính tiền tệ, vốn đầu tư XDCB
làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch tài chính, ngân sách;
+ Phối hợp với Bộ Tài chính lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách nhà nước
trong lĩnh vực phụ trách.
+ Phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ, ngành hữu quan kiểm tra đánh giá hiệu quả
của vốn đầu tư các công trình xây dựng cơ bản.
- Đối với Ngân hàng nhà nước Việt Nam(qui định tại điều 23 Luật NSNN)
+ Phối hợp với Bộ Tài chính trong việc lập dự toán ngân sách nhà nước đối với kế
hoạch và phương án vay để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước;
+ Tạm ứng cho ngân sách nhà nước để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ ngân sách nhà
nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
- Đối với các Bộ, cơ quan nhà nước chuyên ngành:
Chương 3: Giải pháp 10
Phân cấp quản lý NSNN – Lý luận và thực tiễn
+ Phối hợp với Bộ Tài chính, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong quá trình lập, phân bổ
và quyết toán ngân sách nhà nước thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách; nhất là các Bộ quản lý
ngành, lĩnh vực quan trọng: Bộ Giáo dục - Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Văn hoá Thông tin,…
+ Phối hợp với Bộ Tài chính kiểm tra theo dõi tình hình thực hiện ngân sách thuộc
ngành, lĩnh vực phụ trách.
+ Báo cáo tình hình thực hiện và kết quả sử dụng ngân sách thuộc ngành, lĩnh vực phụ
trách theo chế độ quy định.
+ Phối hợp với Bộ Tài chính trong việc xây dựng chế độ, tiêu chuẩn định mức chi
ngân sách nhà nước thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách.
- Hội đồng nhân dân các cấp(qui định tại điều 24 Luật NSNN): Quyết định dự toán và
phân bổ ngân sách địa phương; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; Quyết định các
chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách địa phương; Quyết định điều chỉnh
dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết; Giám sát việc thực hiện ngân sách
đã được Hội đồng nhân dân quyết định. Đối với Hội đòng nhân dân cấp tỉnh được quyền
quyết định thu một số khoản thu về phí, lệ phí, các khoản phụ thu theo quy định của Chính

 Nguồn thu từ các khoản thu ngân sách địa phương được hưởng 100% bao gồm: Thuế
nhà, đất; Thuế tài nguyên không kể thuế tài nguyên thu được từ hoạt động dầu khí; Thuế
môn bài; thuế chuyển quyền sử dụng đất; tiền cho thuê đất, thuê mặt nước không kể tiền
thuê mặt nước thu từ hoạt động dầu khí; tiền đền bù thiệt hại đất; Tiền thuê bán nhà ở thuộc
sở hữu nhà nước; lệ phí trước bạ; thu từ hoạt động sổ số kiến thiết; thu nhập từ vốn góp của
ngân sách địa phương; tiền thu hồi vốn của ngân sách địa phương tại các cơ sở kinh tế, thu
từ quỹ dự trữ tài chính của cấp tỉnh (theo quy định của Nghị định 60/2003/NĐCP ngày
6/6/2003, Điều 58); Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức cá nhân nước ngoài trực tiếp
cho địa phương theo qui định của pháp luật.
Phần nộp ngân sách theo qui định của pháp luật từ các khoản phí, lệ phí do các cơ quan,
đơn vị thuộc địa phương tổ chức thu, không kể phí xăng, dầu và lệ phí trước bạ; Thu từ quỹ
Chương 3: Giải pháp 12
Phân cấp quản lý NSNN – Lý luận và thực tiễn
đất công ích và thu hoa lợi công sản khác; Phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật
từ các khoản thu sự nghiệp của các đơn vị do địa phương quản lí. Huy động từ các tổ chức
cá nhân theo quy định của pháp luật; đóng góp tự nguyện của các tổ chức cá nhân ở trong
và ngoài nước; Thu từ huy động xây dựng.
Các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định tại khoản 3 điều 8 của Luật ngân sách nhà
nước; thù từ kết dư ngân sách địa phương; Các khoản phạt, tịch thu và thu khác của ngân
sách địa phương theo qui định của pháp luật; thu bổ xung từ ngân sách cấp trên; thu chuyển
nguồn từ ngân sách địa phương năm trước sang ngân sách địa phương năm sau.
 Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ % giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa
phương; Do điều kiện kinh tế - xã hội, tự nhiên của các địa phương khác nhau, trình độ phát
triển không đều, do đó, số thu và yêu cầu chi của các địa phương không giống nhau. Vì vậy,
ngoài các khoản thu từng cấp được hưởng 100% nêu trên. Luật ngân sách năm 2002 ở nước
ta cũng quy định có một số khoản thu phân chia theo tỷ lệ % giữa ngân sách các cấp trung
ương và địa phương (tỉnh, thành phố). Các khoản đó là: thuế giá trị gia tăng (không kể thuế
giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu) và thuế giá trị gia tăng thu từ hoạt động xổ số kiến
thiết; Thuế thu nhạp doanh nghiệp (không kể thuế thu nhạp doanh nghiệp của các đơn vị
hạch toán toàn ngành (theo quy định của Bộ Tài chính) và thuế thu nhập từ hoạt động xổ số

sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới; khuyến khích các cấp tăng cường quản lý thu, chống
thất thu, hạn chế phân chia các nguồn thu quy mô nhỏ cho nhiều cấp.
• Ngân sách xã, thị trấn được hưởng tối thiểu 70% đối với khoản thu: thuế chuyển
quyền sử dụng đất; thuế nhà đất; thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh; Thuế sử dụng
đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình, lệ phí trước bạ nhà đất.
• Ngân sách thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh được hưởng tối thiểu 50% khoản thu lệ
phí trước bạ (không kể lệ phí trước bạ nhà, đất).
Chương 3: Giải pháp 14
Phân cấp quản lý NSNN – Lý luận và thực tiễn
Như vậy, Luật ngân sách năm 2002 một mặt khẳng định quyền của Hội đồng nhân dân
cấp tỉnh quyết định nguồn thu ngân sách của cấp huyện, xã; mặt khác lại mở rộng nguồn thu
và quyền tự chủ của cấp xã, huyện bằng cách quy định cấp xã được hưởng tối thiểu là 70%
(5 nguồn thu) và cấp huyện được hưởng 50% nguồn thu lệ phí trước bạ. (Luật ngân sách
1996 chưa quy định như vậy).
Luật ngân sách 2002 quy định các tỷ lệ 70% và 50% chỉ là % tối thiểu. HĐND tỉnh
vẫn là cơ quan quy định nguồn thu và tỷ lệ phân chia. Tỷ lệ phân chia của trung ương cho
tỉnh và tỉnh với cấp huyện được thực hiện theo nguyên tắc. Mỗi địa phương có một tỷ lệ
chung đối với tất cả các khoản thu phân chia (tỷ lệ thống nhất cho các khoản thu thuộc diện
phân chia). Tỷ lệ này được tính theo công thức dưới đây và thông báo cho các địa phương
vào năm đầu của thời kỳ ổn định.
Công thức:
Tỷ lệ phần trăm = [ (A – B) / C ] x 100%
Trong đó:
* A là tổng số chi ngân sách địa phương (không bao gồm số bổ sung).
* B là tổng số các khoản thu ngân sách địa phương được hưởng 100% (không bao
gồm số bổ sung).
* C là tổng số các khoản thu được phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách
địa phương.
- Nếu A - B < C thì địa phương được giữ lại tỷ lệ % đó cho ngân sách địa phương,
phần còn lại được điều tiết về cho ngân sách trung ương.

mức hỗ trợ theo phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Hỗ trợ một phần để xử lý các
Chương 3: Giải pháp 16
Phân cấp quản lý NSNN – Lý luận và thực tiễn
khó khăn đột xuất, khắc phục thiên tai, hoả hoạn, tai nạn trên diện rộng với mức độ nghiêm
trọng, sau khi cấp dưới đã sử dụng dự phòng, một phần quỹ dự trữ tài chính địa phương
nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu; Hỗ trợ thực hiện một số nhiệm vụ cần thiết, cấp bách
khác, mức bổ sung theo quyết định của cấp có thẩm quyền.
Số bổ sung theo mục tiêu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được xác định
hàng năm. Mức bổ sung cụ thể được căn cứ khả năng cân đối ngân sách cấp trên và yêu cầu
cụ thể của mục tiêu của cấp dưới. Việc sử dụng vốn bổ sung theo mục tiêu phải đúng mục
tiêu quy định.
b.Nhiệm vụ chi của ngân sách các cấp(qui định tại Điều 31,33 Luật NSNN)
 Nhiệm vụ chi của ngân sách TW gồm: (điều 31 Luật NSNN)
- Chi đầu tư phát triển về: Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã
hội. Không có khả năng thu hồi vốn do Trung ương quản lý; Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh
nghiệp, các tổ chức kinh tế, góp cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh
vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật; chi hỗ trợ tài chính,
bổ xung vốn, hỗ trợ và thưởng xuất khẩu cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế theo quy
định của pháp luật. Phần chi đầu tư phát triển trong các chương trình mục tiêu quốc gia, dự
án Nhà nước do các cơ quan trung ương thực hiện, chi hỗ trợ các tổ chức tài chính của Nhà
nước do Trung ương quản lý; chi bổ xung dự trữ Nhà nước; Các khoản chi đầu tư phát triển
khác theo quy định của pháp luật.
- Chi thường xuyên về: Các hoạt động giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, xã hội, văn
hoá, thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các
sự nghiệp khác do Trung ương quản lý (các trường phổ thông dân tộc nội trú; Đào tạo sau
đại học; đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, đào tạo nghề và các hình thức đào tạo,
bồi dưỡng khác; phòng bệnh, chữa bệnh và các hoạt động sự nghiệp y tế khác; các cơ sở
thương binh, người có công với cách mạng; trại xã hội, phòng chống các tệ nạn xã hội và các
hoạt động xã hội khác. Bảo tồn, bảo tàng, thưu viện, trùng tu di tích lịch sử đã được xếp
hạng, các hoạt động sáng tác văn học, nghệ thuật và các hoạt động văn hoá khác; Bồi dưỡng

Chương 3: Giải pháp 18
Phân cấp quản lý NSNN – Lý luận và thực tiễn
- Trả nợ gốc và lãi các khoản trên do chính phủ vay.
- Chi viện trợ cho chính phủ và tổ chức nước ngoài.
- Chi cho vay theo qui định của pháp luật
- Bổ sung quỹ dự trữ tài chính trung ương.
- Bổ xung cho ngân sách địa phương
- Chi chuyển nguồn từ NSTW năm trước sang NSTW năm sau.
 Nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương gồm: (Điều 33 Luật NSNN)
- Chi đầu tư phát triển về: Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã
hội không có khả năng thu hồi vốn do địa phương quản lý; Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh
nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của nhà nước theo qui định của pháp luật.
Chi đầu tư phát triển trong các chương trình quốc gia do các cơ quan địa phương thực hiện.
Các khoản chi về đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật.
- Chi thường xuyên về: Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo dạy nghề, y tế, xã
hội, văn hoá, thông tin, văn học, nghệ thuật, thể dục, thể thao, khoa học, công nghệ, môi
trường, các sự nghiệp khác do địa phương quản lý; giáo dục phổ thông, bổ túc văn hoá, nhà
trẻ, mẫu giáo, phổ thông dân tộc nội trú và các hoạt động giáo dục khác; Đại học, cao đẳng,
trung học chuyên nghiệp, đào tạo nghề, đào tạo ngắn hạn và các hình thức đào tạo, bồi
dưỡng khác; Phòng bệnh, chữa bệnh và các hoạt động y tế khác; Các trại xã hội, cứu tế xã
hội, cứu đói, phòng chống các tệ nạn xã hội và các hoạt động xã hội khác; Bảo tồn, bảo tàng,
thư viện, biểu diễn nghệ thuật, và các hoạt động văn hoákhác; Phát thanh, truyền hình và các
hoạt động thông tin khác; Bồi dưỡng, huấn luyện huấn luyện viên, vận động viên các đội
tuyển cấp tỉnh; các giải thi đấu cấp tỉnh; quản lý các cơ sở thi đấu thể dục, thể thao và các
hoạt động thể dục, thể thao khác; nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ; các sự nghiepẹ
khác do địa phương quản lý.
Chương 3: Giải pháp 19
Phân cấp quản lý NSNN – Lý luận và thực tiễn
- Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do địa phương quản lý gồm: Sự nghiệp giao thông
(duy tu, bảo dưỡng và sửa chữa cầu đường và các công trình giao thông khác, lập biển báo

- Chi chuyển nguồn ngân sách địa phương năm trước sang ngân sách địa phương năm
sau.
- Các nhiệm vụ chi quy định ở khoản chi Đầu tư hỗ trợ các doanh nghiệp, các tổ chức
kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước theo quy định của Pháp luật và khoản chi: Chi trả
gốc, lãi tiền huy động vốn trong nước cho đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng và khoản chi
bổ sung Quỹ dự trữ tài chính cấp tỉnh, chỉ quy định cho ngân sách cấp tỉnh, không áp dụng
cho ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã.
Chương II
Thực trạng phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Có thể nói, ngay từ khi thành lập Nhà nước và cùng với nó là sự ra đời của nền tài
chính Việt Nam thì đã bắt đầu có sự phân cấp. Đó là sắc lệnh số 73/SL-CTN ngày 18/9/1945
của Chủ tịch nước trao quyền quyết định mức thu thuế nhà nước cho các Khu và cho phép
chính quyền các Khu sử dụng nguồn thu thuế để đảm bảo chi cho bộ máy và đóng góp cho
TW để nuôi quân đánh giặc. Tuy nhiên, điều kiện kháng chiến khốc liệt chưa cho phép
chúng ta xây dựng hệ thống tài chính hoàn chỉnh, nên mãi tới năm 1967 mới có một chế độ
phân cấp phân cấp quản lý ngân sách đầy đủ. Từ đó đến nay, quá trình phân cấp được thực
hiện qua các giai đoạn như sau:
Chương 3: Giải pháp 21
Phân cấp quản lý NSNN – Lý luận và thực tiễn
Giai đoạn 1 (từ năm 1967 đến 1983): trong giai đoạn này chủ yếu thu, chi tập trung
vào NSTW, chính quyền địa phương chỉ có nhiệm vụ chi và chủ yếu mới phân cấp đến cấp
tỉnh.
Giai đoạn 2 (từ năm 1983 đến 1989): thực hiện phân cấp theo Nghị quyết 138/HĐBT
của Hội đồng Bộ trưởng về cải tiến chế độ phân cấp quản lý NSĐP, theo đó chính quyền địa
phương được phân cấp nhiều nguồn thu hơn và đã bắt đầu thưởng ngân sách.
Giai đoạn 3 (từ năm 1986 đến 1996): tiếp tục cải tiến phân cấp theo Nghị quyết
186/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, theo đó mở rộng hơn và xác định rõ trách nhiệm của
chính quyền các cấp trong quản lý NSNN, một số khoản chi lớn bắt đầu được giao cho địa
phương như: XDCB, sự nghiệp kinh tế và tương ứng với nó là có nhiều nguồn thu được để
lại hơn. Tuy nhiên, cho đến giai đoạn này vẫn chưa xoá được nhiều nhược điểm lớn nhất là

đẹp.
1. Những điểm tích cực trong công tác phân cấp quản lý theo thẫm quyền:
Thứ nhất, vai trò, nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội và HĐND địa phương được
tăng cường và phân định rõ ràng hơn trong việc xem xét, quyết định dự toán NSNN phân bổ
NSNN và phê chuẩn quyết toán NSNN.
Theo quy định mới Quốc hội đã trực tiếp xem xét, quyết định phân bổ ngân sách
Trung ương cho từng Bộ, cơ quan trung ương theo từng lĩnh vực chi, và số bổ sung ngân
sách Trung ương cho ngân sách từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Vấn đề là Uỷ
ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Quy chế lập, thẩm tra, trình Quốc hội quyết định dự
toán NSNN, phương án phân bổ ngân sách Trung ương, số bổ sung của NSTW cho ngân
sách các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Chất lượng chuẩn bị các báo cáo trình quốc
hội rất cao, trên cơ sở chuẩn bị của chính phủ, các uỷ ban trong quốc hội đã thảo luận kỹ.
Quá trình xem xét thảo luận ở Quốc hội diễn ra sôi nổi đúng quy trình, và nhất trí cao nên
Chương 3: Giải pháp 23
Phân cấp quản lý NSNN – Lý luận và thực tiễn
chất lượng dự toán, quyết toán ngân sách, các phương án phân bổ NSTW và bổ sung ngân
sách cho các địa phương được nâng lên rõ rệt.
Có thể nói, luật đã quy định một cách tương đối rõ ràng về nhiệm vụ, quyền hạn của
các cơ quan chính quyền nhà nước trong lĩnh vực NSNN. Đặc biệt đối với HĐND và UBND
các cấp đã có sự đổi mới theo hướng tăng tính tự chủ, sáng tạo của địa phương trong việc
phát huy tiềm năng hiện có, bồi dưỡng và tăng thu cho ngân sách cấp mình, từ đó, chủ động
bố trí chi tiêu hợp lý, có hiệu quả theo kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của địa phương,
phù hợp với quy hoạch tổng thể về chế độ thu chi thống nhất trong cả nước. Điều này cơ bản
phù hợp với phương hướng đổi mới chức năng, nhiệm vụ của HĐND và UBND được quốc
hội và chính phủ đề ra trong kỳ hội nghị HĐND và UBND toàn quốc. Qua các báo cáo của
Đoàn giám sát của Quốc hội thì thấy: Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đã triển khai thực hiện
đúng quyền hạn, nhiệm vụ của mình (theo Luật NSNN 2002 cho phép), do đó, góp phần thúc
đẩy sự phát triển kinh tế xã hội địa phương.
Thứ hai, việc phân công, phân cấp giữa các cơ quan trung ương, giữa ngân sách
trung ương và ngân sách địa phương đã rõ ràng, rành mạch hơn. Tính công khai, minh bạch

định mức theo hướng: loại chế độ tiêu chuẩn, định mức nào nhất thiết phải thi hành thống
nhất cả nước nhằm bảo đảm sự công bằng thì trung ương ban hành; loại nào có thể cho địa
phương vận dụng theo điều kiện cụ thể của địa phương mình thì ban hành khung; loại nào
chỉ thực hiện do đặc điểm riêng có ở địa phương thì giao cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
(thành phố) ban hành.
Thứ ba, công tác quyết toán NSNN đã đi dần vào nề nếp, chất lượng được nâng lên
Quyết toán NSNN là một công việc quan trọng có ý nghĩa lớn đối với nhiệm vụ tăng
cường QLNS ở TW cũng như ở địa phương.
Những quy định mới về quyết toán ngân sách đã tạo nên những chuyển biến. Báo cáo
quyết toán thực hiện theo hệ thống biểu báo mới, thực sự đã tạo điều kiện cho Quốc hội và
Chương 3: Giải pháp 25

Trích đoạn Giải pháp cụ thể
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status