GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN QUANG SÁNG
3.1. Giọng điệu trần thuật
Trong Từ điển Thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, giọng điệu được hiểu là “ thái độ, tình cảm, lập
trường tư tưởng đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể
hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình
cảm, cách cảm thụ xa gần, thân, sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay
châm biếm”[13,91]. Giọng điệu trong tác phẩm văn học là giọng điệu nghệ
thuật, nó “ là một phạm trù thẩm mỹ của tác phẩm văn học. Nó đòi hỏi
người trần thuật kể chuyện hay như thơ trữ tình phải có khẩu khí, giọng điệu
riêng. Giọng điệu trong tác phẩm gắn với các giọng “trời phú” của tác giả
nhưng mang nội dung khái quát nghệ thuật phù hợp với đối tượng thể hiện.
Giọng điệu trong tác phẩm có giá trị đa dạng, có nhiều sắc thái trên cơ sở
một giọng điệu cơ bản chủ đạo chứ không đơn điệu”[13,91]. Trong sáng tạo
nghệ thuật, giọng điệu có vai trò rất lớn: “ hiệu suất của lối kể chuyện, của
hành động kịch, của lời lẽ trữ tình trước hết thể hiện ở giọng điệu chủ yếu”
(Khrapchenko) [34,294]. Đối với tác phẩm văn học, giọng điệu nghệ thuật
không chỉ là yếu tố hàng đầu của phong cách nhà văn, là phương tiện biểu
hiện quan trọng của tác phẩm mà còn là yếu tố có vai trò thống nhất mọi yếu
tố khác của hình thức tác phẩm mà còn là yếu tố có vai trò thống nhất mọi
yếu tố khác của hình thức tác phẩm vào một chỉnh thể. “Thiếu một giọng
điệu nhất định, nhà văn chưa thể viết ra được tác phẩm, mặc dù đã có đủ tài
liệu và sắp xếp trong hệ thống nhân vật”[13,91]. Hơn nữa, giọng điệu ở đây
không chỉ là một tín hiệu âm thanh có âm sắc đặc thù để nhận ra người nói
mà là một hiện tượng “siêu ngôn ngữ”, phụ thuộc vào cấu trúc nghệ thuật
của tác phẩm, khuynh hướng nghệ thuật của tác giả và của thời đại. Như
vậy, giọng điệu là biểu hiện của thái độ cảm xúc chủ thể đối với đời sống,
giọng điệu mang nội dung tình cảm thái độ ứng xử của nhà văn đối với hiện
thực được phản ánh, giọng điệu thể hiện ở điểm nhìn của chủ thể, ở quan hệ
của chủ thể đối với cái được miêu tả. Trong truyện, giọng điệu phức tạp hơn
đậm màu sắc sử thi và chất lãng mạn.
Khuynh hướng sử thi đã chi phối hầu khắp các sáng tác thuộc đủ mọi
thể loại. Nó không chỉ thể hiện trong tiểu thuyết mà còn ở truyện ngắn và kí.
Khuynh hướng sử thi đã hình thành từ những bước khởi đầu của nền văn học
mới sau Cách mạng tháng Tám, nhưng từ những năm cuối cuộc kháng chiến
chống Pháp và nhất là trong thời kỳ chống Mỹ, khuynh hướng ấy càng phát
triển mạnh mẽ và bao trùm cả nền văn học.
Khuynh hướng sử thi chi phối từ việc lựa chọn đề tài, chủ đề đến việc
xây dựng hình tượng nhân vật và chi phối cả đặc điểm kết cấu tác phẩm,
nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi. Văn học theo khuynh hướng sử thi
cũng tất yếu tìm đến những phương thức nghệ thuật phù hợp với nội dung sử
thi, đồng thời cũng tạo nên giọng điệu đặc trưng là giọng ngợi ca, trang
trọng.
Và giọng điệu sử thi, hào hùng cũng là “giọng nền” chủ đạo ở những
truyện ngắn sáng tác trước năm 1980 của nhà văn Nguyễn Quang Sáng.
Nguyễn Quang Sáng chủ yếu tập trung ngợi ca vẻ đẹp tinh thần của con
người Nam Bộ bằng cái nhìn ngưỡng mộ, say mê. Những con người kiên
cường anh dũng trong đấu tranh, thủy chung nhân hậu trong cuộc sống đời
thường và lạc quan tràn đầy niềm tin ở tương lai. Hầu hết các truyện ngắn
của ông trong thời kỳ này đều tập trung khai thác cuộc sống và chiến đấu
của nhân dân, đồng bào vùng đồng bằng Sông Cửu Long, đó là vùng Đồng
Tháp Mười và An Giang. Cũng khai thác đề tài chiến tranh cách mạng như
nhiều nhà văn khác nhưng Nguyễn Quang Sáng lại đi sâu khai thác tình cảm
ruột rà, máu mủ của tình cha con ( Chiếc lược ngà ), tình mẹ con ( Bông
cẩm thạch ), hay tình yêu đôi lứa ( Chị xã đội trưởng ), tình cảm vợ chồng (
Tên của đứa con ), tình đồng chí, đồng đội ( Bạn hàng xóm ). Đó là tình cảm
vốn rất thiêng liêng nhưng chiến tranh đã làm cho họ bị chia cắt.
Truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng cũng đồng thời tập trung khai
thác cuộc sống và chiến đấu của những con người rất đỗi bình thường. Đó
là những con người bình thường nhưng vĩ đại vì mang trong mình lý tưởng
Vì sao bố Thu đã phải già đến nỗi không giống bức hình chụp trước kia
nữa ? Thu đã nhận ra tội ác của thằng Tây ở cái sẹo trên mặt bố, cái sẹo làm
cho Thu không nhận ra bố nữa và do đó cũng nhớ lại được tội ác của chúng
ở ngay cái bót vàm.
Đừng tưởng Thu là một cô bé khô khan. Trái lại, Cái tiếng “Ba…a…
ba !” mà Thu thốt lên khi nhận ra bố, mới cảm động làm sao, tiếng “Ba”
nhưng xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “Ba” mà nó
cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng “Ba” như vỡ tung ra từ đáy lòng
nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và
dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó – Tôi thấy làn tóc tơ sau ót nó như dựng
đứng lên.
Nhưng lúc này, trong cái sung sướng được nhận ra “ba” cũng như
trước đây, trong cái gan lì không nhận ra “ba” Thu vẫn là một em bé cứng
cỏi, biết làm chủ cảm xúc của mình. Sau những cử chỉ rất tự nhiên như
muốn níu “ba” ở lại khi biết “ba” phải ra đi, cuối cùng Thu đã ôm “ba” một
lần nữa và mếu máo:
- Ba về ! Ba mua cho con một cây lược nghe ba – Nó nói trong tiếng
nấc, vừa nói vừa từ từ tuột xuống.
Vẫn rất trẻ thơ mà đã có cái gì thật là lớn. Và ở đây, trong phút chia
tay này, Thu lại học được bài học vỡ lòng thứ hai về Cách mạng qua lời dỗ
dành của người mẹ:
- Thu ! Con. Để ba con đi. Thống nhất rồi ba con về”.
“Thống nhất rồi ba con về”, bài học đó hẳn sẽ soi rọi mãi cuộc đời
chiến đấu anh hùng mà thằm lặng của cô gái giao liên Thu sau này. Thù nhà,
nợ nước, truyền thống kháng chiến trước và sau nhiệm vụ cách mạng tương
lai…hình như tất cả những gì cần thiết để tạo nên một phẩm chất anh hùng
đã đến với Thu ngay từ ngày thơ ấu ấy và đã đến với Thu trong một hoàng
cảnh độc đáo làm sao, với một cá tính độc đáo làm sao!
Chính mấy nét về bé Thu tám tuổi trên đây đã soi tỏ, đã giải thích khá
đầy đủ những hành động anh hùng của cô giao liên Thu sau này: cái bình
trong bản lĩnh riêng của Nguyễn Sáng được bộc lộ trên khá nhiều mặt đặc
sắc. Lối kể chuyện tưởng chừng như rất thoải mái, tùy hứng, nhưng thật ra là
đã thông qua ban tay rất chủ động của tác giả.
Giọng sử thi, hào hùng trong Quán rượu người câm : Ba Hoành là
đảng viên, hơn bốn mươi tuổi, bị địch bắt vì hồi kháng chiến chín năm anh
là ủy viên nông hội đo đất tạm cấp cho dân làng – qua ba tháng chịu mọi cực
hình tra tấn, anh vẫn giữ được khí tiết đảng viên, không khia báo gì. Nhưng
cùng lúc đó, có một tên phản bội không chịu nổi ngón đòn tra tấn, hắn đã
khai người cháu gọi bằng chú – là liên lạc của mình. Người cháu bị bắt thấy
chú mất tinh thần như thế tỏ ra khinh bỉ và để biểu lộ khí chí kiên cường của
mình, đã cắn lưỡi đứt ra hi sinh. Ba Hoành đặt đầu lưỡi cô gái trên tay khóc
và nhổ nước miếng vào mặt tên phản bội. Sau đó trong một trận tra tấn anh
bị địch dùng bù loong đập lên cổ nên bị câm. Không khai thác gì được ở anh
nữa, chúng phải thả ra.
Về nhà anh mở quán bán rượu để nuôi vợ và ba con. Nơi đây trở
thành điểm tụ họp của bà con. Người ta kể lại mọi tin tức về địch khủng bố,
bắt bớ tra tấn người, nhiều chuyện rất thương tâm.
Mỗi khi khách về hết anh uống rượu – đúng hơn là rót thẳng vào họng
những chén rượu và khóc.
Ngoài chuyện trong lòng, ngoại huyện, bản thân anh còn có một nỗi
đau thầm lặng trong lòng ! Đó là vì đói nghèo nên mất người yêu, vì vậy đến
năm ba mươi sáu tuổi mới lấy vợ. Vợ anh là người đàn bà luống tuổi – người
yêu của một vệ quốc đoàn đã hi sinh…
Hình tượng Ba Hoành, trước hết đó là một đảng viên trung kiên, dũng
cảm. Sự thử thách quyết liệt đối với anh là vượt qua được sự yếu hèn, sợ hãi
để giữ cho được khí tiêt đảng viên. Trước mặt quân thù và đồng bọn anh trân
trọng hi sinh của một cô gái, phỉ nhổ vào mặt tên phản bội cũng phải có
dũng khí mới làm được. Ba Hoành là biểu tượng của sự tất thắng trong chiến
đấu. Bởi vì thời kì này có thể coi là hoàn cảnh điển hình làm bật ra những
mâu thuẫn, những lí tưởng sống, con người phải bộc lộ bộ mặt thật của
Chủ đề tác phẩm đã thể hiện một cách sâu lắng, nhưng rõ ràng: “sự
nổi dậy, đồng khởi của nhân dân miền Nam đã trải qua bao ngày gian khổ và
đã đưa cuộc chiến đấu chống Mỹ sang một bức phát triển mới mẻ”. Một
nhân vật với một tình tiết, tính cách Ba Hoành đi suốt chiều dọc câu chuyện,
nhưng người đọc vẫn thấy một sức hút kì lạ của nó.
Giọng điệu sử thi, hào hùng còn thể hiện ở sự trở về gặp gỡ của những
người con đi xa. Mùa xuân năm 1975 đã đánh dấu một mốc son chói lọi
trong lịch sử hào hùng của dân tộc. Chiến tranh đã khép lại, non sông quy về
một mối. Bao người con đi xa vì tiếng gọi thiêng liêng, có người đã nằm yên
dưới lòng đất mẹ, không được chứng kiến giây phút huy hoàng của ngày
toàn thắng. Những người còn lại, có người đã xa quê hương, xa người thân
trên 20 năm, nay trở về quê hương với niềm hân hoan, tự hào của người thân
và dân làng. Đó cũng là đề tài – tư tưởng cho rất nhiều truyện ngắn của
Nguyễn Quang Sáng, tập hợp lại thành tập Người con đi xa.
Sự trở về của Đại tá Trần Tất Đắc trong Người con đi xa đã là niềm
vui, niềm tự hào của bà con làng quê ông: “ Anh là người được bà con dòng
họ, bạn bè và dân làng đón tiếp niềm nở nhất so với những người đi kháng
chiến đã trở về thăm làng. Tấm lòng của dân làng đối với anh thật công
bằng, vô tư không ai có thể ganh tị được. Vì anh là một trong những người
ra đi sớm nhứt, từ ngày đầu năm 1945, đi đến mút mùa hai cuộc kháng
chiến. Đi đúng 30 năm mới trở về với cương vị Đại tá, Đại tá Trần Tất
Đắc . . . ”.
Đề tài tư tưởng này không chỉ giản đơn là xóa bỏ khoảng cách mà ẩn
ý sau xa hơn: sự trở về, sự hòa hợp, đoàn tụ của một dân tộc sau bao nhiêu
năm xa cách, nỗi đau thương mất mát vì thế mà dịu đi. Niềm vui, niềm hân
hoan, niềm tự hào của bà con hàng xóm đón người đi xa trở về cũng chình là
niềm vui mà bao năm tháng chờ đợi, chịu mất mát hi sinh nay được bù đắp,
được đền đáp.
Giọng sử thi cũng thể hiện rõ qua các hình ảnh trong tác phẩm:
“Trong ánh sáng chói chang, hoa ô môi đỏ rực. Những lá cờ lớn trải trên tán
trải qua nhiều bi kịch tâm lí. Trước cái chết bí ẩn của đứa con tình máu mủ
ruột rà trong ông trỗi dậy, là người cha thương yêu tự hào về con. Diễn biến
tâm trạng của ông có nhiều thay đổi khi nói về con mình: “ Sắc mặt của ông
trầm xuống, đôi mắt xếch long lên vừa rỉ ra hai giọt lệ, người ông như chìm
trong ý mghĩa đen mù”. Nhân vật tôi ướm hỏi: “ Nếu rủi như ảnh là Việt
gian thì bác nghĩ như thế nào?”. Thái độ của ông Năm Hạng chuyển đổi rõ
rệt, quả quyết và dứt khoát: “ Nó đi làm Việt gian thì để cha nó sẽ xử nó”.
Tâm lí của ông Năm Hạng thể hiện ở đây là tâm lí của một người cha
thương con, một nỗi niềm tâm sự hiển nhiên của người làm cha, làm mẹ. Sự
chuyển biến trong tâm lí, tính cách của ông Năm Hạng từ khi biết sự thật về
người giết con mình được thể hiện qua cảnh đối thoại giữa ông và tên Lý, đã
lột tả được bản chất con người bên trong của ông. Từ giọng nói “rưng rưng
nghẹn ngào bật lên tiếng nấc và hai cánh tay rụng xuống như cánh cung bị
gãy làm đôi” đến giọng của ông vừa căm hờn vừa đau xót “. . . mày mới giết
con tao”. Ngòi bút sắc lạnh của nhà văn đã thể hiện những diễn biến phức
tạp của tâm lí nhân vật. Ông Năm Hạng là một người cha thương con, đau
xót trước cái chết của đứa con, nhưng không phải vì vậy mà ông không phân
biệt được lẽ phải, chính nghĩa và gian tà.
Nhân vật Bảy Quyên ( Tên của đứa con) là người phụ nữ xinh đẹp
nhưng lại có số phận không bình lặng. Bảy Quyên có những ngày hạnh phúc
sau sự trở về của người chồng tưởng như đã chết, niềm vui như được nhân
đôi khi biết mình sắp được làm mẹ. tình huống khó xử xảy ra, một bên vì sự
an nguy dễ bề hoạt động cho chồng cô phải giấu là anh còn sống, một bên là
việc nói ai là cha đứa con cô mang trong bụng? Tình huống éo le đã đẩy
nhân vật vào bi kịch chịu tiếng oan “ bị mọi người khinh rẻ xa lánh”. Hình
ảnh Bảy Quyên đã thể hiện cách nhìn của nhà văn về con người cách mạng
dưới góc nhìn “đời tư”, “thân phận”. Nhân vật được nhà văn đặt vào hoàn
cảnh đặc biệt của chiến tranh, để từ đó sáng lên vẻ đẹp của con người bản
lĩnh, kiên nghị. Vẻ đẹp của Bảy Quyên tượng trưng cho vẻ đẹp của tư tưởng
nhân văn cách mạng.
là dưới mặt đường. Chẳng biết nồi cháo lời được bao nhiêu mà nhọc nhằn
quá. Tôi hỏi, cô không nói rõ số tiền mà nói đắp đổi qua ngày”.[43,59]
Đó còn là bi kịch của người lính trở về sau chiến tranh, trong chiến
đấu họ là những anh hùng, lập được nhiều chiến công, anh dũng xem thường
cái chết, nhưng trở về với cuộc đời thường họ lại lạc lõng bơ vơ và không
thể hòa nhập, bị đẩy qua bên lề xã hội, khó khăn trong cuộc sống, chật vật
tìm kiếm miếng ăn: “Từ chiến trường Campuchia trở về, mất sức, anh xin
chuyển ngành, về phụ trách tổ chức cho một xí nghiệp. Qua một năm, Tấn
thấy công việc không hợp mình. Anh tự thấy mình không đủ sức hiểu người
trên, người dưới và người chung quanh. Họ không dễ hiểu dễ nhận như
những người lính của anh. Người ta tặng quà, anh không dám nhận, được
mời đi tiệc tùng cũng e ngại. Anh thấy đằng sau những buổi tiệc linh đình là
một cái gì đó sẽ đến với anh. Có được một bữa nhậu tình nghĩa thật hiếm
hoi. Đã đến cái tuổi muốn thảnh thơi, anh xin hưu. Hưu sống sao đây? Vợ
chồng anh sống sao cũng được, không đòi hỏi gì, chỉ thương hai đứa con bị
thua thiệt muốn xem tivi màu phải xem nhờ hàng xóm, đi học thì nhờ bạn bè
chở giúp. Vợ anh, thỉnh thoảng lại bị sốt rét rừng tái phát, vẫn xanh xao,
mỗi ngày mỗi yếu, không xông xáo như chị em.Cũng may, nhà có được cái
sân, anh che mát, làm trại mộc. Khởi đầu là sửa bàn ghế cho lối xóm, sau
đóng bàn đóng ghế cho các quán cà phê, quán bia vỉa hè. Chỉ cần đóng ghế
cóc thôi cũng đã có đồng ra đồng vào. Dần dần, khách đến đặt bàn, đặt tủ.
Một mình làm không xuể, anh về quê, kéo lên những tay nghề đang thất
nghiệp ” .
Trong Bàn thờ tổ của một cô đào: Cặp nhân vật Vân Tiên - Nguyệt
Nga trong truyện ngắn Bàn thờ Tổ của một cô đào là Châu và Thanh Sa-
Thanh Sa là một cô đào cải lương. Vai tuồng của cô là một nàng tiên vì khao
khát đời sống trần gian nên được Phật Bà cho xuống hạ giới một năm . Hết
hạn một năm cô tiên bay về trời. Bay trên sân khấu chẳng phải là cái gì khó
khăn. “Tuồng bay” đã một độ tha hồ hốt bạc. Khốn nỗi anh chàng kéo sợi
dây để tiên bay không đủ sức, dù anh đã buộc thêm cả một cục đá ở đầu dây
cái vỏ hình thức bên ngoài. Đó cũng chính là sự khẳng định giá trị của một
cá thể, một bản thể người theo cách riêng của Nguyễn Quang Sáng .
Linh Đa trong truyện ngắn cùng tên là cô gái có cá tính mạnh mẽ, giàu
nghị lực. Nhưng chiến tranh đã cướp đi cuộc sống bình yên của gia đình cô
từ một quả bom trộm làm chết “ ba đứa em bị vùi sâu dưới hố”. Gia đình dắt
dìu nhau về Sài Gòn sinh sống, ba cô bị trúng bom vào nhà thương, nhà cửa
bị bom đánh tan hoang. Nhất là chiến tranh đã cướp đi chàng trai tốt bụng,
mối tình đầu của cô “mối tình trong mơ tưởng đầy hạnh phúc, mối tình
không có chỗ cho khỏ đau”. Sự mất mát của gia đình cùng sự ra đi của
người yêu đã biến Nguyễn Thị Đa chân chất thành Linh Đa đầy ngang tàng,
trụy lạc. Cô sống trong “tiếng nhạc âm u dưới ánh đèn mờ”, “ từ cái vốn của
sòng bạc” và thậm chí bằng cả cuộc đời trắng trong của người con gái chỉ để
có tiền “ tiền để chạy thuốc cho cha, tiền để sửa lại ngôi nhà”.Cuộc đời
người con gái truân chuyên này sẽ ra sao nếu không có sự gặp gỡ bất ngờ
với nhan vật “tôi”- “người kể chuyện, người chứng kiến” là anh ruột của
người yêu cô đã cho cô biết về sự hi sinh cao cả của đứa em mình, người mà
cô dành trọn tình yêu thương và sự trân trọng. Cuộc gặp gỡ và câu chuyện
với nhân vật “tôi” về với cuộc sống lương thiện, làm lại cuộc đời mình. Nhà
văn đã nhấn mạnh đến hai mặt tưởng như trái ngược nhau nhưng vẫn là một
con người, một số phận: vừa liều lĩnh bất cần không hy vọng ở tương lai, lại
có những khát khao được sống hạnh phúc như một người phụ nữ bình
thường.
Trong truyện Con ma da, nhân vật Hiền là hiện thân của sự bất hạnh,
trái ngang. Nỗi đau của bi kịch “ lầm lỡ” được gia tăng khi nhà văn đưa chi
tiết “con ma da” lồng vào câu chuyện. Chi tiết này đã gợi lên những điều sâu
xa có ý nghĩa trong cuộc sống. Những hủ tục, mê tín lạc hậu đã làm cho con
người tin mù quáng, bảo thủ. Cái chết của thân phận đã khép lại một kiếp
người nhỏ nhoi. Những “ cái cũ”, “ định kiến” của những người có tư tưởng
bảo thủ, ít rộng lượng đã đẩy nhân vật rơi vào bế tắc của cuộc đời. Qua
những nhân vật trên, có thể nói nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã thể hiện
chữ bịa đặt và trang giấy trắng, tôi xin để trang giấy trắng trung thực trên
bàn viết”.
Và cuối cùng Nguyễn Quang Sáng lại chọn loại truyện phúng dụ,
nhưng truyện phúng dụ của ông không nhằm mục đích châm biếm đả kích
một hiện tượng xã hội cụ thể, mà gần với những truyện ngụ ngôn chứa đạo
lý ở đời gần với ngụ ngôn Esope, La Fontaine, Krưlốp và những truyện
trong Cổ học tinh hoa Nhật. Con mèo của Foujita tả một anh chàng ranh
mãnh đã biết cách lùng được bức tranh con mèo của họa sĩ Foujta trong cuộc
triển lãm ở Sài gòn năm 1944, để bán được giá cao đến chóng mặt nhân dịp
kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Foujta, và đã nhận ra chân lý: “đồ chơi bán
đắt tiền hơn đồ thật”. Và ông cũng bày tỏ quan niệm về nghệ thuật của
mình : “ Từ đó đôi lúc tao nghĩ, hình như người nghệ sĩ không chấp nhận
cái xấu. Mà cái xấu và cái đẹp lại song song tồn tại với con người. Và đó là
bi kịch của người nghệ sĩ”.
Lối kết thúc mang nội dung giáo dục đạo đức toát ra từ việc truyền đạt
qua một hiện tượng, một nhân vật được tác giả nhắc lại nhiều lần. Bài học
đạo đức thường được kết thúc thành những lời khuyên răn giáo huấn, chứa
đựng hàm ý sâu xa của tác giả, có ý nghĩa nhận thức, giáo dục rất thâm thúy.
Nhìn chung, các kiểu kết thúc bất ngờ, kiểu kết thúc mang tính triết lí
trong tác phẩm là kết tinh của một ngòi bút giàu chất trí tuệ, nó mở rộng ý
nghĩa của câu chuyện, của tác phẩm, gợi ra những phương diện nào đó của
cuộc đời, chứa đựng những suy nghĩ, cảm xúc của nhà văn về cuộc sống và
con người.
3.2. Ngôn ngữ trần thuật
Văn học là nghệ thuật ngôn từ và nhà văn là nhà sáng tạo nghệ thuật
bằng chính ngôn từ. Hơn bất cứ thứ chất liệu và phương tiện nghệ thuật nào,
ngôn ngữ là chất liệu và là phương tiện tối ưu của nhà văn trong sáng tác.
Ngôn ngữ cho phép nhà văn sử dụng nó để thể hiện vẻ đẹp sống động, lung
linh của thế giới tự nhiên, của đời sống xã hội và cả nội tâm con người – tùy
thuộc vào chỗ đứng, cách nhìn, cách cảm khác nhau với đủ mọi sắc thái
những thanh thiếu niên nhanh chóng trưởng thành trong cuộc kháng chiến
(Mì, Thu, Nhung, Dung); những người chiến sĩ cách mạng, cán bộ cơ sở
chịu nhiều mất mát nhưng một lòng vẫn hướng về cách mạng (Ba Hoành,
ông Năm Hạng); những con người quần chúng căm thù giặc sâu sắc, gắn bó
với đời sống kháng chiến (mẹ củ Mì, chị Bảy, anh Bảy Ngàn). Tác giả nêu
bật tính chất quần chúng của chiến tranh nhân dân ở miền Nam, tô đậm thêm
chủ nghĩa anh hùng cách mạng ở chính hành động anh hùng và phẩm chất
anh hùng. Cảm nhận nhà văn về những con người này được thể hiện qua
việc khắc họa những đặc điểm chân dung nhân vật – chân dung con người
lac quan yêu đời.
Trong miêu tả ngoại hình nhân vật , trạng thái con người lạc quan yêu
đời, nhà văn thường chú trọng các chi tiết ánh mắt, nụ cười của nhân vật.
Nhà văn chú trọng miêu tả những nét ngoại hình này không chỉ gợi lên sự
hình dung về dáng vẻ nhân vật mà còn gợi lên cả tâm tính, bản chất bên
trong cả nhân vật. Con người lạc quan yêu đời được tác giả miêu tả đẹp nhất
khi đối mặt với đạn bom, với kẻ thù nguy hiểm, qua những khuôn mặt luôn
tươi tắn rạng rỡ nụ cười, ánh mắt luôn tràn đầy niềm tin mãnh liệt.
Nhân vật cô giao liên Thu (Chiếc lược ngà) được tác giả khắc họa vẻ
đẹp chân dung đầy đặn từ hình thức đến nội dung. Một vẻ đẹp giản dị, thanh
khiết đối lập với bối cảnh thời chiến tranh khói lửa, bom đạn và bóng đen
thần chết luôn rình rập xung quanh. Trong suốt chuyến đi với sự chứng kiến
của người kể, nhân vật đã thể hiện được những phẩm chất, tính cách cao đẹp
của mình. Vẻ đẹp của Thu được tác giả tập trung miêu tả sau khi Thu chặn
địch, vừa bước ra khỏi chổ nguy hiểm mà “mặt cứ phơi phới”. Tác giả chỉ
miêu tả một chi tiết ngoại hình qua khuôn mặt cứ phơi phới để nói lên tính
cách lạc quan của cô giao liên, bên cạnh tính cách thông minh, bình tĩnh của
cô.
Nhân vật Dung (Chị xã đội trưởng) dũng cảm và rắc rối nhưng khuôn
mặt luôn nở nụ cười. Chị nhìn cây bá đỏ “Mĩm cười một mình”: chị gặp gỡ
mọi người “cười mĩm mĩm một mình”; trao lá thư gởi cho người yêu “chị
cách, chân dung của một tầng lớp người chịu nhiều mất mát đau thương
nhưng biết vươn lên dưới ánh sáng cách mạng. Miêu tả chân dung nhân vật
theo cách đó, Nguyễn Sáng chỉ ra được những nét tính cách lạc quan yêu đời
của người Nam Bộ, lí giải được sức mạnh tinh thần to lớn của con người đã
chiến thắng kẻ thù xâm lược.
Không những đối với các nhân vật tính cách, Nguyễn Quang Sáng chú
ý khắc họa những chi tiết ngoại hình về “ánh mắt”, “nụ cười” đối với những
nhân vật đời tư – thế sự “nụ cười” và “ánh mắt” cũng được tác giả miêu tả rõ
nét khi con người gặp phải hoàn cảnh trái ngang, nhưng nụ cười vẫn nở trên
môi, gợi lên niềm tin hy vọng ở tương lai. Nhân vật Bảy Quyên (Tên của
đứa con) suốt câu chuyện tác giả không miêu tả nụ cười của cô nhưng cuối
cùng (cô cười), nụ cười ánh lên niềm tin yêu hy vọng: “trước sau gì cũng có
ngày trời quang đãng, cái nỗi oan của mẹ con tôi, của gia đình chị Ba Phấn
là điều bí ẩn của vợ chồng tôi sẽ sáng ra” [43, 250]. Nhân vật Linh Đa được
khắc họa qua hình ảnh đôi mắt: “Đôi mắt đen nhưng ánh xanh qua lớp son
trên khóe mắt, mũi dọc dừa, với đôi môi ước mọng xinh xinh” – đó là chân
dung của một con người từng trải, lăn lộn trong cuộc đời son phấn để mưu
sinh, hình ảnh “ánh xanh qua lớp son màu” đã nói lên được bản chất phóng
túng, ngang tàng của tính cách nhân vật. Nhưng bên cạnh tính cách ngang
tàng, Linh Đa vẫn là một cô gái có tính cách kín đáo, xúc động “cười nụ
cười hiền và quyến rũ” … “Đôi mắt mở tròn và ngỡ ngàng bổng trào lên
từng giọt nước mắt lăn ra, nối nhau chảy dài xuống đôi má”. Cô khóc không
phải vì đau khổ, cô khóc vì niềm tin hy vọng ở tương lai giúp cho cô vững
bước đi lên đi trên đường đời để xứng đáng với người yêu cô “người đã hy
sinh cho tổ quốc”.
Nhìn chung, những chi tiết miêu tả ngoại hình trong truyện ngắn
Nguyễn Sáng điều là những chi tiết sống động và hàm chứa bao điều ẩn giấu
bên trong. Việc dụng chi tiết ngoại hình để khắc họa tính cách nhân vật
không phải là biện phải nghệ thuật mới mẻ, nhưng nét độc đáo của Nguyễn
Sáng là đã vận dụng một số nét chi tiết ngoại hình về “ánh mắt”, “nụ cười”