Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương, chi nhánh Quảng Ninh - Pdf 27

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
***
TRẦN DUY TÂN
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP
ĐẠI DƯƠNG - CHI NHÁNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
***
TRẦN DUY TÂN
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP
ĐẠI DƯƠNG - CHI NHÁNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Trần Thị Hà
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, xuất phát từ thực tế tại Ngân hàng
TMCP Đại Dương - Chi nhánh Quảng Ninh.
Hà Nội, ngày 18 tháng 03 năm 2014
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Duy Tân.
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng
dẫn cô giáo PGS.TS. Trần Thị Hà và sự chỉ bảo, dạy dỗ, tạo điều kiện của các thầy
cô, các cán bộ của Trường Đại học Thương mại nói chung và Khoa Sau Đại học

nghiệp của cán bộ làm công tác tín dụng không tốt và ngày càng xuống cấp thì
công tác quản trị tín dụng sẽ gặp nhiều rủi ro 31
Hiệu quả của công tác kiểm tra nội bộ trong hoạt động tín dụng cũng ảnh hưởng rất
nhiều đến công tác quản trị rủi ro tín dụng. Thông qua hoạt động kiểm tra nội bộ có
thể phát hiện, ngăn ngừa và chấn chỉnh những sai sót trong quá trình thực hiện
nghiệp vụ tín dụng cũng như phát hiện, ngăn chặn những rủi ro đạo đức do cán bộ
i
tín dụng gây ra. Việc sắp xếp bố trí mô hình kiểm tra nội bộ cũng ảnh hưởng đến
chất lượng của công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ. Các ngân hàng cần sắp xếp mô
hình kiểm tra kiểm soát nội bộ một cách độc lập với bộ phận trực tiếp kinh doanh
thì các kết luận kiểm tra, kiểm soát đưa ra mới khách quan và giúp cho công tác
quản trị rủi ro tín dụng đạt hiệu quả 31
Thứ sáu, hệ thống thông tin, báo cáo của ngân hàng 32
Hệ thống thông tin nội bộ và hệ thống thông tin bên ngoài ngân hàng giúp cho việc
ra quyết định tín dụng đúng đắn và kịp thời, giám sát món vay có hiệu quả, phát
hiện sớm các dấu hiệu gây rủi ro, giảm thiểu rủi ro tín dụng. Khi thu thập được
thông tin, ngân hàng cần phải có bộ phận xử lý thông tin để đảm bảo thông tin
chính xác, từ đó có những biện pháp phù hợp 32
1.3.2. Các yếu tố khách quan 33
CHƯƠNG II: 34
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RRTD TẠI OCEANBANK CHI
NHÁNH QUẢNG NINH 34
34
2.1. Khái quát về Oceanbank 34
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Oceanbank 34
2.1.2. Hoạt động kinh doanh chính 34
2.1.3. Khái quát về Oceanbank - Chi nhánh Quảng Ninh 35
36
2.1.4. Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh tại Oceanbank – Chi nhánh Quảng
Ninh năm 2010 – Qúy III/2013 37

3.3.2. Đề xuất đối với các quy định của Chính phủ 84
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Viết tắt Nội dung
1 BCTC Báo cáo tài chính
2 BGĐ Ban giám đốc
3 DPRR Dự phòng rủi ro
4 NHTM Ngân hàng thương mại
5 NHNN Ngân hàng nhà nước
6 NQH Nợ quá hạn
7 NHTW Ngân hàng Trung ương
8 Oceanbank Ngân hàng TMCP Đại Dương
9 RRTD Rủi ro tín dụng
10 TMCP Thương mại cổ phần
iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU
BẢNG
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I 3
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 3
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại và sự cần thiết của hoạt
động quản trị rủi ro tín dụng 3
1.1.1. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại 3

Hiệu quả của công tác kiểm tra nội bộ trong hoạt động tín dụng cũng ảnh hưởng rất
nhiều đến công tác quản trị rủi ro tín dụng. Thông qua hoạt động kiểm tra nội bộ có
thể phát hiện, ngăn ngừa và chấn chỉnh những sai sót trong quá trình thực hiện
nghiệp vụ tín dụng cũng như phát hiện, ngăn chặn những rủi ro đạo đức do cán bộ
tín dụng gây ra. Việc sắp xếp bố trí mô hình kiểm tra nội bộ cũng ảnh hưởng đến
chất lượng của công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ. Các ngân hàng cần sắp xếp mô
hình kiểm tra kiểm soát nội bộ một cách độc lập với bộ phận trực tiếp kinh doanh
thì các kết luận kiểm tra, kiểm soát đưa ra mới khách quan và giúp cho công tác
quản trị rủi ro tín dụng đạt hiệu quả 31
Hiệu quả của công tác kiểm tra nội bộ trong hoạt động tín dụng cũng ảnh hưởng rất
nhiều đến công tác quản trị rủi ro tín dụng. Thông qua hoạt động kiểm tra nội bộ có
thể phát hiện, ngăn ngừa và chấn chỉnh những sai sót trong quá trình thực hiện
nghiệp vụ tín dụng cũng như phát hiện, ngăn chặn những rủi ro đạo đức do cán bộ
tín dụng gây ra. Việc sắp xếp bố trí mô hình kiểm tra nội bộ cũng ảnh hưởng đến
chất lượng của công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ. Các ngân hàng cần sắp xếp mô
hình kiểm tra kiểm soát nội bộ một cách độc lập với bộ phận trực tiếp kinh doanh
thì các kết luận kiểm tra, kiểm soát đưa ra mới khách quan và giúp cho công tác
quản trị rủi ro tín dụng đạt hiệu quả 31
Thứ sáu, hệ thống thông tin, báo cáo của ngân hàng 32
Thứ sáu, hệ thống thông tin, báo cáo của ngân hàng 32
Hệ thống thông tin nội bộ và hệ thống thông tin bên ngoài ngân hàng giúp cho việc
ra quyết định tín dụng đúng đắn và kịp thời, giám sát món vay có hiệu quả, phát
hiện sớm các dấu hiệu gây rủi ro, giảm thiểu rủi ro tín dụng. Khi thu thập được
thông tin, ngân hàng cần phải có bộ phận xử lý thông tin để đảm bảo thông tin
chính xác, từ đó có những biện pháp phù hợp 32
Hệ thống thông tin nội bộ và hệ thống thông tin bên ngoài ngân hàng giúp cho việc
ra quyết định tín dụng đúng đắn và kịp thời, giám sát món vay có hiệu quả, phát
hiện sớm các dấu hiệu gây rủi ro, giảm thiểu rủi ro tín dụng. Khi thu thập được
vi
thông tin, ngân hàng cần phải có bộ phận xử lý thông tin để đảm bảo thông tin

3.1.2. Định hướng về quản trị RRTD tại Chi nhánh 68
3.2. Giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại Oceanbank. .69
3.2.1. Đề xuất với Oceanbank 69
3.2.2. Đề xuất với Oceanbank – Chi nhánh Quảng Ninh 72
vii
3.2.2.1. Đề xuất về tổ chức quản trị rủi ro tín dụng 72
3.2.2.2. Hoàn thiện chính sách và quy trình tín dụng 73
3.2.2.3. Hoàn thiện công tác nhận dạng rủi ro tín dụng 75
3.2.2.4. Hoàn thiện công tác đo lường rủi ro tín dụng 76
3.2.2.6. Hoàn thiện công tác tài trợ rủi ro tín dụng 78
3.2.2.7.Giải pháp về nhân sự 80
3.3. Một số đề xuất 81
3.3.1. Đề xuất với Ngân hàng Nhà nước 81
3.3.2. Đề xuất đối với các quy định của Chính phủ 84
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
viii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đối với các NHTM Việt Nam, hoạt động tín dụng đóng vai trò quan trọng và
mang lại nhiều lời nhuận cho ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng cũng chứa
đựng rất nhiều rủi ro, gây thiệt hại, ảnh hưởng lớn nhất tới hoạt động ngân hàng.
Nếu những tổn thất này ở mức kiểm soát được thì việc xử lý tương đối dễ dàng
trong giới hạn cho phép của quỹ dự phòng bù đắp rủi ro của ngân hàng. Nhưng khi
tổn thất quá lớn, vượt quá khả năng xử lý của ngân hàng ảnh hưởng tới quyền lợi
của người gửi tiền và toàn bộ nền kinh tế là nguy cơ tiềm ẩn cho khủng hoảng tài
chính tiền tệ.
Hiện nay, tại Ngân hàng TMCP Đại Dương (Oceanbank) chi nhánh Quảng
Ninh rất quan tâm đến vấn đề rủi ro tín dụng. Chi nhánh đã thực hiện rất nhiều biện
pháp để hạn chế rủi ro tín dụng. Tuy những biện pháp mà Chi nhánh đang thực hiện

CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại và sự cần thiết của hoạt
động quản trị rủi ro tín dụng
1.1.1. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm
Theo giáo trình Nghiệp vụ ngân hàng thương mại của Tiến sĩ Nguyễn Minh
Kiều thì “Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ
ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất
định”.
Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã được Quốc hội nước CHXHCN
Việt Nam thông qua thì “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử
dụng một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép
sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết
khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp
tín dụng khác”.
Có nhiều cách định nghĩa nhưng nói chung tín dụng ngân hàng được hiểu là
một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay là ngân hàng và bên
đi vay, trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một
thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện
gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn.
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của các NHTM. Dư nợ tín dụng
thường chiếm trên 50% tổng tài sản của NHTM và thu nhập từ tín dụng thường
chiếm từ 50% - 70% tổng thu nhập của NHTM. Bên cạnh việc mang lại thu nhập
chính cho ngân hàng thì rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũng có xu hướng tập
trung vào danh mục tín dụng. Chính vì vậy mà hoạt động tín dụng luôn là mối quan
tâm lớn nhất của các NHTM cũng như thanh tra ngân hàng.
Các đặc điểm của tín dụng ngân hàng gồm:
- Tài sản trong quan hệ tín dụng ngân hàng là tiền.

tài sản lưu động, bởi vì tài sản lưu động thường có vòng quay trên một vòng thấp
hơn một năm. Do vậy trong một năm doanh nghiệp có thể hoàn trả được số tiền vay
ở Ngân hàng.
- Tín dụng trung hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng
đến 60 tháng; Các tài sản cố định như phương tiện sản xuất, phương tiện vận tải,
một số cây trồng vật nuôi các trang thiết bị nhanh hao mòn có nhu cầu nguồn vốn
từ 1 năm đến 5 năm.
4
- Tín dụng dài hạn: gồm các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng
trở lên. Thông thường những công trình đầu tư lớn, thu hồi vốn lâu, thuộc tầm vĩ
mô như: máy móc thiết bị công nghiệp nặng, xây dựng cầu đường có nhu cầu
nguồn vốn từ 5 năm đến 10 năm có khi tới 20 năm.
c, Căn cứ theo tài sản đảm bảo.
Nếu căn cứ vào tài sản đảm bảo thì ta có các loại hình tín dụng sau:
- Tín dụng đảm bảo là loại hình cho vay mà ngân hàng yêu cầu khách hàng
phải có bảo đảm như thế chấp cầm cố tài sản hoặc phải có sự bảo lãnh của người
thứ ba để thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với ngân hàng trong trường hợp không trả
được nợ. Trong trường hợp này khi khách hàng không trả được nợ, hoặc vì sử dụng sai
mục đích nguồn vốn vay dẫn đến không thanh toán được thì ngân hàng sẽ bán tài sản
đi để thu hồi nguồn vốn. Loại hình cho vay này thường áp dụng đối với các khách
hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để
ngân hàng có thêm nguồn thứ hai bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc
chắn.
- Tín dụng không có tài sản đảm bảo đó là loại hình tín dụng mà khách hàng
có nhu cầu vay vốn với một hạn mức nhất định mà không cần tài sản đảm bảo. Loại
tín dụng này thường được cấp cho các khách hàng có uy tín cao, những khách hàng
có mối quan hệ tốt và lâu dài đối với ngân hàng, họ có tình hình tài chính lành
mạnh, có mối quan hệ tốt với các tổ chức tài chính. Cũng có thể là các khoản vay
thực hiện theo chỉ thị của Chính phủ, hay Chính phủ yêu cầu không cần tài sản đảm
bảo.

hàng Nhà nước thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín
dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng
do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của
mình theo cam kết”.
Khi thực hiện cho vay một khách hàng cụ thể, ngân hàng không dự kiến là
khoản vay đó sẽ có thể bị tổn thất. Tuy nhiên cũng như những loại hình đầu tư khác,
những khoản tín dụng đó luôn hàm chứa rủi ro. Do đó rủi ro tín dụng còn được
hiểu là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng do khách hàng
vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi dẫn đến làm
giảm khả năng thanh toán, giảm hiệu quả kinh doanh, gây thất thoát vốn và có thể
làm cho ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản.
1.1.2.2. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng
 Nguyên nhân từ phía khách hàng:
Đây là một trong những nguyên nhân chính gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
- Khách hàng là cá nhân vay vốn, rủi ro có thể xảy ra do các nguyên nhân
sau:
+ Người vay bị thất nghiệp, mất việc làm, do vậy không có khoản thu nhập
6
để trả nợ
+ Người vay gặp rủi ro bất thường trong cuộc sống như tai nạn, ốm đau.
+ Rủi ro đạo đức khi khách hàng cố tình lừa ngân hàng, sử dụng tiền vay
không đúng mục đích, chi tiêu quá mức.
+ Khả năng hoạch định phương án kinh doanh, phương án trả nợ không
chính xác, còn mang tính chủ quan.
- Khách hàng là doanh nghiệp:
+ Rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp: Do năng lực quản lý kinh
doanh của khách hàng yếu kém, chiến lược kinh doanh không được quản lý, hoạch
định tốt, phương án kinh doanh đi vào phá sản. Điều này làm ảnh hưởng đến nguồn
trả nợ. Hoặc doanh nghiệp không có đủ vốn kinh doanh, cơ cấu vốn không hợp lý,
đầu tư quá mức vào tài sản cố định mà không quan tâm đến hiệu quả kinh tế, đầu tư

có thể thẩm định có hiệu quả, chất lượng thì việc thu thập thông tin phải có chất
lượng. Song khi thẩm định hồ sơ khách hàng, các ngân hàng đôi khi thẩm định dựa
trên ý chí chủ quan, cảm tính, không thu thập thông tin đầy đủ về khách hàng,
không dựa trên hiệu quả thực sự của dự án, chưa đánh giá dựa trên các luồng tiền
của khách hàng.
- Thứ ba, giám sát tín dụng chưa được coi trọng
Sau khi giải ngân, ngân hàng thực hiện giám sát tín dụng nhằm theo dõi việc
sử dụng vốn vay của khách hàng có đúng mục đích hay không, tình hình hoạt động
kinh doanh có đúng như trong kế hoạch để đảm bảo trả nợ cho ngân hàng hay
không, kiểm tra tài sản đảm bảo về tình hình bảo quản, giá trị thị trường….từ đó,
ngân hàng có biện pháp kịp thời khi khoản vay có những dấu hiệu rủi ro. Tuy nhiên
công tác kiểm tra, giám sát sau khi cho vay nếu không được coi trọng, ngân hàng
không thực sự coi hoạt động tín dụng là cùng kinh doanh với khách hàng thì rủi ro
xảy ra là tất yếu.
- Thứ tư, rủi ro đạo đức của cán bộ tín dụng:
Khi cho vay, các bộ tín dụng không thực hiện đúng quy trình cho vay, bỏ qua
các bước cần thiết, thu thập thông tin chưa đầy đủ, thiếu chính xác, cho vay dựa trên
cảm tính, không dựa trên tài liệu chứng minh. Vì vậy, việc ra quyết định cho vay
không chính xác, cho vay khi điều kiện chưa đủ, khả năng xảy ra rủi ro rất cao, việc
thu hồi vốn khó khăn.
- Thứ năm, sự phối kết hợp của các NHTM còn lỏng lẻ, hoạt động của
Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) còn chưa thực sự hiệu quả:
Các NHTM chưa hợp tác chặt chẽ trong việc quản lý các khách hàng vay
vốn để quản lý rủi ro tín dụng. Khách hàng có thể cùng một lúc vay vốn nhiều ngân
hàng. Nếu không có sự trao đổi, cung cấp thông tin thì rủi ro có thể xảy ra khi
khách hàng vay vượt mức tối giới hạn tối đa theo quy định hoặc tài sản bảo đảm
được thế chấp, cầm cố ở nhiều ngân hàng,
8
 Nguyên nhân từ phía môi trường kinh doanh:
NHTM thực hiện kinh doanh trong một môi trường chịu sự tác động của

khách hàng, trình độ dân trí cao thì ý thức trả nợ cao hơn, ngân hàng cho vay gặp ít
rủi ro hơn.
9
* Môi trường thông tin:
Sẽ rất suôn sẻ và an toàn nếu trong các giao dịch tín dụng, các bên tham gia
đều có thông tin và hiểu biết đầy đủ về nhau. Song một thực tế tồn tại là: một bên
thường không biết tất cả những gì cần biết về bên kia, hoặc những thông tin có được
lại không liên tục và có độ tin cậy không cao. Sự không cân xứng về thông tin như
vậy trong nhiều trường hợp đã đặt các ngân hàng vào tình trạng đưa ra phán quyết
tín dụng trong điều kiện thông tin không hoàn hảo, gây rủi ro cho ngân hàng.
 Nguyên nhân từ tài sản đảm bảo:
- Sự biến động bất lợi về giá cả thị trường của tài sản bảo đảm:
Trong khi xác định cho vay, ngân hàng có thể yêu cầu người vay phải có tài
sản đảm bảo, tuy nhiên, do không đánh giá được sự biến động của thị trường, tài
sản bị giảm giá, gía trị tài sản không đủ thanh toán gốc và lãi cho ngân hàng, dẫn
đến rủi ro.
- Đánh giá không đúng giá trị của tài sản đảm bảo:
Do việc đánh giá giá trị tài sản không dựa trên khả năng chuyển nhượng, và
việc đánh giá thiếu cơ sở, vì vậy, tài sản đảm bảo được định giá cao hơn giá trị thực
của nó, khi phát mại, khả năng thu hồi đủ vốn rất khó khăn.
- Tài sản không đủ giấy tờ pháp lý:
Khi khách hàng không trả nợ, việc thu hồi nợ từ phát mại tài sản đảm bảo là
hết sức khó khăn. Trong trường hợp có tranh chấp về pháp lý, tài sản đảm bảo là
tang vật của vụ án và bị tịch thu.
1.1.2.3. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hoạt động kinh doanh ngân hàng và nền
kinh tế
 Đối với Ngân hàng thương mại
- Rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận của Ngân hàng:
Khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ phát sinh các khoản nợ khó đòi, sự ứ đọng vốn
dẫn đến giảm vòng quay vốn ngân hàng. Mặt khác, nó cũng làm phát sinh tăng các

hơn nhiều. Vấn đề giữ uy tín là điều tối quan trọng, chỉ cần mất niềm tin vào ngân
hàng thì người gửi tiền sẽ có thể kéo đến ngân hàng rút tiền. Nếu rủi ro xảy ra ở
mức độ ngân hàng không có khả năng ứng phó thì sẽ gây phản ứng dây chuyền
trong dân chúng, dân chúng sẽ đổ xô đến ngân hàng rút tiền gửi. Đối với những
khoản cho vay dài hạn ngân hàng không thể thu hồi vốn ngay, đồng thời rủi ro tín
dụng đã làm mất một phần vốn của ngân hàng, như vậy ngân hàng không còn khả
năng thanh toán và sẽ đi đến phá sản.
 Đối với hệ thống ngân hàng
Hoạt động của một ngân hàng trong một quốc gia có liên quan đến hệ thống
ngân hàng và các tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân trong nền kinh tế. Sự đổ vỡ của
một ngân hàng có thể kéo theo sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống ngân hàng, gây mất
lòng tin ở dân chúng và có thể dẫn tới khủng hoảng của cả nền kinh tế. Nếu một
11
ngân hàng có kết quả hoạt động xấu, thậm chí dẫn đến mất khả năng thanh toán và phá
sản thì sẽ có những tác động dây chuyền ảnh hưởng xấu các ngân hàng và các bộ phận
kinh tế khác. Nếu không có sự can thiệp kịp thời của NHNN và Chính phủ thì tâm lý
sợ mất tiền sẽ lây lan đến toàn bộ người gửi tiền và họ sẽ đồng loạt rút tiền tại các
NHTM làm cho các ngân hàng khác vô hình chung cũng rơi vào tình trạng mất khả
năng thanh toán.
 Đối với khách hàng
Rủi ro tín dụng không chỉ gây hậu quả nghiêm trọng đối với ngân hàng mà
nó còn có tác động xấu đối với khách hàng.
- Đối với người gửi tiền: Khi rủi ro tín dụng xảy ra, ảnh hưởng đến uy tín của
ngân hàng dẫn đến khách hàng kéo đến rút tiền ồ ạt, vì vậy ngân hàng sẽ mất khả
năng thanh toán. Khách hàng cũng phải đối mặt với rủi ro là họ không thể thu hồi lại
khoản tiền đã gửi ngân hàng.
- Đối với người vay tiền: khi ngân hàng có rủi ro tín dụng ở mức độ cao
ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng, người gửi tiền tới ngân hàng sẽ ít đi và
ngân hàng sẽ phải trả cho họ một lãi suất cao đồng thời ngân hàng áp dụng chính
sách thận trọng hơn khi cho vay. Như vậy, ngân hàng sẽ hạn chế cho vay và áp

Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các
chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn,
hiệu quả và phát triển bền vững. Đồng thời, phải tăng cường các biện pháp phòng
ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, từ đó
tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh
doanh cả trong ngắn hạn và dài hạn của NHTM.
Quản trị rủi ro tín dụng bao gồm toàn bộ quá trình thẩm định đánh giá trước
khi khoản vay được phê duyệt cùng với toàn bộ quá trình giám sát và báo cáo việc
tuân thủ những cam kết tín dụng. Công tác này được thực hiện ngay từ khi xem xét
hồ sơ xin vay vốn, thẩm định khách hàng, ký kết hợp đồng tín dụng và việc thực
hiện giải ngân và kiểm soát khi cho vay đến việc thu nợ và xử lý nợ xấu.
* Sự cần thiết phải quản trị rủi ro tín dụng
Thứ nhất: Rủi ro tín dụng là một trong những vấn đề mà tất cả các NHTM
phải đương đầu. Quản trị rủi ro tín dụng là vấn đề khó khăn và phức tạp, bởi lẽ rủi
ro tín dụng mang tính tất yếu khách quan, luôn gắn liền với hoạt động tín dụng,
đồng thời lại rất đa dạng phức tạp. Rủi ro tín dụng thường khó kiểm soát và dẫn đến
những thiệt hại, thất thoát về vốn và thu nhập của ngân hàng.
Thứ hai: Khi hoạt động Quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng được tổ chức
thực hiện tốt thì sẽ đem lại những lợi ích cho ngân hàng như:
- Giảm chi phí, nâng cao được thu nhập, bảo toàn vốn cho NHTM;
- Tạo niềm tin cho khách hàng gửi tiền và nhà đầu tư;
- Tạo tiền đề để mở rộng thị trường và tăng uy tín, vị thế, hình ảnh, thị phần
cho ngân hàng.
13

Trích đoạn Nguyên nhân chủ quan Nguyên nhân khách quan Định hướng phát triển chung Định hướng về quản trị RRTD tại Chi nhánh Giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại Oceanbank
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status