Bài tập nghiên cứu khoa học Giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mầm non lứa 4 - 5 tuổi - Pdf 27

GVHD: Phạm Thanh Thủy
LỜI CẢM ƠN
Thực tập sư phạm là một chuyến đi hết sức cần thiết, nó trang bị cho giáo sinh
những kiến thức mà nếu chỉ ngồi trên ghế nhà trường thì khó mà tiếp thu được. Nó
không chỉ là kiến thức lý thuyết thuần túy, mà còn là những kiến thức thực tế cho
những thầy cô giáo tương lai.
Để cho chúng em, những giáo viên tương lai, có được những thực tế đó thì
ngoài những kiến thức đã học ở nhà trường, phải kể đến sự hướng dẫn tận tình của các
thầy cô giáo.
Trải qua ba tuần thực tập ngắn ngủi, nhưng những kiến thức mà nhóm giáo sinh
thực tập, cũng như chính bản thân em đã chắt nhặt được là rất lớn.
Để làm được điều đó, em xin chân thành gởi lời cảm ơn đến:
- Ban Giám Hiệu Trường Cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng, Ban Giám Hiệu
Trường Mẫu giáo Phường 3 đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho chúng em được thực tập
tại trường Mẫu giáo Phường 3.
- Cảm ơn giáo viên hướng dẫn thực tập sư phạm cô Phạm Thanh Thủy trường
Cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng.
- Cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô Trần Thanh Thảo, cô Lưu Mộc Kim và
giáo viên trong Hội đồng Sư phạm trường Mẫu giáo Phường 3 đã tận tình hướng dẫn
em, tạo mọi điều kiện tốt nhất để em được tiếp xúc với lớp trong thời gian thực tập.
Điều đó đã giúp chúng em học hỏi và tiếp thu được nhiều kinh nghiệm quý báu trong
quá trình thực tập.
- Cảm ơn các bạn sinh viên trong đoàn thực tập đã giúp đỡ và chia sẻ những khó
khăn với em trong suốt thời gian thực tập.
Em xin chân thành cảm ơn và gửi đến tất cả thầy cô và các bạn lời chúc tốt đẹp
nhất!
Sóc Trăng, Ngày 3 tháng 5 năm 2010
Trang 2
GVHD: Phạm Thanh Thủy
MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU

• Trong giao tiếp hàng ngày với mọi người xung quanh trẻ sử dụng lời nói
để trình bày ý nghĩ, tình cảm hiểu biết…của mình với mọi người xung quanh. Cho nên
việc tạo cho trẻ được nghe hiểu và được nói là hết sức cần thiết trong giáo dục ngôn
ngữ.
- Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục đạo đức.
+ Ngôn ngữ đóng vai trò rất lớn trong việc điều chỉnh những hành vi và việc
làm của trẻ. Trong giao tiếp hàng ngày thông qua chuyển kể, ca dao, đồng dao,…trẻ
cảm nhận được cái hay cái đẹp trong ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, cái đẹp trong hành vi,
trong cuộc sống, giáo viên đưa đến và giảng dạy cho trẻ những hành vi đẹp.
+ Thông qua ngôn ngữ trẻ biết những gì nên, không nên, qua đó rèn luyện
những phẩm chất đạo đức tốt ở trẻ, dần dần hình thành ở trẻ những khái niệm ban đầu
về đạo đức: ngoan – hư, tốt – xấu, thật thà – không thật thà….
- Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục thẩm mỹ.
+ Trong giao tiếp với người lớn, trẻ nhận thức được cái đẹp trong thế giới
xung quanh, qua đó làm cho tâm hồn trẻ càng thêm bay bổng, trí tưởng tượng càng
thêm phong phú, đồng thời trẻ càng thêm yêu quý cái đẹp, trân trọng và có ý thức sáng
tạo ra cái đẹp.
+ Thông qua ngôn ngữ văn học trẻ cảm nhận được cái hay cái đẹp trong ngôn
ngữ tiếng mẹ đẻ, cái đẹp trong hành vi trong cuộc sống. Từ đó giáo dục trẻ có ý thức
trân trọng những sản phẩm văn hóa của dân tộc mình.
- Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục thể lực:
+ Trong các buổi tập luyện thể lực, giáo viên dùng lời diễn đạt để hướng dẫn,
giải thích động tác tư thế…trẻ nghe và điều chỉnh động tác theo mệnh lệnh của giáo
viên.
+ Hàng ngày giáo viên hướng dẫn trẻ làm vệ sinh cá nhân, cách sử dụng thực
phẩm, đồng thời giáo viên dùng các từ ngữ để động viên trẻ ăn ngon miệng và hợp vệ
sinh.
Vậy trong giáo dục thể lực cho trẻ, ngôn ngữ đóng vai trò điều khiển, hướng
dẫn, động viên, khuyến khích trẻ.
Trang 4

phát triển cùng với tư duy, chúng luôn luôn dựa vào nhau mà tồn tại.
Trang 5
GVHD: Phạm Thanh Thủy
+ Ở tuổi nhà trẻ hầu hết các trẻ em đều rất tích cực trong hoạt động với đồ vật,
nhờ đó mà tư duy phát triển mạnh (tư duy trực quan- hành động). Đến tuổi mẫu giáo tư
duy của trẻ chuyển từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong (tư duy trực quan-
hình tượng) nhưng vẫn gắn liền với hành động vật chất bên ngoài. Việc phát triển tư
duy không thể tách rời việc trau dồi ngôn ngữ bởi vì ngôn ngữ là phương tiện, là hình
thức biểu đạt của tư duy. Trong sự diễn biến của quá trình tư duy, nhờ ngôn ngữ, mà ta
tiến hành các thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, so sánh,… sản phẩm của tư duy là
những khái niệm, phán đoán, suy lí được biểu đạt trong từ ngữ, câu v.v (Tuy nhiên,
việc phát triển tư duy không thể thay thế việc rèn luyện năng lực cảm giác, tri giác,
quan sát, trí nhớ. Vì nếu không có những tri thức cần thiết, không thu nhập được sự
kiện, tài liệu thì không có gì để tư duy, tư duy không thể tiến hành bên ngoài những tri
thức cụ thể được).
1.3. Phát triển ngôn ngữ trong chương trình GDMN mới vừa được Bộ GD-ĐT
triển khai thực hiện từ năm học 2009-2010 được chia làm 5 lĩnh vực:
- Phát triển thể chất:
+ Khỏe mạnh, cân nặng và chiều cao phát triển bình thường theo lứa tuổi.
+ Thực hiện được các vận động cơ bản một cách vững vàng, dúng tư thế.
+ Có khả năng phối hợp các giác quan và vận động; vận động nhịp nhàng, biết
định hướng trong không gian.
+ Có kĩ năng trong một số hoạt động cần sự khéo léo của đôi tay.
+ Có một số hiểu biết về thực phẩm và lợi ích của viêc ăn uống đối với sức
khỏe.
+ Có một số thói quen, kĩ năng tốt trong ăn uống, giữ gìn sức khỏe và đảm bảo
sự an toàn của bản thân.
- Phát triển nhận thức:
+ Ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi các sự vật hiện tượng xung quanh.
+ Có khả năng quan sát, so sánh, phân loại, phán đoán, chú ý, ghi nhớ có chủ

1.4. Vai trò của tác phẩm văn học trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm
non:
Ngôn ngữ của truyện rất phức tạp, đa dạng, bao gồm ngôn ngữ bên trong của
các nhân vật (độc thoại), ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ của người kể chuyện… lời kể
Trang 7
GVHD: Phạm Thanh Thủy
và cách kể có nghệ thuật sẽ có tác dụng lớn đối với việc thể hiện nội dung tư tưởng của
truyện.
- Thông qua tác phẩm văn học (truyện: “Ba ngọn Đèn”, “Kiến con đi ôtô”, “Qua
đường”, thơ: “Trên đường”, “Chiếc cầu mới”, “Gấu qua cầu”…) trẻ biết được cái tốt,
cái xấu, cái gì nên và không nên, từ đó tác phẩm văn học tác động đến hành vi, việc
làm của trẻ. Trong quá trình học, trẻ sẽ được đóng vai làm nhân vật trong truyện, đóng
vai nào trẻ sẽ làm đúng, giọng nói phù hợp với vai đó, đồng thời trẻ sẽ sáng tạo ra lời
nói khác nhưng phải phù hợp với nội dung và hoàn cảnh của câu chuyện. Còn thơ thì
trẻ được đọc nhiều lần, đọc cho chuẩn, và có thể đặt tên cho bài thơ. Từ đó kích thích
trẻ nói, nếu sai thì sửa cho trẻ, nên ngôn ngữ của trẻ được phát triển hơn.
- Ngoài ra có thể cho trẻ kể theo tranh, trẻ sử dụng từ theo ý mình, cứ thường
xuyên cho trẻ tiếp xúc với văn học thì ngôn ngữ của trẻ sẽ diễn đạt mạch lạc, Lôgic và
phù hợp với hoàn cảnh, lứa tuổi,…
Vì vậy tác phẩm văn học giúp trẻ phát triển ngôn ngữ rõ ràng, chính xác, cho
trẻ tự tin để diễn đạt những gì mà trẻ thấy và cảm nhận qua tác phẩm văn học đó.
1.5. Lý do chọn đề tài:
- Trẻ còn nói ngọng, nói đớt, phát âm chưa chuẩn, âm khó.
- Thường phát âm sai về thanh điệu do thanh quản phát triển chưa hoàn thiện và
do đặc điểm của từng vùng. Sai những âm chính, âm đầu, âm đệm, âm cuối.
- Trẻ nói câu cụt, thiếu thành phần.
Vì vậy, nên ta phải nghiên cứu một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ
mẫu giáo cho trẻ Chồi 1 qua viêc tổ chức cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu khả năng ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo chồi 1 tại trường Mẫu giáo

- Trẻ vẫn còn sai những âm, thanh khó hoặc những từ có 2, 3 âm vị, sai những
âm tiết có nhiều âm vị. Tuy nhiên, các lỗi sai đã ít hơn.
- Đã xuất hiện ở lời nói của trẻ những khái quát, kết luận đơn giản một cách
mạch lạc.
- Đến 5 tuổi trẻ có thể phát âm mềm dẻo, các loại âm của tiếng mẹ đẻ hoặc của
một thứ tiếng nước ngoài nào đó mà trẻ được tiếp xúc.
Kết luận: Qua thực tế tìm hiểu đặc điểm phát âm của trẻ ta thấy rằng:
- Lỗi phát âm của trẻ được giảm dần theo lứa tuổi và các thành phần âm tiết mà
trẻ mắc lỗi được xếp theo thứ tự từ ít đến nhiều như sau:
+ Thanh điệu.
+ Âm chính.
+ Phụ âm đầu.
+ Phụ âm cuối.
+ Âm đệm.
1.2. Đặc điểm vốn từ:
- Vốn từ trẻ tăng nhanh khoảng 1300 – 2000 từ. Danh từ và động từ chiếm ưu
thế, tính từ và các loại từ khác trẻ đã sử dụng nhiều hơn.
- Trẻ đã sử dụng chính xác các từ chỉ tính chất không gian như: Cao, thấp, dài,
ngắn; các từ chỉ tốc độ như: Nhanh, chậm; Màu: Đỏ, vàng, trắng, đen…
Ngoài ra các từ có khái niệm tương đối như: Hôm nay, hôm qua, ngày mai, trẻ
vẫn dùng chưa chính xác…
- Một số còn biết sử dụng các từ chỉ màu sắc như: Xám, xanh lá cây, tím; 100%
trẻ biết dùng các từ cao, thấp, rộng, hẹp; có 86,2% số trẻ đếm được từ 1-10; 41,5% số
trẻ đếm được từ 10 trở lên.
Trang 10
GVHD: Phạm Thanh Thủy
Kết luận:
- Số lượng từ của trẻ tăng nhanh theo lứa tuổi.
- Trong số lượng từ của trẻ thì danh từ và động từ chiếm ưu thế. Các từ chỉ tính
chất, đặc điểm… chiếm số ít và tăng chậm.

các qui luật hoạt động sư phạm nhằm hình thành và phát triển lời nói cho trẻ trước tuổi
đi học.
+ Nhiệm vụ môn học:
• Cung cấp cho giáo sinh sư phạm những tri thức cần thiết về phương pháp
phát triển lời nói cho trẻ một cách hệ thống và khoa học.
• Rèn luyện cho giáo sinh kỹ năng tổ chức, hướng dẫn hoạt động vui chơi,
học tập, lao động và các hoạt động khác nhằm mục đích phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
• Giáo dục cho giáo sinh có ý thức hoàn thiện ngôn ngữ của chính mình,
coi đó là một trong những phương tiện để phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
- Mối liên hệ giữa môn Phương pháp phát triển lời nói cho trẻ với các ngành
khoa học khác:
• Triết học
• Với Tâm lí học
• Với Giáo dục học
• Với giải phẫu sinh lí
• Với Ngôn ngữ học
• Với các ngành khoa học ứng dụng khác.
Tóm lại, phương pháp phát triển ngôn ngữ là một môn khoa học ứng dụng. Nó
được thực hiện và phát triển trên cơ sở các ngành khoa học khác và liên quan có tính
chất hữu cơ với các môn khoa học ứng dụng khác.
1.5. Mối quan hệ giữa tác phẩm văn học và việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
- Con người khác đọng vật ở chỗ là con người có trí tuệ, nghĩa là có khả năng
nhận thức được thế giới bên ngoài nhớ có trí nhớ và có thể cảm nhận được cái hay, cái
đẹp trong tác phẩm văn học.
Trang 12
GVHD: Phạm Thanh Thủy
- Những mối liên hệ, sự phụ thuộc và các quan hệ có tính quy luật giữa các đối
tượng, các hiện tượng, các sự kiện được xác lập và phản ánh trong lời nói độc thoại của
trẻ. Ở trẻ đã phát triển những kĩ năng tìm những hình thức ít nhiều hợp lí để biểu đạt
trong câu chuyện kể. Trẻ có thể xây dựng những câu chuyện tương đối liên tục về một

- Phát âm sai âm đệm:
• Thuyền - thiền
• Tuyến - tiến
- Phát âm sai âm chính:
• Hươu - hu
• Mặn - mận
• Thủy - thị
- Phát âm sai âm cuối:
• Máy bay- mái bai
• Tàu - tào
• Nhau - nhao
• Thông tin - thông tinh
• Lạnh - lặng
Trong 10 trẻ chỉ có 3 trẻ nói chuẩn, còn 7 trẻ nói không chuẩn và phát âm sai
nhiều, nói nhỏ, thậm chí không nghe, không hiểu trẻ đang nói gì.
3. Đề ra một số biện pháp để phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua việc tổ chức
cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học và khắc phục các lỗi ngôn ngữ của trẻ
thường mắc phải:
- Biện pháp rèn luyện phát âm cho trẻ có thể trong giờ học vui và trong giờ vui
chơi khi trẻ phát âm sai cũng có thể luyện phát âm cho trẻ:
+ Dạy trẻ phát âm chuẩn là dạy trẻ biết phát âm chính xác những thành phần
của âm tiết (thanh điệu, phụ âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối).
+ Dạy trẻ phát âm chuẩn là còn dạy trẻ biết điều chỉnh âm lượng (không nói
quá nhanh hoặc quá chậm, quá to hoặc quá nhỏ), biết thể hiện đúng ngữ điệu, có tác
phong văn hóa trong quá trình giao tiếp. Lứa tuổi mẫu giáo là giai đoạn hình thành
những thói quen và khả năng này.
Trang 14
GVHD: Phạm Thanh Thủy
- Biện pháp cung cấp vốn từ cho trẻ được thực hiện trong tiết làm quen với đối
tượng mới, cần cung cấp vốn từ cho trẻ và giúp trẻ sử dụng tốt vốn từ.

người xung quanh có thể hiểu nguyện vọng ý kiến của mình.
+ Thông qua trò chơi, các biểu tượng mà trẻ đã thu nhận trước đây được củng
cố và chính xác hóa. Qua trò chơi đóng kịch trẻ được tiếp xúc với ngôn ngữ văn học
khi chơi trẻ được đặt vào các tình huống kịch, được diễn đặt lời nói theo đặc điểm tính
cách của các nhân vật trong kịch. Vì thế ngôn ngữ trẻ trở nên mạch lạc hơn, trẻ tập làm
chủ ngôn ngữ đã nắm được.
- Nghe những người xung quanh nói đúng, trẻ nắm được ngữ pháp của câu, biết
được kiểu câu của tiếng nói. Vì vậy:
+ Giáo viên sử dụng đúng một số kiểu câu, sửa chữa một số câu sai.
+ Cho trẻ làm quen với các kiểu câu mới khó hơn.
+ Hình thành cho trẻ thói quen nói đúng ngữ pháp.
- Để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc qua bộ môn làm quen văn học được
tiến hành:
+ Dạy trẻ kể lại truyện: Trẻ tái hiện lại một cách mạch lạc, diễn cảm tác phẩm
văn học mà trẻ đã được nghe. Trẻ sử dụng nội dung, hình thức ngôn ngữ đã có sẵn của
các tác giả và của giáo viên. Tuy nghiên yêu cầu trẻ không học thuộc lòng câu chuyện.
Trẻ phải kể bằng ngôn ngữ của chính mình, truyền đạt nội dung câu chuyện một cách
tự do thoải mái nhưng phải đảm bảo nội dung cốt truyện.
+ Chơi đóng vai theo chủ đề: Khi chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ phải tham gia
vào cuộc nói chuyện với bạn để phân vai, trao đổi với nhau trong khi chơi, trẻ bắt
chước các nhân vật mà trẻ đóng vai, làm cho ngôn ngữ đối thoại của trẻ thêm phong
phú và đa dạng.
+ Chơi đóng kịch: Tổ chức cho trẻ chơi đóng kịch là một phương pháp tốt để
phát triển ngôn ngữ đối thoại cho trẻ. Nội dung kịch được chuyển thể từ tác phẩm văn
học mà trẻ đã được làm quen. Trẻ làm quen với các mẫu câu văn học đã được gọt giũa
chọn lọc. Khi đóng trẻ cố gắng thể hiện đúng ngữ điệu, tính cách nhân vật mà trẻ đóng,
giúp cho ngôn ngữ của trẻ mang sắc thái biểu cảm rõ rệt.
- Ngoài ra ta có thể phát triển ngôn ngữ cho trẻ bằng cách:
Trang 16
GVHD: Phạm Thanh Thủy

Trang 17
GVHD: Phạm Thanh Thủy
gian trong ngày thì chúng sẽ rất biết ơn bạn. Thường thì phần lớn vốn từ của trẻ tới từ
những lời lặp đi lặp lại hay những cụm từ trong bài hát. Khi trẻ nghe thấy một bài hát,
thì bài hát đó sẽ nổi bật lên so với các hiện tượng ngôn ngữ khác và gây nên những ấn
tượng nhất định trong trẻ. Nếu trẻ đã nghe một bài hát từ trước, chúng sẽ học cách hát
lại.
+ Lặp đi lặp lại: Trẻ học qua thực hành. Điều đó có nghĩa là phải làm đi làm
lại. Hãy tạo thật nhiều cơ hội để trẻ phải nói đi nói lại cái đó nhiều lần. Đó có thể là
những bài hát, những quyển sách hay những lời chỉ dẫn. Nếu như bạn làm theo một
quy tắc thì mọi thứ sẽ trở nên quen thuộc với trẻ và khi trẻ đã quen, chúng sẽ hiểu và
cố gắng làm giống như thế.
+ Tiếp xúc với những trẻ khác: Nhu cầu được giao tiếp với các bạn của một
đứa trẻ là vô cùng lớn. Khi mà trẻ học cách chia sẻ (hay đòi hỏi) trẻ cần phát triển khả
năng truyền đạt nhu cầu đó một cách nhanh chóng và nếu như dành đủ thời gian chơi
đùa với bạn bè, trẻ sẽ sớm học được cách truyền tải suy nghĩ, cảm giác thành lời. Điều
đó không có nghĩa là bạn phải bỏ mặc con bạn một mình để bé chơi với những trẻ
khác. Hãy cùng bé đến các sân chơi hay công viên và khuyến khích bé giao tiếp với
những bạn khác.
+ Một vài trò chơi đơn giản giúp trẻ học nói: Các trò chơi ghép nối - các trò
chơi này dạy cho trẻ cách miêu tả những thứ chúng đang tìm kiếm. Các bài hát - khi trẻ
hát đi hát lại các bài hát, đó là lúc chúng tập nói. Đọc - việc đọc giúp trẻ nhận biết từ và
ngữ pháp. Nấu ăn - hãy tạo ra một công thức nấu ăn đơn giản và yêu cầu trẻ làm theo
từng bước trong khi nấu ăn. Trẻ sẽ phải đọc to các bước đó và nhận biết mối liên hệ
giữa hình ảnh với thực tế. Điều đó sẽ cho trẻ thấy ngôn ngữ cũng có những trật tự nhất
định. Miêu tả - Cùng trẻ chơi trò bịt mắt và miêu tả các đồ vật. Ngay cả những trẻ rất
nhỏ cũng sẽ có khả năng dùng những từ như dính, nóng, lạnh hay mượt. Trò chơi này
giúp trẻ nghĩ về những việc mình đang làm và miêu tả chúng bằng lời.
* Biện pháp khắc phục các lỗi ngôn ngữ ở trẻ:
- Nói ngọng, đớt:

này. Chính vì thế, âm đệm thường bị bỏ qua. Ví dụ: Trẻ phát âm “khuếch khoác” thành
“khất khác”, “loắt choắc” thành “lắt chắt”, “chiếc thuyền” thành “chiếc thiền”. Nên cần
khắc phục:
Trang 19
GVHD: Phạm Thanh Thủy
+ Giáo viên cần phát âm to, rõ, chậm và đọc lại nhiều lần để cho trẻ nhìn
miệng của cô và bắt chước đọc cho đúng.
+ Thường xuyên đưa tranh hoặc vật thật có từ khóa âm đệm và phát âm cho
trẻ nghe nhưng phải phù hợp với chủ điểm, hoàn cảnh .
+ Âm đệm tạo nên sự đối lập tròn môi, không tròn môi, nên khi phát âm có
chữ cái “u” thì không tròn môi, còn “o” thì phải tròn môi.
- Lỗi về âm chính: Tập trung vào các nguyên âm đôi /ie/, /ui/, /uo/, /iê/, /ươ/,
/uô/ trẻ chuyển các âm đôi thành nguyên âm đơn khi phát âm. Trẻ phát âm sai những
âm chính này chủ yếu là do tập quán của địa phương hoặc nghe chưa chính xác, các âm
tiết có âm chính là nguyên âm đôi làm cho cấu tạo âm tiết phức tạp hơn, phát âm khó
khăn hơn. Biện pháp:
+ Phải thường xuyên phát âm.
+ Giải thích cho trẻ hiểu là âm chính trong từ, là đỉnh của âm tiết, không thể
thiếu.
+ Nói chuyện trực tiếp với trẻ, có thể đặt câu hỏi để trẻ trả lời.
- Lỗi về âm cuối: Trẻ ở miền Nam phát âm sai các phụ âm cuối “n” thành “ng”,
“t” thành “ch”, “nh” thành “n”, “ch” thành “c”. Biện pháp:
+ Có thể đưa tranh tàu thủy và cho trẻ nói, phát âm chưa đúng thì có thể phát
âm cho trẻ nghe nhiều lần.
+ Đưa các từ có phụ âm cuối cho trẻ đọc.
Tóm lại: Phát hiện và sửa chữa các lỗi về dùng từ không phải là việc làm chỉ có quan
hệ đến ngôn ngữ, đến lời nói, câu văn mà chính là liên quan mật thiết đến lĩnh vực
nhận thức, tư duy. Do đó muốn khắc phục được lỗi về dùng từ hoặc muốn phát hiện và
sửa chữa chính xác các lỗi đó, cần không ngừng nâng cao trình độ nhận thức năng lực
tư duy đồng thời với việc tích lũy, bồi dưỡng vốn từ và nâng cao trình độ sử dụng từ

việc của chúng thật quan trọng. Nếu Đèn Xanh bật sáng, nghĩa là đường đang trống xe
hơi và mọi người có thể băng qua được! Còn khi Đèn Vàng bật lên là lúc nó muốn lịch
sự nhắc chúng ta rằng: “Đi cẩn thận nhé! Sắp phải dừng lại đấy!”. Sau Đèn Vàng là
Đèn Đỏ. Đèn Đỏ sáng lên và nói: “Xin mời dừng lại! Đến lượt xe khác đi!”. Trật tự
Trang 21
GVHD: Phạm Thanh Thủy
trên là nghiêm ngặt. Không Đèn nào được quên thứ tự bật sáng của mình. Nhưng bất
ngờ, một hôm Đèn Xanh cãi nhau với Đèn Đỏ. Đèn Xanh nói:
- Tại sao xe hơi đang chạy lại phải dừng lại? Xe nào cũng vội vã như
nhau vì có biết bao nhiêu người đang đợi chúng ở các bến xe. Này Đèn Vàng và Đèn
Đỏ ơi, tôi không nhường cho các anh đâu. Tôi cứ bật sáng mãi để các xe được chạy
liên tục đấy!
Đèn Đỏ bèn cãi lại: Tôi nghĩ khác, các xe vội vã chạy nhanh nên rất mệt.
Vì thế, tôi cần chiếu sáng để chúng dừng lại nghĩ thật lâu!
Nghe hai bạn cãi nhau, Đèn Vàng ân cần hòa giải: Đèn Xanh và Đèn Đỏ
ơi, ai có việc của người nấy. Cãi nhau mà làm gì?
Mặc dù Đèn Vàng đã van nài nhưng Đèn Đỏ và Đèn Xanh vẫn cứ cãi
nhau mãi… và thậm chí đánh nhau nữa chứ! Kết cục là cả hai đều bị thương tích đầy
mình nên chẳng còn bật sáng lên được nữa. Thế rồi, các loại xe và người qua lại ỡ ngã
tư đường không còn biết phải đi như thế nào nên cứ ùn lại, ùn lại… Chẳng mấy chốc,
đường xá đông nghịt những xe và người… Thế là tắt đường mất rồi!
Bỗng một ông tiên mặc trang phục như chú cảnh sát giao thông xuất
hiện. Ông tiên đến ngôi nhà của ba ngọn Đèn và khám sức khỏe cho chúng. Sau đó,
ông tiên ngồi trò chuyện vui vẻ rất lâu với cả ba ngọn Đèn rồi ân cần khuyên chúng:
- Này các cậu bé, đừng bao giờ cãi nhau nữa nhé!
Từ đó trở đi, trong ngôi nhà nhỏ tại ngã tư đường phố, ba ngọn Đèn
Xanh, Vàng, Đỏ luôn sống chan hòa và đoàn kết với nhau. Các con nghĩ xem, ông tiên
đã nói chuyện gì với ba ngọn Đèn thế nhỉ?
+ Cung cấp từ và giúp trẻ hiểu được nghĩa của một số từ:
Ngã tư: Nơi giao nhau của 4 đường.

+ Trẻ được tiếp xúc với các tác phẩm, hiểu nội dung, nắm được tình tiết của câu
truyện. Qua giọng đọc và kể của cô, trẻ có thể nhận biết cách sử dụng ngữ điệu giọng
để bộc lộ được đặc điểm, tính cách nhân vật, học được cách sử dụng ngôn ngữ nghệ
thuật.
+ Trẻ mẫu giáo nhớ cần phải thông thạo những hình thức chủ yếu của lời đọc
thoại: Kể lại chuyện và kể chuyện. Giữa hai hình thức này có những điểm chung và
những điểm riêng.
Trang 23
GVHD: Phạm Thanh Thủy
+ Được tổ chức cho trẻ trong giờ học, cô kể cho trẻ nghe 2 lần, mỗi lần kể có
kết hợp với tranh và mô hình. Sau đó cũng chia trẻ ra thành 2 nhóm để xem nhóm nào
có trí nhớ và phát âm có chuẩn, đúng hay không?
Nhóm 1: Kể chuyện sáng tạo, có nội dung câu chuyện rõ ràng, phát âm
chuẩn, kể lưu loát.
Nhóm 2: Kể chậm, còn rụt rè, không nhớ câu chuyện.
* Tổ chức cho trẻ nghe câu chuyện “Ba ngọn Đèn” yêu cầu một trẻ kể lại “Ba
ngọn Đèn”:
- Ở một thành phố nọ, có Đèn Xanh, Đèn Đỏ, Đèn Vàng. Nếu Đèn Xanh sáng thì
xe đi, Đèn Vàng thì đi chậm lại., còn Đèn Đỏ thì dừng lại. Một hôm Đèn Xanh với Đèn
Đỏ cãi nhau, Đèn Xanh nói: Tại sao xe đang chạy lại phải dừng lại? Đèn Đỏ không
chịu và cả hai đánh nhau. Đèn Vàng nói với hai Đèn là đừng cãi nhau nữa. Lúc đó có
một ông tiên xuất hiện và nói với 2 Đèn Xanh và Đèn Đỏ. Từ đó trở đi ba ngọn Đèn
sống vui vẻ bên nhau.
- Xây dựng mẫu câu đàm thoại với về tác phẩm “Ba ngọn Đèn”:
+ Các con ơi: Cô vừa kể cho các con nghe câu chuyện gì?
+ Trong câu chuyện có bao nhiêu nhân vật?
+ Ba ngọn Đèn làm công việc gì? (Đèn Xanh, Đèn Đỏ, Đèn Vàng).
+ Tại sao Đèn Xanh và Đèn Đỏ lại cãi nhau?
+ Đèn Xanh đã nói như thế nào? Ai có thể nhắc lại câu nói của Đèn Xanh?
+ Còn Đèn Đỏ đã nói gì? Ai có thể nhắc lại câu nói của Đèn Đỏ?

1. Lâm Huỳnh Duy Đại.
2. Trần Hải Đăng.
3. Nguyễn Thị Ngọc Nhi.
4. Dương Anh Tuấn.
5. Lê Vinh.
Khả năng
ngôn ngữ
Số lượng trẻ Tỉ lệ %
Ghi
chú
Tốt Khá
Lỗi
nhiều
Tốt Khá
Lỗi
nhiều
1.Phát âm 3 4 3 30% 40% 30%
Trang 25
GVHD: Phạm Thanh Thủy
2.Dùng từ diễn đạt 3 2 5 30% 20% 50%
3.Khả năng hiểu từ 4 6 40% 60%
4.Khả năng ngữ pháp,
diễn đạt mạch lạc
2 2 6 20% 20% 60%
5.Diễn đạt biểu cảm 1 1 8 10% 10% 80%
Nhận xét kết quả chung về khả năng ngôn ngữ của trẻ:
- Qua thực nghiệm 10 trẻ em thấy trẻ nhóm 1 phát âm dùng từ diễn đạt, khả năng
hiểu từ, khả năng ngữ pháp, diễn đạt mạch lạc và diễn đạt biểu cảm tốt hơn, chuẩn hơn
nhóm 2. Tuy nhiên trong nhóm 1 vẫn còn có 2 bạn diễn đạt mạch lạc và biểu cảm chưa
tốt lắm. Còn nhóm 2 thì mắc lỗi và phát âm sai còn nhiều nên cho nhóm 2 phát âm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status