Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh vượng – VPBank – Phòng giao dịch Chương Dương - Pdf 27

1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Tín dụng mà chủ yếu là cho vay là một trong các hoạt động truyền thống và đem
lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng thương mại. Thông qua việc vay vốn từ ngân hàng,
các cá nhân và tổ chức kinh tế sẽ có cơ hội mở rộng sản xuất, kinh doanh, góp phần
vào phát triển chung của nền kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, đây cũng là một lĩnh vực luôn
tiềm ẩn nhiều rủi ro mà khi xảy ra sẽ tác động rất lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn
tại và phát triển không chỉ của một ngân hàng mà cả toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng
như nền kinh tế. Chính vì vậy, rủi ro tín dụng luôn là mối quan tâm hàng đầu của các
ngân hàng và quản trị rủi ro tín dụng luôn giữ vị trí trung tâm trong quản trị rủi ro của
các ngân hàng.
Nhằm thực hiện mục tiêu chung của toàn VPBank - trở thành ngân hàng bán lẻ
hàng đầu Việt Nam, phân khúc khách hàng cá nhân được VPBank Chương Dương đầu
tư và khai thác triệt để. Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân cũng không nằm ngoài
định hướng ấy. Với đặc tính là các khoản vay nhỏ lẻ, số lượng nhiều, tính cách khách
hàng mỗi người một vẻ nên đi đôi với việc hỗ trợ vốn cho dân cư thì khâu nhận dạng,
đánh giá, kiểm tra, giám sát là vô cùng quan trọng. Trong thời gian thực tập tại phòng
giao dịch VPBank Chương Dương, em nhận thấy ban lãnh đạo rất quan tâm tới công
tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân, song vẫn chưa thực sự
hoàn thiện và còn nhiều thiếu sót. Xuất phát từ sự cấp thiết đó em thực hiện đề tài
“Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP
Việt Nam Thịnh vượng – VPBank – Phòng giao dịch Chương Dương”. Đề tài
nghiên cứu này cũng phù hợp với chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng và tầm mức
của một khóa luận tốt nghiệp.
2
2. Mục đích nghiên cứu
• Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng của ngân
hàng thương mại.
• Phân tích tình hình hoạt động kinh doanh, tình hình rủi ro tín dụng và quản trị
rủi ro tín dụng tại VPBank Chương Dương.

TRONG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI
1.1 Các khái niệm có liên quan
1.1.1 Khái quát về rủi ro tín dụng
1.1.1.1 Khái niệm
Theo quyết định 493/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN, tại khoản 1, điều 2 đề cập
khái niệm rủi ro tín dụng:
“Rủi ro tín dụng của ngân hàng, của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong
hoạt động ngân hàng, tổ chức cho vay do khách hàng không thực hiện hoặc không có
khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Theo Giáo trình Quản trị tác nghiệp NHTM, trường Đại học Thương mại thì: RRTD
là khả năng xảy ra biến cố khách hàng không hoàn trả lãi và gốc của khoản tín dụng
cho ngân hàng.
1.1.1.2 Phân loại RRTD
BẢNG 1.1: MỘT SỐ LOẠI RỦI RO TÍN DỤNG
STT Tiêu thức
phân loại
Các loại rủi ro
1 Theo
nguồn gốc
hình thành
rủi ro
1. Rủi ro giao dịch: là rủi ro liên quan đến một khoản tín dụng, do
những hạn chế trong quá trình giao dịch, xét duyệt và đánh giá
khách hàng.
2. Rủi ro danh mục: là rủi ro liên quan đến danh mục các khoản
vay, do những hạn chế trong quản lý danh mục tín dụng của ngân
hàng.
2 Theo tính
chất

sinh trong quá trình đưa ra quyết định cho vay khi thiếu thông tin
hoặc có sự luồn lách, hỗ trợ của cán bộ tín dụng để cung cấp vốn
sai quy định cho khách hàng.
3. Rủi ro trong quản lý, thu hồi nợ: là rủi ro phát sinh do quá trình
giám sát thu hồi nợ, không theo dõi khách hàng thường xuyên để
họ sử dụng vốn vay không đúng mục đích hay không hiệu quả.
5 Theo mức
độ tổn thất
1. Rủi ro đọng vốn (rủi ro do không hoàn trả nợ đúng hạn): hay
còn gọi là rủi ro quá hạn, rủi ro bất động hóa. Rủi ro đọng vốn là
rủi ro mà khi đến thời hạn trả nợ mà Ngân hàng vẫn chưa thu hồi
được vốn vay đúng hạn như cam kết trong hợp đồng tín dụng.
2. Rủi ro mất vốn (rủi ro do không có khả năng trả nợ): là rủi ro
xảy ra khi người vay đã mất khả năng trả nợ cho Ngân hàng. Điều
này cho thấy vốn của các TCTD đã cấp ra nhưng không có khả
năng thu hồi về, trường hợp này làm cho các TCTD bị mất vốn.
Ngoài ra, còn có thể phân loại theo mục đích vay, xuất xứ tín dụng, mức độ tín
nhiệm với khách hàng… Như vậy, việc phân loại RRTD rất đa dạng, tuỳ thuộc vào
mục đích nghiên cứu, phân tích. Việc làm này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong
việc thiết lập chính sách, qui trình, thủ tục và cả mô hình tổ chức quản trị và điều hành
nhằm bảo đảm nhận biết đầy đủ các yếu tố gây ra rủi ro và phân biệt trách nhiệm rõ
6
ràng giữa các bộ phận, giữa các khâu trong toàn bộ quá trình thẩm định, cấp cho vay,
giám sát thu hồi nợ và xử lý khoản nợ nếu nó có dấu hiệu bất thường.
1.1.1.3 Hậu quả của RRTD đối với NHTM, đối với khách hàng nền kinh tế
 Đối với NHTM: RRTD có tác động rất lớn tới tình hình hoạt động và kinh
doanh của ngân hàng
- Khi RRTD xảy ra ngân hàng sẽ không thu hồi được vốn vay nhưng vẫn phải
thực hiện nghĩa vụ trả lãi và gốc cho khoản tiền huy động khi đến hạn. Điều này
làm mất cân đối trong việc thu chi của ngân hàng, khiến ngân hàng dễ rơi vào

ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới.
Tóm lại, hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại là một trong những hoạt
động vô cùng quan trọng không chỉ với bản thân ngân hàng thương mại mà còn với
toàn bộ nền kinh tế. Do vậy, khi RRTD xảy ra, nó sẽ gây nên hậu quả vô cùng to lớn
với nhiều chủ thể trong nền kinh tế.
1.1.2 Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Khái niệm và vai trò của quản trị RRTD
Theo tài liệu Hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ tín dụng của Trung tâm đào tạo
Ngân hàng VPBank thì “Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình nhận dạng, phân tích nhân
tố rủi ro, đo lường, đánh giá mức độ rủi ro, trên cơ sở đó lựa chọn, triển khai các biện
pháp phòng ngừa và quản lý các hoạt động tín dụng nhằm hạn chế và loại trừ rủi ro
trong quá trình cấp tín dụng.”
Quản trị rủi ro tín dụng là một trong những nội dung quản trị rủi ro của NHTM
bao gồm: những đánh giá mức độ rủi ro, thực thi những giải pháp quản trị hạn chế khả
năng xảy ra rủi ro. Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng gắn chặt với hoạt
động cấp tín dụng. Đứng trên góc độ của quản trị học, quản trị rủi ro tín dụng thực chất
là quá trình các ngân hàng tiến hành hoạch định, tổ chức triển khai thực hiện và giám
sát kiểm tra toàn bộ hoạt động cấp tín dụng, nhằm tối đa hoá lợi nhuận của ngân hàng
8
với mức rủi ro có thể chấp nhận. Do vậy, để thiết lập một hệ thống kiểm soát và quản
trị rủi ro tín dụng hiệu quả, ngân hàng phải tổ chức giám sát các hoạt động kinh doanh
theo đúng quy định, đưa ra các biện pháp tổ chức để hạn chế rủi ro, đặt ra các hạn mức
và giám sát rủi ro theo các bước cụ thể như: nhận biết những rủi ro trong hoạt động cho
vay mà ngân hàng thương mại phải đối mặt; đo lường rủi ro, phân tích (phân tích danh
mục tài sản, phân tích khả năng chịu đựng cực điểm, phân tích đặc thù của danh mục
tài sản), đánh giá rủi ro; kiểm soát nhằm hạn chế rủi ro, đề xuất hạn mức, giám sát việc
tuân thủ hạn mức rủi ro.
 Trong bối cảnh kinh tế hội nhập và khủng hoảng những năm gần đây, rủi ro
trong hoạt động ngân hàng nói chung và RRTD nói riêng đều tăng cao. Do vậy,
quản trị RRTD mang ý nghĩa, vai trò vô cùng to lớn với NHTM.

rủi ro, xác định nguyên nhân gây rủi ro trong từng thời kỳ và dự báo được những
nguyên nhân tiềm ẩn có thể gây nên rủi ro trong hoạt động tín dụng.
Ph ương pháp: Thu thập, lưu trữ và phân tích thông tin có ý nghĩa cho hoạt động
tín dụng của ngân hàng để phân tích hồ sơ tín dụng (quan tâm đặc biệt đến các hồ sơ có
vấn đề, phương pháp nhận biết các dấu hiệu khoản cấp tín dụng có vấn đề). Các nhà
quản trị phải lập được các bảng liệt kê các loại rủi ro đã, đang và sẽ có thể xuất hiện.
 Đo lường và đánh giá RRTD
Đo lường và đánh giá RRTD là việc xây dựng mô hình thích hợp để lượng hóa
rủi ro, đánh giá mức độ rủi ro của khách hàng, từ đó xác định phần bù rủi ro và giới
hạn an toàn cho vay tối đa đối với khách hàng cũng như phục vụ cho công tác trích lập
rủi ro.
10
Đây là hoạt động vô cùng quan trọng cho việc ra quyết định của ngân hàng. Khi
một khách hàng nộp đơn xin hỗ trợ tín dụng, ngân hàng phải tiến hành đo lường, đánh
giá rủi ro tín dụng đối với khách hàng đó, nhằm xác định mức độ rủi ro có thể chấp
nhận được và sự phù hợp giữa lợi nhuận mang lại và rủi ro có thể gặp phải.
Ph ương pháp: Sử dụng các mô hình định tính (Mô hình chất lượng 6C) và định
lượng (Xếp hạng của Moody’s và Standard & Poor’s; Mô hình điểm số Z; Mô hình
phân loại, chấm điểm và xếp hạng tín dụng khách hàng; Mô hình điểm số tín dụng tiêu
dùng; Phương pháp IRB) để đo lường và đánh giá.
 Kiểm soát RRTD
Kiểm soát RRTD là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược và
những quá trình nhằm biến đổi rủi ro của một tổ chức thông qua việc né tránh, ngăn
ngừa, giảm thiểu bằng cách kiểm soát tần suất và mức độ rủi ro, tổn thất hoặc lợi ích.
Ph ương pháp: Căn cứ vào mức độ rủi ro đã được tính toán, các hệ số an toàn tài
chính và khả năng chấp nhận rủi ro mà có những biện pháp khác nhau nhằm làm giảm
mức độ thiệt hại. Các biện pháp bao gồm: ngăn ngừa rủi ro, bán nợ, phân tán rủi ro và
quản trị rủi ro thông qua công cụ phái sinh Đặc biệt là việc kiểm soát RRTD thông
qua chính sách tín dụng và thủ tục cấp tín dụng.
 Tài trợ rủi ro tín dụng

1.2.1 Sự cần thiết của hoạt động quản trị RRTD trong cho vay KHCN tại NHTM
Trong điều kiện môi trường kinh tế cạnh tranh, rủi ro tín dụng là vấn đề mà các
NHTM luôn quan tâm đặc biệt để nâng cao chất lượng hoạt động cho vay, vốn là hoạt
động đem lại nguồn thu nhập chính cho ngân hàng. Với thực tế các NHTM ở Việt Nam
đều hướng tới hình thức ngân hàng bán lẻ thì cho vay KHCN đóng vai trò quan trọng
12
và việc quản trị rủi ro cho vay KHCN cần được chú trọng hơn bao giờ hết. Bởi với xu
hướng hội nhập kinh tế quốc tế và đề cao cạnh tranh ngày càng trở nên phổ biến thì
mức độ rủi ro cũng tăng lên khi mà các ngân hàng phải cạnh tranh gay gắt với nhau
trong thị phần có giới hạn.
Vậy, làm thế nào để các NHTM vừa có được mức tăng trưởng tín dụng cho vay
KHCN cao, ổn định, vừa đảm bảo được chất lượng khoản vay, vừa nâng cao vị thế của
mình? Chính việc thực hiện tốt công tác quản trị RRTD trong cho vay KHCN sẽ giúp
ngân hàng hoạt động kinh doanh hiệu quả, tạo được uy tín trên thị trường tài chính và
tiến dần tới các chuẩn mực tài chính quốc tế. Do đó, hoạt động quản trị RRTD trong
cho vay KHCN là thực sự cần thiết và không thể tách rời trong chiến lược quản trị của
các NHTM.
1.2.2 Khái niệm Quản trị RRTD trong cho vay KHCN
Đầu tiên cần hiểu thế nào là cho vay khách hàng cá nhân, rủi ro trong cho vay khách
hàng cá nhân?
Cho vay KHCN là một hình thức cho vay của ngân hàng hướng đến đối tượng cá
nhân, hộ gia đình; ngân hàng chuyển cho KH một lượng tiền nhất định với thời hạn
hoàn trả được quy định rõ trong hợp đồng. Những khoản cho vay KHCN thường để tài
trợ cho những mục đích như mua nhà đất, xây sửa nhà, mua ô tô, bổ sung vốn kinh
doanh, mua sắm vật dụng gia đình, chi tiêu cho giáo dục, y tế…
Rủi ro trong cho vay khách hàng cá nhân là khả năng khách hàng (cá nhân, hộ gia
đình) được cấp tín dụng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với
ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng; đó là khả năng KH không trả hoặc chỉ trả một
phần gốc, lãi cho ngân hàng.
Vậy, quản trị RRTD trong cho vay KHCN là quá trình ngân hàng tiến hành hoạch

Để thực hiện tốt công tác kiểm soát RRTD, ngân hàng phải thực hiện tốt các nguyên
tắc do Ủy ban Basel đề xuất. Mỗi ngân hàng thực hiện phân loại khách hàng thành các
loại khác nhau căn cứ vào tiềm lực tài chính, mức thu nhập, khả năng trả nợ gốc và lãi.
14
KH được xếp thành 5 nhóm gồm 10 loại. Mỗi loại KH có mức độ RRTD khác nhau.
Căn cứ kết quả chấm điểm, xếp hạng KH ngân hàng thực hiện phân loại nợ, trích lập
dự phòng rủi ro và đưa ra các chính sách tín dụng thích hợp.
 Tài trợ và xử lý RRTD trong cho vay KHCN
Các biện pháp tài trợ:
- Trích lập quỹ dự phòng rủi ro: quỹ dự phòng rủi ro thường được trích ra từ lợi
nhuận sau thuế để bù đắp những thiệt hại khi có RRTD xảy ra.
- Mua bảo hiểm tín dụng: khoản vay đã được ngân hàng mua bảo hiểm sẽ được
công ty bảo hiểm có nhiệm vụ bồi thường khi RRTD xảy ra. Do đó, ngân hàng
sẽ được bù đắp một cách kịp thời, nhanh chóng để có thể tạo điều kiện cho các
hoạt động khác diễn ra một cách ổn định.
- Biện pháp phân tán RRTD để có thể hạn chế một cách tối đa các tổn thất khi
RRTD xảy ra. Ngân hàng cho vay KH với các mục đích khác nhau, các khu vực
địa lý và thành phần khác nhau, điều đó sẽ giúp ngân hàng tránh được tình trạng
rủi ro xảy ra một cách hàng loạt.
Các biện pháp xử lý:
- Gia hạn nợ hoặc tái cơ cấu lại khoản vay cho KH.
- Miễn giảm lãi nhằm thu hồi toàn bộ nợ gốc.
- Xử lý bằng cách trích từ quỹ dự phòng rủi ro
- Phát mại tài sản đảm bảo
- Bán nợ cho Công ty quản lý tài sản - VAMC hoặc các tổ chức khác
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản trị RRTD trong cho vay KHCN
tại NHTM
NHÂN TỐ CHỦ QUAN
1. Quy mô, tiềm lực tài chính
2. Quy mô, trình độ nguồn nhân lực của ngân

tình, bạo động, sự thay đổi Chính phủ sẽ khiến đời sống người dân bị xáo trộn, với
những hộ kinh doanh không thích nghi được với thay đổi phải thu hẹp hoặc sản xuất,
kinh doanh kém hiệu quả, dẫn đến tăng khả năng xảy ra rủi ro cho vay. Như vậy ngân
hàng vừa phải xử lý những các khoản vay có vấn đề vừa phải điều chỉnh các chính
sách cho phù hợp với tình hình không ổn định, khó mà cho ra một chiến lược quản trị
rủi ro cho vay nói chung và cho vay KHCN nói riêng hiệu quả.
Công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân tại NHTM
16
Môi trường pháp lý không đồng bộ cũng góp phần tác động đến công tác quản trị
rủi ro cho vay KHCN. Môi trường pháp lý không chặt chẽ, nhiều khe hở và bất cập sẽ
tạo cơ hội cho các cá nhân manh nha làm ăn bất chính, lừa đảo lẫn nhau và lừa đảo
ngân hàng khiến rủi ro tín dụng tăng. Ngoài ra, môi trường pháp lý không chặt chẽ,
không ổn định cũng khiến các khách hàng trung thực e dè, không dám mạnh dạn đầu tư
phát triển sản xuất kinh doanh. Cùng với các yếu tố liên quan đến môi trường khác,
môi trường pháp lý tạo nên môi trường cho vay của các NHTM. Vì vậy, ngân hàng
phải có những biện pháp quản trị RRTD sao cho thật chặt chẽ, không có kẽ hở tránh
tình trạng luồn lách quy định để tiếp cận món vay sai trái.
• Môi trường văn hóa – xã hội
Tác động tới mọi người trong xã hội, từ người đi vay tới người cho vay. Nhân tố
này có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực tới hoạt động quản trị RRTD cho vay
KHCN. Nếu một môi trường có thái độ tích cực trong quan hệ với ngân hàng thì rủi ro
sẽ giảm xuống.
• Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên có tác động đến mọi mặt trong đời sống. Đặc biệt khi môi
trường tự nhiên xấu (động đất, bão lụt, hạn hán…) sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động sản
xuất, kinh doanh của những hoạt động phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên như:
nông nghiệp, ngư nghiệp…, qua đó trực tiếp làm tăng nguy cơ không trả được nợ cho
ngân hàng. Khi đó, đòi hỏi ngân hàng cần có chính sách quản trị RRTD ưu tiên hơn, hỗ
trợ thêm cho những khách hàng gặp khó khăn như thế, đảm bảo họ khắc phục được
hậu quả để hoàn thành nghĩa vụ với ngân hàng.

1.3.2 Nhóm nhân tố chủ quan
18
• Quy mô, tiềm lực tài chính
Một ngân hàng với quy mô lớn, tiềm lực tài chính tốt sẽ có ưu thế trong việc thực
thi các biện pháp tài trợ RRTD và xử lý hậu quả RRTD gây ra. Ngoài ra, với tiềm lực
về tài chính, ngân hàng hoàn toàn có khả năng thường xuyên đầu tư vào giáo dục đào
tạo nguồn nhân lực, nâng cấp hệ thống thông tin và công nghệ giúp kiểm soát rủi ro tốt
hơn.
• Quy mô, trình độ nguồn nhân lực của ngân hàng
Không riêng gì ngân hàng, nhân lực là tài nguyên quý giá nhất của mọi tổ chức. Đặc
biệt trong lĩnh vực tín dụng, nguồn nhân lực chất lượng cao, dày dặn kinh nghiệm sẽ
giúp đảm bảo thực thi các chiến lược quản trị RRTD hiệu quả, hoạt động tín dụng sẽ
diễn ra an toàn, ít rủi ro hơn.
• Mức độ ứng dụng khoa học công nghệ tại ngân hàng
Công nghệ có vai trò quan trọng trong lĩnh vực ngân hàng. Khi ngân hàng có hệ
thống công nghệ tốt sẽ giúp công việc được thực hiện dễ dàng và chính xác hơn, lược
bỏ bớt khối lượng công việc cho cán bộ tín dụng, tránh được các sai sót không đáng có.
• Thương hiệu, các lợi thế kinh doanh của ngân hàng
Một ngân hàng có thương hiệu và lợi thế cạnh tranh tốt sẽ giúp việc cho vay dễ dàng
hơn. Ngân hàng không phải mạo hiểm hạ mức điều kiện cho vay của khách hàng để
cạnh tranh. Điều này giúp RRTD bị hạn chế.
19
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RRTD TRONG CHO
VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG VPBANK- PHÒNG GIAO
DỊCH CHƯƠNG DƯƠNG TỪ NĂM 2012 ĐẾN NĂM 2014
2.1 Giới thiệu khái quát về Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh vượng – Phòng
giao dịch Chương Dương
Tên đầy đủ: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng – VPBank – Phòng giao dịch
Chương Dương
Tên viết tắt: VPB CD hoặc CDG

- Thực hiện các hoạt động huy động vốn ngắn hạn, trung và dài hạn dưới hình
thức tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi.
- Thực hiện các hoạt động cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn.
- Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng.
- Hoạt động bảo lãnh, bao thanh toán.
- Chuyển tiền trong nước, chuyển tiền kiều hối.
- Phát hành các loại thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ thanh toán.
- Dịch vụ quản lý dòng tiền, ngân hàng điện tử.
• Nhiệm vụ
- Cung cấp đầy đủ các sản phẩm và dịch vụ tài chính hoàn hảo theo chuẩn mực
quốc tế, đáp ứng tốt nhất nhu cầu đa dạng của khách hàng.
- Tổ chức công tác hạch toán kế toán và an toàn kho quỹ theo quy định của
Ngân hàng Nhà nước và quy định nghiệp vụ, quy chế của VPBank.
21
Cơ cấu tổ chức
22
23
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức phòng giao dịch VPBank Chương Dương
Trong đó:
- PB là chuyên viên quan hệ khách hàng, có 4 người.
- PSE Casa là cộng tác viên chuyên huy động và mở tài khoản thanh toán,
có 4 người – đội huy động.
- PSE Loan là cộng tác viên chuyên cho vay, có 11 người – đội bán.
- RM : chuyên viên quan hệ với khách hàng ưu tiên, có 1 người.
- CSR: hỗ trợ giao dịch viên và cán bộ tín dụng, có 3 người.
- GDV là giao dịch viên, tiếp nhận và thực hiện các yêu cầu giao dịch của
khách hàng, tìm hiểu nhu cầu và tư vấn; có 3 người.
- Thủ quỹ: quản lý tiền, kho quỹ; 1 người.
- Greeter: tìm hiểu nhu cầu, phân luồng khách hàng; 1 người.
2.1.1 Tình hình tài sản – nguồn vốn

2012-2014 song nhìn chung chỉ tiêu này giảm nhẹ 11.477 triệu đồng. Vốn
chủ sở hữu ở PGD có thể nói là quá ít, không những thế còn giảm dần qua
các năm cho thấy hoạt động kinh doanh của ngân hàng không mấy hiệu quả.
2.1.2 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh
25
BẢNG 2.2 TÌNH HÌNH KẾT QUẢ KINH DOANH GIAI ĐOẠN 2012-2014
Đơn vị: triệu đồng
STT
1 Thu nhập lãi thuần
2 Lãi thuần từ hoạt động dịch vụ
3 Lãi thuần từ hoạt động khác
4 Chi phí hoạt động
5 Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng
6 Tổng lợi nhuận trước thuế
7 Lợi nhuận sau thuế
(Nguồn: Báo cáo tài chính của VPB Chương Dương)
Qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh ta thấy, trong giai đoạn 2012 - 2014 ngân
hàng kinh doanh đều có lãi, tuy nhiên không duy trì được giá trị mà lại giảm đi khá
nhiều qua từng năm. Thu nhập lãi thuần, thu từ hoạt động dịch vụ và thu nhập khác đều
giảm rõ rệt.
Tính đến năm 2014, VPB Chương Dương đã huy động được 287.434 triệu đồng,
giảm 3,84% so với cùng kỳ năm trước, trong khi giải ngân đạt 164.093 triệu đồng, tăng
163,1% nhưng thu nhập lãi thuần lại suy giảm 2.138 triệu đồng. Chứng tỏ các khoản
vay của PGD đang gặp vấn đề, không đem lại thu nhập như mong đợi.
Nguồn thu từ hoạt động dịch vụ chỉ chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn, không những thế
ngày càng giảm sút. Có thể dịch vụ mà VPB CD cung cấp chưa làm thỏa mãn nhu cầu
khách hàng. Thời gian tới ngân hàng cần chú trọng hơn tới công tác này để bổ sung
thêm nhiều nguồn thu như đẩy mạnh phát hành thẻ mastercard, tài khoản trả lương…
Với kết quả như trên, VPB CD đã có một giai đoạn kinh doanh đầy khó khăn với lợi
nhuận sau dự phòng rủi ro tính đến năm 2014 là 2.629 triệu đồng, giảm những 2.338


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status