i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp này hoàn toàn do tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Đỗ Quyên. Các số liệu, kết quả nêu trong
Luận văn là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước
đây. Những đánh giá, kết quả, số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá
được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong mục tài liệu
tham khảo và trích dẫn nguồn gốc.
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của riêng mình!
Hà nội, ngày… tháng…..năm 2017
Học Viên
Nguyễn Thị Quyên
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Quý Thầy Cô trong Khoa Tài chính
- Ngân hàng, Khoa Sau đại học trường Đại học Ngoại Thương đã giúp tôi trang bị
ii
kiến thức, tạo môi trường thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập và thực hiện
luận văn thạc sĩ.
Xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Đỗ Quyên đã
khuyến khích, chỉ dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu này.
Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam,
các anh chị đồng nghiệp đã tạo điều kiện, hợp tác chia sẻ thông tin, cung cấp cho tôi
nhiều nguồn tư liệu, tài liệu hữu ích.
Xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình và những người bạn đã động viên và hỗ
trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thành luận văn.
MỤC LỤC
: Kiểm soát tín dụng
KPI
: Chỉ số đánh giá mức độ thực hiện công việc
LOS
: Hệ thống luân chuyển và phê duyệt hồ sơ tín dụng
NHNN
: Ngân hàng nhà nước Việt Nam
NHTM
: Ngân hàng thương mại
NHTMCP
: Ngân hàng thương mại cổ phần
NPL
: Nợ xấu (Non-Performing Loans)
QTRR
: Quản trị rủi ro
QTRRTD
: Quản trị rủi ro tín dụng
RRTD
: Rủi ro tín dụng
SLA
: Cam kết chất lượng dịch vụ (Service level agreement)
T24
: Phần mềm chuyên dụng về quản lý hoạt động ngân hàng
TCTD
: Tổ chức tín dụng
Techcombank : Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam
TSĐB
: Tài sản đảm bảo
VAMC
: Công ty Quản lý tài sản của các Tổ chức Tín dụng Việt Nam
v
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn đã đạt được một số kết quả sau:
Thông qua việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản trị rủi ro tín dụng tại
Ngân hàng Techcombank, luận văn đã tổng hợp lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng và
quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại các NHTM
nói chung, tại Ngân hàng Techcombank nói riêng.
Từ cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng được nêu tại Chương I, Chương II
luận văn tập trung phân tích thực trạng rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay
khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Techcombank qua các năm 2014-2016. Luận
văn đi sâu vào phân tích quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân và
các quy định, quy trình quản trị rủi ro tín dụng cá nhân mới nhất hiện đang áp dụng tại
Techcombank như quy định về khẩu vị rủi ro tín dụng cá nhân, hệ thống xếp hạng tín
dụng cá nhân, hệ thống phê duyệt tín dụng tập trung. Từ đó tổng hợp và đánh giá
những thành tích cũng như những tồn tại trong công tác phòng ngừa và hạn chế rủi
ro tín dụng tại Techcombank, phân tích nguyên nhân của những tồn tại này.
Chương III của luận văn tập trung đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường công
tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng
Techcombank giai đoạn 2017 - 2020 cùng một số kiến nghị với Chính Phủ, Ngân
hàng Nhà nước và Ngân hàng Techcombank nhằm tăng cường hiệu quả công tác
phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng, đặc biệt là rủi ro tín dụng cá nhân.
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng với nền kinh tế thế giới đã tạo điều kiện
thuận lợi cho hoạt động tài chính của nước ta. Thị trường ngân hàng Việt Nam cũng
đã có nhiều khởi sắc, đánh dấu bước phát triển mới cả về chất lẫn lượng. Tuy nhiên,
cáo nội bộ Techcombank năm 2016). Do vậy, rủi ro tín dụng trong cho vay khách
hàng cá nhân luôn tiềm ẩn và có thể xảy ra bất kỳ lúc nào, hậu quả là Techcombank
phải gia tăng chi phí, chậm thu lãi, thậm chí là thất thoát vốn vay, ảnh hưởng đến
kết quả hoạt động kinh doanh chung của toàn ngân hàng. Chính vì vậy, yêu cầu cấp
bách đặt ra là rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân phải được quản lý,
kiểm soát một cách khoa học, đảm bảo hoạt động tín dụng trong phạm vi rủi ro chấp
nhận được, giảm thiểu các tổn thất phát sinh từ rủi ro tín dụng, nâng cao chất lượng
tín dụng và khả năng sinh lời.
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, cùng với các kiến thức thu được trong quá trình
học tập, nghiên cứu trong quá trình làm việc tại Trung tâm Quản trị rủi ro tín dụng
cá nhân và tài trợ tiêu dùng – Khối Quản trị rủi ro – Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Kỹ thương Việt Nam, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Quản trị rủi ro tín dụng
trong cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ
thương Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tóm tắt tình hình nghiên cứu
Quản trị rủi ro tín dụng là một trong những bộ phận quan trọng của bất kỳ NHTM
nào, do đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này. Các công trình nghiên cứu
đã phản ánh được cơ sở lý luận chung và nghiên cứu tại từng đơn vị cụ thể, cho thấy
được những khía cạnh của tín dụng, rủi ro tín dụng và công tác quản trị rủi ro tín
dụng nói chung cũng như quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân
nói riêng.
Luận văn thạc sĩ kinh tế: “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Kỹ
thương Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thu Trang – Đại Học Thương mại, năm 2015 đã
tổng hợp được các khái niệm, nội dung tổng quát về quản trị rủi ro tín dụng, thực trạng
công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Techcombank giai đoạn 2013-2015. Tuy nhiên, luận
văn chưa đi sâu vào phân tích quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân
3
và các quy định, quy trình quản trị rủi ro tín dụng cá nhân mới nhất hiện đang áp dụng
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường quản trị rủi ro tín dụng
trong cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá
nhân của ngân hàng thương mại.
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách
hàng cá nhân tại NHTMCP Kỹ thương Việt Nam giai đoạn 2014- 2016.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập dữ liệu
Luận văn sử dụng dữ liệu thứ cấp bao gồm những vấn đề lý luận chung về rủi
ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng; sơ lược quá trình hình thành và
phát triển của Techcombank; cơ cấu tổ chức, đặc điểm hoạt động và kết quả hoạt
động kinh doanh của Techcombank; quy trình cho vay và thực trạng công tác quản
trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân tại Techcombank… Những dữ
liệu này được kế thừa từ các sách, giáo trình, công trình nghiên cứu khác đã được
công bố, được trích từ website của Techcombank và được thu thập từ các báo cáo
nội bộ của Techcombank.
Phương pháp phân tích dữ liệu
- Phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích: từ các số liệu thu thập được,
tác giả thống kê và tổng hợp thành các bảng biểu cụ thể, rõ ràng từ đó phân tích
thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại
Techcombank.
- Phương pháp so sánh: phương pháp này được sử dụng nhằm so sánh các chỉ
tiêu, số liệu liên quan đến hoạt động quản trị rủi ro, hoạt động cho vay trong giai
đoạn 2014-2016 của ngân hàng Techcombank.
- Phương pháp đánh giá: phương pháp này được sử dụng nhằm đánh giá thực
trạng quản trị ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại
Techcombank. Luận văn đã mạnh dạn đưa ra những nhận định về thành công, hạn
trong kinh doanh ngân hàng, trong đó, khách hàng vay vốn là các cá nhân, hộ gia đình
nhằm phục vụ mục đích mua nhà, xây sửa nhà, mua ô tô, mua trang thiết bị gia đình,
thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định dựa
trên nguyên tắc hoàn trả đúng thời hạn. Các phương thức vay vốn đa dạng như: cho
vay theo món, cho vay theo hạn mức, cho vay cầm cố sổ tiết kiệm.... Thời hạn cho vay
linh hoạt tùy vào mục đích vay của khách hàng và kết quả thẩm định của cán bộ tín
dụng.
1.1.2. Đặc điểm hoạt động cho vay KHCN
Hầu hết các khoản cho vay KHCN có quy mô nhỏ nhưng số lượng khoản vay
lớn do đối tượng cho vay là các cá nhân, hộ gia đình có địa bàn sinh sống khá rộng,
số lượng khách hàng lớn khiến cho ngân hàng khó có thể kiểm soát chặt chẽ từng
khoản vay, điều này cũng gây khó khăn trong quá trình thu hồi nợ.
Cho vay KHCN có mức độ rủi ro lớn và được coi là tài sản rủi ro nhất trong
danh mục tài sản của ngân hàng. Xuất phát từ bản thân khách hàng vay vốn cố tình
sử dụng vốn sai mục đích, có thể có sự biến động về tình hình tài chính dẫn đến mất
7
khả năng chi trả hay khách hàng cố tình không chịu trả nợ, hoặc do biến động về
tình trạng sức khỏe, công việc...
Quy mô các khoản vay thường nhỏ dẫn đến chi phí cho vay cao đồng thời rủi
ro của các khoản vay cũng rất cao. Do vậy, đây là hình thức cho vay với mức lãi
suất cao nhất so với các khoản cho vay khác của ngân hàng thương mại (NHTM).
1.1.3. Vai trò của hoạt động cho vay KHCN
1.1.3.1. Đối với khách hàng
Hoạt động cho vay của NHTM có các kỳ hạn khác nhau như ngắn hạn, trung
hạn, dài hạn. Bên cạnh đó, lãi suất cũng được áp dụng linh hoạt theo hình thức cố
định hay thả nổi. Vì thế khách hàng có thể lựa chọn kỳ hạn và lãi suất vay sao cho
phù hợp với mục tiêu kinh doanh của mình. Mặt khác, vay vốn ngân hàng giúp
khách hàng tập trung được vốn kinh doanh đồng bộ, giảm chi phí huy động và chủ
1.2. Rủi ro tín dụng trong cho vay KHCN của NHTM
1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng trong cho vay KHCN
Theo Basel II: “Rủi ro tín dụng đơn giản được định nghĩa là khả năng bên vay
hay đối tác của ngân hàng không thực hiện các nghĩa vụ theo các điều khoản đã
thỏa thuận”.
Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc ngân
hàng Nhà Nước Việt Nam thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn
thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần
hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết” (Điều 3, khoản 1)
Rủi ro là những biến cố không mong đợi, khi xảy ra dẫn đến tổn thất về tài sản
của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một
khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định.
Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp
nhận được là bản chất của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng nói chung và rủi ro
trong hoạt động cho vay nói riêng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn
thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh ngân hàng.
9
Theo dự thảo Thông tư 2016/TT/NHNN ngày 12/08/2016 của Thống đốc ngân
hàng Nhà Nước Việt Nam thì “Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực
hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo
hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”.
Như vậy, rủi ro tín dụng (RRTD) đối với ngân hàng xuất phát từ cả hai phía là
người cho vay (chủ nợ của ngân hàng) và người đi vay (con nợ của ngân hàng).
Trường hợp thứ nhất là người gửi tiền (người cho ngân hàng vay) muốn rút tiền mà
ngân hàng lại không thanh toán được, thực ra bản chất đấy là rủi ro thanh khoản
nhưng nó lại liên quan mật thiết đến trường hợp thứ hai là ngân hàng không thu
được đầy đủ các khoản cho vay bao gồm cả khoản gốc và lãi, hoặc việc thanh toán
do các khoản dự phòng rủi ro tín dụng gia tăng.
Theo nguyên nhân khách quan hay chủ quan
- Rủi ro khách quan: do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, người vay
bị chết, mất tích và các biến cố bất khả kháng khác làm thất thoát tín dụng trong khi
khách hàng và ngân hàng đã thực hiện đúng quy định, quy trình, chính sách tín
dụng cũng như những thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Rủi ro chủ quan: Do nguyên nhân thuộc về chủ quan khách hàng và ngân
hàng vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn hay những lý do chủ quan khác.
Theo giai đoạn phát sinh rủi ro
- Rủi ro trước khi cho vay: Rủi ro xảy ra trong khâu lập hồ sơ và phân tích tín dụng,
nhận biết thông tin khách hàng, đánh giá sơ bộ khoản vay dẫn đến quyết định cho vay
các khách hàng không đủ điều kiện và không đủ khả năng trả nợ trong tương lai.
- Rủi ro trong khi cho vay: Rủi ro xảy ra trong quy trình giải ngân. Các nguyên
nhân gồm: sai sót trong quá trình giải ngân, giải ngân không đúng tiến độ, không
cập nhật thông tin khách hàng thường xuyên, không dự báo được rủi ro tiềm năng.
- Rủi ro sau khi cho vay: Rủi ro xảy ra khi ngân hàng không nắm được tình
hình và mục đích sử dụng vốn vay, khi khách hàng cố tình sử dụng vốn vay không
đúng mục đích ban đầu hoặc thay đổi trong khả năng tài chính, cũng như thiện chí
trả nợ của khách hàng.
11
1.2.3. Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng trong cho vay KHCN
1.2.3.1. Quy mô tín dụng
Quy mô tín dụng không phải là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp rủi ro tín dụng. Tuy
nhiên, nếu quy mô tín dụng tăng trưởng quá nóng, không tương ứng với khả năng
kiểm soát của ngân hàng thì lúc đó, quy mô tín dụng sẽ phản ánh rủi ro tín dụng.
Nếu quy mô tín dụng quá lớn, vượt quá khả năng quản lý của ngân hàng thể hiện
qua sự gia tăng của các chỉ tiêu: dư nợ trên tổng tài sản, dư nợ trên tổng số cán bộ tín
dụng so với mức trung bình của các ngân hàng … thì mức độ rủi ro tăng lên.
nhau, căn cứ vào tính chất rủi ro, ta có các chỉ tiêu phản ánh như sau:
Số dư nợ quá hạn
- Tỷ lệ nợ quá hạn =
x 100% (1.1)
Tổng dư nợ
Tỷ lệ “nợ quá hạn” phản ánh số dư nợ gốc và lãi đã quá hạn mà chưa thu hồi
được. Nợ quá hạn cho biết, cứ trên 100 đồng dư nợ hiện tại có bao nhiêu đồng đã
quá hạn, đây là một tiêu chí cơ bản cho biết chất lượng hoạt động tín dụng của ngân
hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn tỷ lệ nghịch với chất lượng tín dụng của ngân hàng.
Tỷ lệ này chỉ phản ánh những số dư nợ thực sự đã quá hạn, mà không phản
ánh toàn bộ quy mô dư nợ có nguy cơ quá hạn. Do đó, chỉ tiêu “tỷ lệ tổng dư nợ có
nợ quá hạn” có thể khắc phục được nhược điểm này.
Tổng dư nợ có nợ quá hạn
- Tỷ lệ tổng dư nợ có nợ quá hạn =
x 100% (1.2)
Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này bao gồm toàn bộ dư nợ của một khách hàng (kể cả đến hạn và
chưa đến hạn) kể từ khi xuất hiện món nợ quá hạn đầu tiên, nên nó phản ánh chính
xác hơn mức độ rủi ro hay chất lượng tín dụng của ngân hàng.
1.2.3.4. Các chỉ tiêu nợ xấu
Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): “Một khoản cho vay được coi
là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90
ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ
13
thứ hai;
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá
hạn hoặc đã bị quá hạn;
+ Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;
- Công thức tính tỷ lệ nợ xấu:
Nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu =
x 100% (1.3)
Tổng dư nợ
Tỷ lệ “nợ xấu” cho biết, trong 100 đồng tổng dư nợ thì có bao nhiêu đồng là
nợ xấu, vì vậy, tỷ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng tín dụng cũng
như rủi ro tín dụng của ngân hàng. Nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn,
vốn của ngân hàng lúc này không ở mức độ rủi ro thông thường nữa mà có nguy cơ
mất vốn.
1.2.3.5. Trích lập dự phòng và bù đắp rủi ro tín dụng
Dự phòng rủi ro theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 được
khái niệm như sau: “Dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi
phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Dự phòng rủi ro gồm dự phòng cụ thể và dự
phòng chung. Dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn
thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể. Dự phòng chung là số tiền được
trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra nhưng chưa xác định được
khi trích lập dự phòng cụ thể”.
Dự phòng rủi ro đánh giá khả năng bù đắp tổn thất trong hoạt động tín dụng
của ngân hàng khi rủi ro xảy ra. Khi ngân hàng phải sử dụng quỹ dự phòng, điều đó
đồng nghĩa với việc ngân hàng đang gặp phải tình trạng rủi ro mất vốn, do đó, dự
phòng rủi ro là chỉ tiêu phản ánh tình trạng rủi ro mất vốn.
Dự phòng rủi ro trích lập
Tỷ lệ xóa nợ
=
x 100% (1.6)
Tổng dư nợ
Những khoản nợ khó đòi sẽ được xóa theo quy chế đưa ra hạch toán ngoại
bảng và được bù đắp bởi quỹ dự phòng rủi ro tín dụng. Ngân hàng có tỷ lệ xóa nợ
cao thể hiện tỷ lệ mất vốn lớn, chất lượng tín dụng thấp. Nếu tỷ lệ này lớn hơn
thường là 2% thì chất lượng tín dụng của ngân hàng được xem là có vấn đề.
1.2.4. Nguyên nhân và hậu quả của rủi ro tín dụng
1.2.4.1. Nguyên nhân
16
a) Nguyên nhân khách quan
- Môi trường vĩ mô: các yếu tố vĩ mô tác động đến hoạt dộng kinh doanh của
ngân hàng và khách hàng được phân tích theo mô hình PEST. Đây là nguyên nhân
khách quan, nằm ngoài sự kiểm soát của doanh nghiệp và ngành, nhưng có ảnh hưởng
trực tiếp đến khả năng trả nợ của khách hàng. Bao gồm:
+ Môi trường chính trị và pháp luật (Political): sự thay đổi thể chế, luật pháp, bất
ổn chính trị,… có thể đe dọa đến sự tồn tại và phát triển của bất cứ ngành nào. Ngoài
luật pháp trung ương, các doanh nghiệp và cá nhân còn phải tuân theo luật pháp của
khu vực. Đối với các doanh nghiệp và cá nhân hoạt động trên bình diện quốc tế, họ còn
phải hiểu biết luật pháp quốc tế, luật lệ địa phương, sự ổn định của nền chính trị ảnh
hưởng đến hoạt động kinh doanh của họ như thế nào.
+ Môi trường kinh tế (Economics): môi trường kinh tế không những có ý nghĩa
đối với các khách hàng mà còn đối với ngân hàng cho vay. Các yếu tố thuộc môi
trường kinh tế tác động đến khả năng trả nợ của khách hàng gồm: tính chu kỳ của nền
quá hạn.
Năng lực quản lý kinh doanh yếu kém, khả năng tổ chức điều hành sản xuất
không bắt kịp thay đổi của thị trường, dẫn đến hoạt động kinh doanh thua lỗ, mất
khả năng trả nợ ngân hàng.
c) Nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng cho vay
Chính sách tín dụng của ngân hàng không hiệu quả, không phù hợp với nền
kinh tế, quy chế tín dụng không chặt chẽ để khách hàng lợi dụng chiếm đoạt vốn
của ngân hàng.
Cán bộ tín dụng không chấp hành đúng quy trình tín dụng như: không đánh
giá đầy đủ chính xác khách hàng trước khi cho vay, cho vay khống, thiếu tài sản bảo
đảm, cho vay vượt tỷ lệ cho vay trên tài sản, không kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc
sử dụng vốn vay của khách hàng và kiểm soát sau vay, thông đồng với khách hàng
lập hồ sơ giả mạo, nhận quà biếu hay nhận hối lộ của khách hàng.
Do áp lực cạnh tranh nên ngân hàng đã nới lỏng các điều kiện tín dụng để thu
hút khách hàng. Ngoài ra, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ tín dụng yếu
kém cũng dẫn đến việc đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của khách
hàng không chính xác, đánh giá sai khả năng trả nợ của khách hàng.
18
1.2.4.2. Hậu quả của rủi ro tín dụng
a, Đối với nền kinh tế
Rủi ro tín dụng có thể khiến ngân hàng dè dặt trong việc huy động và cung
ứng vốn cho nền kinh tế, làm cho sản xuất bị đình trệ, tăng trưởng kinh tế chậm lại,
giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp gia tăng, chất lượng cuộc sống giảm sút.
Hoạt động kinh doanh ngân hàng mang tính hệ thống, có mối quan hệ chặt chẽ
với nhiều chủ thể trong toàn bộ nền kinh tế, do đó, rủi ro tín dụng có thể gây hậu
quả với toàn bộ hệ thống tài chính quốc gia.
b, Đối với ngân hàng
dụng của danh mục cho vay tổng thể cũng như các khoản cho vay riêng lẻ; xem xét
các mối tương quan giữa rủi ro tín dụng với các loại rủi ro khác. Quản trị rủi ro tín
dụng có hiệu quả giúp đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng và góp phần gia tăng
lợi nhuận từ hoạt động cho vay của ngân hàng nếu quản lý và đánh giá tốt rủi ro.
1.3.1.2. Nguyên tắc
Tháng 7 năm 2004, Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng cho ra đời ấn phẩm
mang tên “Hiệp ước quốc tế về tiêu chuẩn vốn và đo lường rủi ro” hay còn gọi là
Hiệp ước Basel II. Theo đó, ủy ban Basel đã ban hành các nguyên tắc trong quản trị
rủi ro tín dụng, đảm bảo tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động cấp tín dụng. Các
nguyên tắc này tập trung vào các nội dung cơ bản sau đây:
Ủy ban Basel yêu cầu Hội đồng quản trị phải thực hiện phê duyệt và định kỳ
(ít nhất 1 năm/lần) rà soát lại các chiến lược rủi ro tín dụng, các chính sách rủi ro tín
dụng. Chiến lược này cần bao hàm mức độ chấp nhận rủi ro, khả năng ứng phó dự
kiến nếu có xảy ra các loại hình rủi ro tín dụng. Các ngân hàng cần xác định và
quản trị rủi ro tín dụng trong mọi sản phẩm và hoạt động của mình nhằm xây dựng
môi trường tín dụng thích hợp.
Các ngân hàng cần xác định rõ ràng các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh (thị
trường mục tiêu, đối tượng khách hàng, điều khoản, điều kiện cấp tín dụng...). Ngân
hàng cần có quy trình rõ ràng trong phê duyệt tín dụng với sự tham gia của các bộ
phận tiếp thị, bộ phận phân tích tín dụng và bộ phận phê duyệt tín dụng cũng như
trách nhiệm rạch ròi của các bộ phận tham gia, đồng thời cần phát triển đội ngũ
20
nhân viên quản trị rủi ro tín dụng có kinh nghiệm, có kiến thức, nhằm đưa ra các
nhận định thận trọng trong việc đánh giá, phê duyệt và quản trị rủi ro tín dụng.
Ngân hàng cần có hệ thống quản trị các danh mục tín dụng hiệu quả, có hệ
thống giám sát đối với các điều kiện liên quan đến từng khoản tín dụng, bao hàm
việc xác định quy mô thích hợp các khoản dự phòng, xây dựng và sử dụng hệ thống
xếp hạng rủi ro. Ngân hàng cần có hệ thống thông tin và kỹ thuật phân tích giúp ban