LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết luận được đưa ra trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc
rõ ràng.
Tác giả luận văn
Nguyễn Quang Huy
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.
* Những nội dung cụ thể của CSR ii
CSR đối với người lao động ii
CSR đối với thị trường và khách hàng ii
CSR đối với cộng đồng iii
3. Thực trạng hoạt động CSR của Tập đoàn Viettel giai đoạn 2007-2012 iii
- Quảng bá, tuyên truyền CSR đối với người lao động trong Tập đoàn: Làm cho
người lao động hiểu rằng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm nhiều nội
dung rất quan trọng; không chỉ là việc làm từ thiện hay những đóng góp cho xã hội
mà là một yêu cầu của phát triển, là vì lợi ích thiết thực của chính bản thân Tập
đoàn iv
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI CỦA LUẬN VĂN.4
CHƯƠNG 2. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP 7
2.1. Lịch sử hình thành và sự phát triển của CSR 7
2.1.1. Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 7
2.1.2. Các khía cạnh của CSR 10
2.2. Các quan điểm về CSR và một số bộ quy tắc ứng xử 14
2.2.1 Quan điểm của các tổ chức và các nhà kinh tế học 14
2.2.2 Quan điểm của các quốc gia 16
2.2.3 Một sô bộ quy tắc ứng xử điển hình 17
2.3. Những nội dung cụ thể của CSR 23
2.3.1. CSR đối với người lao động 23
2.3.2 CSR đối với khách hàng 25
4.1 Xu thế xã hội 69
4.2 Giải pháp nâng cao trách nhiệm xã hội của Tập đoàn viễn thông quân đội
Viettel 70
4.2.1 Xây dựng một Viettel “Xuất xắc, Khác biệt, Phát triển bền vững” 70
4.2.2. Quảng bá, tuyên truyền CSR đối với người lao động trong Tập đoàn 75
4.2.3 Xây dựng và thực thi một bộ quy tắc ứng xử bài bản và thực tế 77
4.2.4. Rà soát lại việc thực hiện trách nhiệm xã hội của Tập đoàn 82
4.4 Kiến nghị 84
4.4.1 Đối với nhà nước 84
4.4.2. Đối với cơ quan quản lý ngành - Bộ Thông tin và Truyền thông 87
4.4.2. Đối với Cục quản lý cạnh tranh- Bộ Công Thương 88
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 2.1 : Kim tự tháp Carroll về các khía cạnh của CSR 11
Bảng 2.2 : Các yếu tố giữ chân người lao động ở lại công ty. 24
Bảng 2.3 Lý do doanh nghiệp thực hiện CSR - Khía cạnh xã hội. 27
Bảng 2.4 Lý do doanh nghiệp thực hiện CSR - Khía cạnh môi trường. 28
Bảng 3.1 : Doanh thu của Viettel giai đoạn 2000-2012 34
Bảng 3.2 : Quỹ lương của tập đoàn trong giai đoạn 2008-2012 39
Bảng 3.3: Các khoản thu nhập khác trong giai đoạn 2008-2012 40
Bảng 3.4 Phụ cấp tháng đối với lao động luân chuyển công tác trong nước 41
Bảng 3.5 Phụ cấp đi lại của lao động luân chuyển công tác nước ngoài 42
Bảng 3.6: Trích Bảng thống kê chi phí, sửa chữa tài sản cố định 2012 45
Bảng 3.7 : Chi phí mua sắm quần áo bảo hộ lao động năm 2012. 46
Bảng 3.8 : Chi phí Phòng chống cháy nổ năm 2012 47
Bảng 3.9 : Đánh giá của nhân viên Viettel về môi trường làm việc. 48
Bảng 3.10: Thống kê thời gian làm thêm giờ của lao động toàn tập đoàn. 49
Biểu đồ 3.11 : Cơ cấu nhân sự theo bằng cấp tại Viettel. 50
Bảng 3.12 : Các khoản trích theo lương 2012 52
trong những năm qua để qua đó làm rõ tính cấp thiết cần nâng cao trách nhiệm của
tập đoàn đối với xã hội. Đề xuất một số giải pháp nâng cao CSR của Tập đoàn
Viettel; tác giả mong muốn đóng góp một phần nhỏ để nâng cao trách nhiệm xã hội
của Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel, bên cạnh đó làm tiền đề cho các doanh
nghiệp khác.
2.Các vân đề lý luận cơ bản
* Định nghĩa CSR:
“Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là cam kết của doanh nghiệp đóng
góp cho việc phát triển bền vững của xã hội thông qua việc tuân thủ chuẩn mực về
bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương
công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng…theo cách có lợi
cho cả doanh nghiệp cũng như sự phát triển của xã hội”.
*Các khía cạnh của CSR:
+ Khía cạnh kinh tế : là sản xuất hàng hóa và dịch vụ mà xã hội cần và muốn
với một mức giá có thể duy trì doanh nghiệp và thỏa mãn những đối tượng khác
như cổ đông, nhà đầu tư…tạo công ăn việc làm với mức thù lao xứng đáng và môi
trường làm việc thuận lợi cho người lao động.
+ Khía cạnh pháp lý: là doanh nghiệp thực hiện đầy đủ những quy định về
pháp lý chính thức đối với các bên hữu quan. Thông qua trách nhiệm pháp lý, xã
i
hội buộc các thành viên phải thực thi các hành vi được chấp nhận. Các tổ chức
không thể tồn tại lâu dài nếu họ không thực hiện trách nhiệm pháp lý của mình.
+ Khía cạnh đạo đức: là những hành vi và hoạt động mà xã hội mong đợi ở
doanh nghiệp nhưng không được quy định trong hệ thống luật pháp, không được thể
chế hóa thành luật.
+ Khía cạnh bác ái: là những hành vi và hoạt động thể hiện những mong
muốn đóng góp và hiến dâng cho cộng đồng xã hội, liên quan tới những đóng góp
về tài chính và nguồn lực cho cộng đồng và xã hội lớn hơn để nâng cao chất lượng
cuộc sống.
*Những bộ quy tắc ứng xử điển hình:
Đối với cộng đồng nói chung, nhiệm vụ trước hết là bảo vệ môi trường (cũng
chính là bảo vệ sức khỏe của công chúng) và sau đó là làm từ thiện. Môi trường bị ô
nhiễm, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, khí hậu thay đổi… là những vấn đề đang
gây sốt toàn thế giới. Doanh nghiệp bảo vệ môi trường, ngoài việc tuân thủ các quy
định của chính phủ còn không bị hao tổn chi phí khắc phụ hậu quả hay bồi thường
do kiện tụng. Các khoản đầu tư xanh là vấn đề nóng ở nhiều quốc gia phát triển.
3. Thực trạng hoạt động CSR của Tập đoàn Viettel giai đoạn 2007-2012
Có thể nói Viettel là công ty tiên phong, là đại diện tiêu biểu cho hình ảnh
doanh nghiệp kinh doanh nhưng không quên trách nhiệm với cộng đồng.
+ Đối với người lao động: Viettel luôn lấy con người làm trọng tâm trong sự
phát triển. Sự trân trọng của Viettel đối với người lao động thể hiện qua các vấn đề:
- Chế độ tiền lương, thưởng và các khoản phụ cấp;
- Thời gian làm việc, môi trường làm việc;
- Chính sách tuyển dụng, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực;
- Về chính sách BHYT, BHXH, hoạt động đoàn thể và Tổ chức sự kiện;
+ Đối với khách hàng: Steve Job đã biến Apple thành hãng công nghệ lớn
nhất thế giới với chiến lược tạo ra sản phẩm công nghệ hoàn hảo với giá chỉ dành
cho 5% dân chúng giàu có nhất. Còn Viettel chọn cho mình con đường ngược lại,
đó là đưa sản phẩm, dịch vụ công nghệ cao cấp đến 95% người dân còn lại. Viettel
iii
luôn mong muốn phục vụ khách hàng muốn làm được điều đó phải thấu hiểu khách
hàng, phải lắng nghe khách hàng. Và vì vậy, khách hàng được khuyến khích nói
theo cách mà họ mong muốn và bằng tiếng nói của chính mình. “ Hãy nói theo cách
của bạn”. CSR đối với khách hàng được thể hiện qua các nội dung:
- Chất lượng dịch vụ;
- Mật độ phủ sóng;
- Vấn đề cạnh tranh ;
+ Đối với xã hội: Xây dựng cho mình triết lí kinh doanh “Nền tảng cho một
doanh nghiệp phát triển là xã hội”. Viettel đã và đang tái đầu tư lại cho xã hội
thông qua việc gắn kết các hoạt động sản xuất kinh doanh với các hoạt động xã hội,
ngày càng hoàn thiện, phát triển đưa nó lên một tầm cao mới.
5. Những kết quả rút ra từ luận văn:
* Tích cực:
+ Thông qua những công trình đã nghiên cứu về chủ đề Trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp và sự tìm hiểu, nghiên cứu của bản thân, tác giả đã đưa ra những
vấn đề lý luận cơ bản nhất về CSR.
+ Lấy một doanh nghiệp tiêu biểu trong việc thực hiện CSR ở Việt Nam-
Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel, để phân tích, tìm hiểu một cách nghiêm túc.
Từ đó đề xuất một số giải pháp mà tác giả cho là phù hợp với với thực tế công ty để
góp phần cao CSR tại Viettel.
* Hạn chế.
+ Do thời gian không nhiều, cộng với kinh nghiệm bản thân còn non kém
nên tác giả chưa thực sự đi sâu vào vấn đề CSR nói chung và CSR ở Việt Nam nói
riêng.
+ Việc nghiên cứu thực tế còn ít, số lượng mẫu không lớn nên kết quả nghiên
cứu chưa thật sát với thực tế.
v
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (corporate social responsibility- CSR)
lần đầu tiên vào năm 1953, chủ đề này đã gây ra cuộc tranh luận sôi nổi giữa các
trường phái quản trị công ty. Nội dung chính của cuộc tranh luận xoay quanh hai vấn
đề then chốt trong CSR là: bản chất của doanh nghiệp hiện đại, và mối quan hệ ba bên:
doanh nghiệp- xã hội- nhà nước. Các nhà quản trị theo phong cách cổ điển thì cho
rằng các cổ đông hoặc chủ sở hữu là mối quan tâm chính đáng duy nhất của công
ty, còn những nhà kinh tế học hiện đại lại cho rằng: cần phải có trách nhiệm với tất
cả các cá nhân, tổ chức có liên quan như: chính phủ, hiệp hội, nhân viên, khách
hàng, nhà cung cấp…Tuy nhiên, ngày nay tất cả đều đồng ý rằng để có được lợi
nhuận bền vững và lâu dài thì các doanh nghiệp cần phải xây dựng hình ảnh đẹp về
mình bằng cách theo đuổi các mục tiêu xã hội.
xã hội của Viettel là không chỉ là mong muốn của xã hội, của lãnh đạo Tập đoàn mà
Viettel còn cần phải là tấm gương để các doanh nghiệp khác ở Việt Nam noi theo.
Xuất phát từ những lý do nêu trên tác giả đã chọn đề tài: “Nâng cao trách
nhiệm xã hội tại Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel” làm đề tài nghiên cứu cho
luận văn thạc sĩ của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về CSR làm cơ sở nghiên cứu vấn đề
CSR của Viettel.
- Đánh giá việc thực hiện CSR của Viettel trong những năm qua để qua đó
làm rõ tính cấp thiết cần nâng cao trách nhiệm của tập đoàn đối với xã hội.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao CSR của Tập đoàn Viettel.
2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Trách nhiệm xã hội và vấn đề nâng cao trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Tại Tập đoàn Viễn thông quân đội Viettel.
+ Về thời gian: thực hiện nghiên cứu, phân tích, đánh giá việc thực hiện trách
nhiệm xã hội của Viettel trong giai đoạn 2007 - 2012 và đề ra giải pháp cho giai
đoạn 2013 - 2018.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn dữ liệu
Trong quá trình thu thập dữ liệu và phân tích, bản thân người viết thu thập số
liệu qua hai nguồn: dữ liệu sơ cấp và thứ cấp.
Dữ liệu sơ cấp:
- Quan sát: từ thực tế môi trường và cách ứng xử của mọi người trong tập
đoàn.
- Điều tra, phỏng vấn: thông qua các phiếu thu thập, bảng câu hỏi phỏng vấn
sâu với lãnh đạo và nhân viên của Viettel.
Dữ liệu thứ cấp:
viễn thông quân đội Viettel.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN
CỨU LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI CỦA LUẬN VĂN
Liên quan tới chủ đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, hệ thống cơ sở lý
luận và các nghiên cứu thực tế gần đây đã thu hút được rất nhiều tác giả trong nước
4
và nước ngoài quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, cách thức tiếp cận, mức độ và phạm
vi tiếp cận của mỗi tác giả là khác nhau. Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu
quan trọng có liên quan như.
- Lê Minh Tiến, Phạm Như Hồ (2009), “Trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp”, NXB Tri Thức; (Nguyên tác Michel Capron, Francoise Quaire –
Lanoizelee) Các tác giả quyển sách này giới thiệu lịch sử hình thành cụm từ CSR;
những lối tiếp cận khác nhau về khái niệm "trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp",
Sự khác nhau trong quan niệm về CSR của 2 trường phái Mỹ- Anh và Châu Âu…
- Việt Nam Report (2010), Báo cáo thường kì, “Trách nhiệm xã hội- Con
đường nào cho doanh nghiệp Việt.
* VN500 là chuyên trang xếp hạng các doanh nghiệp tại Việt Nam, với lợi
thế về thu thập thông tin VN500 luôn đưa ra những cái nhìn thực tế về các doanh
nghiệp. Chuyên đề 7 về “Trách nhiệm xã hôi của các doanh nghiệp” nêu rõ lợi ích
của việc xây dựng và phát huy CSR, qua đó VN500 đưa ra những giải pháp cơ bản
về xây dựng CSR tại Việt Nam trong tương lai.
- Dương Thị Liễu (2008), Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với
quản trị nhân sự, International vision, No. 12, pp. 87-93. Nghiên cứu này của tác
giả đã nhấn mạnh về tầm quan trọng của CSR trongviệc xây dựng văn hóa doanh
nghiệp trong công tác quản trị nhân sự, đề cao lợi ích của CSR trong việc gián tiếp
hỗ trợ nhân viên, khuyến khích nhân viên làm việc, tự chịu trách nhiệm trước công
việc, tìm kiếm nơi làm việc lý tưởng. Thông qua thành tựu từ việc thực hiện những
công cụ, bộ nguyên tắc ứng xử của một số doanh nghiệp trong lĩnh vực dệt may
Việt Nam: Dệt may Thành Công, Hanosimex, càng khẳng định việc thực hiện CSR
sẽ cải thiện được mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các bên liên quan đặc biệt là
- Thực trạng CSR tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.
- Một số đã đưa ra kiến nghị để nâng cao CSR tại Việt Nam.
Tuy nhiên:
- Hầu hết các công trình đều nghiên cứu ở tầm vĩ mô, phân tích thực trạng và
đề xuất giải pháp cho cả hệ thống doanh nghiệp, chưa có đề tài nào nghiên cứu cho
một doanh nghiệp riêng biệt, mà cụ thể là Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel.
Chính vì thế, thông qua luận văn tác giả muốn tìm hiều kỹ hơn một doanh nghiệp
6
hàng đầu ở Việt Nam hiện nay đã, đang và sẽ quan tâm đến hoạt động CSR của
doanh nghiệp mình như thế nào.
Tác giả cam kết đề tài luận văn không trùng lặp với các công trình đã công
bố, chưa có đề tài nào nghiên cứu về “ Nâng cao trách nhiệm xã hội của Tập đoàn
viễn thông Quân đôi Viettel”.
CHƯƠNG 2. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
CỦA DOANH NGHIỆP
2.1. Lịch sử hình thành và sự phát triển của CSR
2.1.1. Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Từ thời cổ đại giữa các hoạt động kinh tế, xã hội đã luôn có những mối quan
hệ căng thẳng, dao động giữa 2 cực: một bên là việc săn tìm các nguồn tài nguyên
tự nhiên, một bên là đóng góp vào việc thỏa mãn những nhu cầu của các dân tộc,
7
hay nói cách khác, đó là sự căng thẳng giữa nhu cầu sản xuất và khả năng gánh chịu
những nguy cơ nảy sinh từ việc sản xuất ra các vật phẩm phục vụ cho nhu cầu loài
người.
Qua các thời đại kế tiếp, các mối quan hệ đó ít nhiều đã được điều chỉnh, Từ
bộ luật Hammourabi yêu cầu phải bảo vệ những người nô lệ, cho đến việc quản lý
các khu rừng thể hiện trong đạo luật Colbert với tầm nhìn rất dài hạn, hay mối bận
tâm làm sao cân bằng giữa nông nghiệp, lâm nghiệp và các ngành chăn nuôi gia súc
trong các đại điền trang của những dòng tu thời Trung cổ. Đến khoảng vào đầu thế
kỷ XVIII. Khi đó một bộ phận người tiêu dùng không đồng tình với việc sử dụng
có chất lượng tốt, không gây tổn hại đến sức khoẻ người tiêu dùng, đây cũng là một
tiêu chí rất quan trọng thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người tiêu
dùng; Dành một phần lợi nhuận của mình đóng góp cho các hoạt động trợ giúp cộng
đồng.
Có rất nhiều khái niệm về CSR, tuy nhiên trong phạm vi bài viết này, tác giả
coi định nghĩa dưới đây là định nghĩa tiêu biểu để định hướng cho phần nghiên cứu
của mình. Trong cuốn giáo trình “ Văn hóa kinh doanh” – Chủ biên PGS-TS Dương
Thị Liễu – (NXB Đại học Kinh tế quốc dân – 2011), có định nghĩa về CSR như sau:
“Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho
việc phát triển bền vững của xã hội thông qua việc tuân thủ chuẩn mực về bảo vệ
môi trường, bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công
bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng…theo cách có lợi cho
cả doanh nghiệp cũng như sự phát triển của xã hội”.
Theo định nghĩa này, trách nhiệm xã hội có phạm vi rộng, đa dạng hóa về
hình thức: từ việc tuân thủ pháp luật đến việc tôn trọng các cam kết với đối tác,
khách hàng hay việc tuân thủ những ưu tiên trong hành động để bảo tồn và phát
triển cộng đồng.
9
2.1.2. Các khía cạnh của CSR
Nhiều lãnh đạo của doanh nghiệp cho rằng, trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp là tham gia vào các chương trình trợ giúp các đối tượng xã hội như hỗ trợ
người tàn tật, trẻ em mồ côi, xây dựng nhà tình nghĩa, ủng hộ đồng bào lũ lụt và
thiên tai….Điều đó là đúng nhưng hoàn toàn chưa đủ, mặc dù các hoạt động xã hội
là một phần quan trọng trong trách nhiệm của một công ty. Quan trọng hơn, một
doanh nghiệp phải dự đoán và đo lường được những tác động về xã hội và môi
trường hoạt động của doanh nghiệp và phát triển những chính sách làm giảm bớt
những tác động tiêu cực.
Vì vậy ngày nay một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội liên quan đến mọi
khía cạnh vận hành của một doanh nghiệp. Theo cách tiếp cận của Caroll thì Trách
nhiệm xã hội bao gồm 4 khía cạnh: kinh tế, pháp lý, đạo đức và lòng bác ái.
kiến chống lại những hành vi sai trái. Các nghĩa vụ pháp lý được thể hiện trong luật
dân sự và hình sự. Về cơ bản, nghĩa vụ pháp lý bao gồm năm khía cạnh:
(1) Điều tiết cạnh tranh.
(2) Bảo vệ người tiêu dùng.
(3) Bảo vệ môi trường.
(4) An toàn và bình đẳng.
(5) Khuyến khích phát hiện và ngăn chặn hành vi sai trái.
Thông qua trách nhiệm pháp lý, xã hội buộc các thành viên phải thực thi các
hành vi được chấp nhận. Các tổ chức không thể tồn tại lâu dài nếu họ không thực
hiện trách nhiệm pháp lý của mình.
* Khía cạnh đạo đức
12
Khía cạnh đạo đức trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là những
hành vi và hoạt động mà xã hội mong đợi ở doanh nghiệp nhưng không được quy
định trong hệ thống luật pháp, không được thể chế hóa thành luật. Khía cạnh này
liên quan tới những gì các công ty quyết định là đúng, công bằng vượt qua cả những
yêu cầu pháp lý khắc nghiệt, nó chỉ những hành vi và hoạt động mà các thành viên
của tổ chức, cộng đồng và xã hội mong đợi từ phía các doanh nghiệp dù cho chúng
không được viết thành luật.
Khía cạnh đạo đức của một doanh nghiệp thường được thể hiện thông qua
những nguyên tắc, giá trị đạo đức được tôn trọng trình bày trong bản sứ mệnh và
chiến lược của công ty. Thông qua các công bố này, nguyên tắc và giá trị đạo đức
trở thành kim chỉ nam cho sự phối hợp hành động của mỗi thành viên trong công ty
và với các bên hữu quan.
* Khía cạnh bác ái.
Khía cạnh nhân văn trong CSR là những hành vi và hoạt động thể hiện
những mong muốn đống góp và hiến dâng cho cộng đồng xã hội. Những đóng góp
đó có thể trên bốn phương diện: Nâng cao chất lượng cuộc sống, san sẻ bớt gánh
nặng cho chính phủ, nâng cao năng lực lãnh đạo cho nhân viên và phát triển nhân
cách đạo đức của người lao động.
nghiệp”(European Business Forum, 2003 – Diễn đàn Kinh tế châu Âu năm 2003).
- Lord Holme, nguyên giám đốc điều hành công ty Rior Tinto và Philip
Watts, nguyên chủ tịch của công ty Royal Dutch Shell: “CSR là một khái niệm mà
doanh nghiệp kết hợp đến các yếu tố môi trường và xã hội trong quá trình hoạt động
của doanh nghiệp và trong mối tương tác với các bên hữu quan trên cơ sở tự
nguyện.”
14