Luận án tiến sĩ sử học
TS. Nguyễn Lệ Nhung - 0912581997
www.vanthuluutru.com
79
Chương 3
Tài liệu phông lưu trữ Đảng - nguồn sử liệu để
nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
3.1. Nhiệm vụ của việc nghiên cứu lịch sử Đảng và vấn đề xây dựng
các nguồn sử liệu
Nhiệm vụ nghiên cứu lịch sử Việt Nam nói chung, lịch sử ĐCSVN nói
riêng trong nhiều thập kỷ gần đây được rất nhiều người, đặc biệt là giới sử
học rất quan tâm. Điều này thể hiện ở chỗ công tác nghiên cứu lịch sử trong
cả nước ngày càng được mở rộng, các công trình sử học được công bố ngày
càng nhiều, rất phong phú về nội dung và đa dạng về hình thức. Đã xuất hiện
nhiều tác phẩm về thông sử, về lịch sử Đảng, lịch sử địa phương (tỉnh, huyện,
xã), lịch sử của từng ngành (quân sự, điện ảnh, công an, bộ đội biên
phòng,...); lịch sử các tổ chức (phụ nữ, thanh niên, mặt trận,... ), lịch sử danh
nhân, v. v....
Khoa học lịch sử Đảng là một chuyên ngành của khoa học lịch sử. Sau
nhiều năm xây dựng, ngày nay khoa học nghiên cứu lịch sử ở Việt Nam đã có
những bước chuyển biến mới, trong đó việc nghiên cứu lịch sử Đảng đang
được đặt ra với nhiều yêu cầu cấp thiết. Thực tế nhiều năm qua cho phép
chúng ta khẳng định rằng, những bài học của lịch sử Đảng ta có ý nghĩa
không chỉ với chính chúng ta mà cả với bạn bè quốc tế. Không chỉ với hiện tại
mà còn cả với tương lai, chúng ta tin rằng nghiên cứu lịch sử ĐCSVN sẽ đóng
góp nhiều mặt cho phong trào cách mạng thế giới.
Như mọi người đều biết, ĐCSVN ra đời đã đảm đương sứ mệnh lịch sử
vẻ vang lãnh đạo cách mạng nước ta. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành
soạn lịch sử Đảng phải miêu tả, giải thích bản chất các sự kiện và quá trình
lịch sử, đồng thời phải khám phá, tìm ra mối quan hệ, quy luật của sự phát
triển đường lối cách mạng, của nghệ thuật lãnh đạo cách mạng [7-87-88-103].
Như vậy, chức năng chung của khoa học lịch sử Đảng là nhận thức xã hội,
giáo dục con người, tổng kết kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng, đóng góp tích
cực vào công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, con người mới. Đó
là việc nghiên cứu một cách khoa học để bằng cách miêu tả, dựng lại quá
trình trưởng thành của Cách mạng Việt Nam; phân tích, đánh giá, giải thích
các sự kiện và quá trình lịch sử của Đảng, và từ đó phát hiện quy luật phát
triển chung và quy luật đặc thù của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, của
Đảng ta.
Chức năng nhận thức ở đây gồm hai vấn đề: một là, dựng lại lịch sử
Đảng gần đúng như nó đã diễn ra; hai là, phát hiện quy luật, đúc kết lý luận và
bài học kinh nghiệm từ lịch sử Đảng. Hai vấn đề này có quan hệ biện chứng
với nhau: Có dựng lại lịch sử đúng như nó diễn ra mới có cơ sở để phát hiện
quy luật của nó; đồng thời có nghiên cứu phát hiện được bản chất của sự kiện
lịch sử, quy luật vận động khách quan của nó thì mới dựng lại được gần sát
đúng như nó diễn ra. Đây là nét đặc trưng của khoa học lịch sử nói chung,
khoa học lịch sử Đảng nói riêng. Quá trình nhận thức nói trên được lặp đi lặp
lại, từ nông đến sâu, phát triển không ngừng. Không thể chỉ một lần đã có thể
dựng lại được đúng bức tranh của lịch sử, cũng không thể nhận thức một lần
là có thể phát hiện được đầy đủ bản chất và quy luật của lịch sử. Chúng ta
nghiên cứu lịch sử Đảng không phải chỉ giản đơn là ôn lại quá khứ, mà chủ
yếu là nhằm hiểu đúng, hiểu sâu cái đã qua, để có điều kiện hiểu được cái
đang và sắp diễn ra, phục vụ tốt hơn cho việc xem xét và giải quyết những
vấn đề của Đảng, của đất nước trong hiện tại và tương lai.
Theo các nhà nghiên cứu lịch sử, khoa học lịch sử Đảng có những
nhiệm vụ chính sau đây:
1/ Quán triệt và góp phần nhận thức đúng đắn quá trình thực hiện
đường lối, chủ trương của Đảng và những kết quả đã đạt được từ quá trình đó.
đầu tiên là nhà sử học phải tiếp cận với hiện thực lịch sử khách quan đã xảy
ra, thông qua các nguồn sử liệu có đủ độ tin cậy để tái tạo lại bức tranh chân
thực của lịch sử, để đánh giá được một cách trung thực, toàn diện nhiều vấn
đề của lịch sử Đảng với tất cả sự đa dạng, phong phú của nó. Đó là những vấn
đề về vai trò của Đảng trong cách mạng Việt Nam, trong quan hệ với các
đảng cộng sản trên thế giới, về mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, về sự
lãnh đạo và hoạt động của Đảng trong điều kiện kinh tế thị trường và nhiều
vấn đề quan trọng khác. Tất nhiên, không phải hiện nay mọi vấn đề của khoa
học lịch sử Đảng đều đã được giải quyết tốt. Thực tế cho thấy, dù đã đạt được
nhiều thành tựu, khoa học lịch sử Đảng vẫn đứng trước nhiều câu hỏi cần phải
tiếp tục nghiên cứu và làm sáng tỏ.
Thí dụ, chúng ta cần phải đánh giá như thế nào cho thật khách quan,
chính xác về thời kỳ Bác Hồ chưa được Quốc tế Cộng sản tin tưởng? về vai
trò của đồng chí Lê Hồng Phong và Hà Huy Tập? về cải cách ruộng đất? về
Hội nghị Giơ-ne-vơ, về cải tạo XHCN ở miền Nam sau giải phóng? v.v...
Luận án tiến sĩ sử học
TS. Nguyễn Lệ Nhung - 0912581997
www.vanthuluutru.com
82
Những vấn đề đó và hàng loạt vấn đề khác sẽ không thể giải quyết được nếu
không dựa vào các nguồn sử liệu. Sử liệu càng phong phú và chính xác bao
nhiêu thì nghiên cứu và trả lời những câu hỏi nói trên càng thuận lợi
bấy nhiêu.
Chính vì thế, vấn đề xây dựng các nguồn sử liệu là nhiệm vụ tất yếu
phải làm hiện nay của khoa học nghiên cứu lịch sử Đảng. Trong số những
nguồn sử liệu mà chúng ta hiện có liên quan đến lịch sử ĐCSVN, tài liệu lưu
trữ rõ ràng là một loại hình sử liệu không thể thay thế.
Khi xem xét các nguồn sử liệu của lịch sử Đảng trong mối quan hệ với
Luận án tiến sĩ sử học
TS. Nguyễn Lệ Nhung - 0912581997
www.vanthuluutru.com
83
phản ánh tình hình cách mạng Việt Nam, tình hình tổ chức và xây dựng Đảng
ở các cấp qua các thời kỳ.
Cần nhấn mạnh rằng, tài liệu lưu trữ Đảng đang có hiện nay, được sinh
ra không phải nhằm mục đích để làm sử liệu, mà trước hết là do nhu cầu của
thực tiễn cách mạng đòi hỏi. Do vậy, chúng phải được xem xét như những
hiện tượng xã hội được sinh ra trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định,
mang dấu ấn của hoàn cảnh đó. Quan điểm này đòi hỏi phải có cái nhìn lịch
sử khi nghiên cứu loại sử liệu này. Thí dụ khi nghiên cứu nhóm tài liệu văn
kiện phản ánh những quyết sách quan trọng về đường lối cách mạng Việt
Nam ở miền Nam của Đảng ta như: Đề cương cách mạng miền Nam của đồng
chí Lê Duẩn, Nghị quyết Hội nghị Liên khu ủy V năm 1958, Chỉ thị cuối năm
1958 của Liên khu ủy V về xây dựng căn cứ miền núi, Nghị quyết 15 ngày
13/01/1959 của Ban Chấp hành Trung ương; Báo cáo của các tổ chức cơ sở
Đảng, các ban, ngành đoàn thể ở Liên khu V về thắng lợi của phong trào đồng
khởi của nhân dân miền Nam năm 1959-1960,... chúng ta cần đặt chúng trong
những điều kiện lịch sử cụ thể mà chúng đã xuất hiện. Những tài liệu văn kiện
này phản ánh rõ nét con đường phát triển của Cách mạng Việt Nam giai đoạn
1959 - 1975 là con đường bạo lực của quần chúng, dựa vào lực lượng của
quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang đánh đổ đế quốc Mỹ
và tay sai, giành lấy chính quyền về tay nhân dân. Với những nhận định đúng
đắn ấy, cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã chuyển sang
một cục diện mới. Và từ đó, thế và lực của Cách mạng không ngừng
phát triển.
Nhóm tài liệu văn kiện này có liên quan trực tiếp đến các chủ trương,
hiện tốt nhiệm vụ xây dựng cơ sở sử liệu của khoa học lịch sử Đảng dựa trên
nguồn tài liệu lưu trữ Đảng, đòi hỏi lý luận đánh giá hỗ trợ và giải quyết thật
tốt yêu cầu lựa chọn tài liệu văn kiện.
Tất nhiên, các nguồn sử liệu của lịch sử ĐCSVN không phải chỉ có tài
liệu lưu trữ. Như mọi người đều biết, việc nghiên cứu lịch sử ĐCSVN trong
thời gian qua được tiến hành tại rất nhiều cơ quan, viện nghiên cứu. Các
nguồn sử liệu được sử dụng để nghiên cứu rất phong phú. Trong số đó có thể
kể đến các báo chí định kỳ, các cuốn hồi ký, các tư liệu do các cơ quan nước
ngoài cung cấp, các tài liệu thu được từ quá trình khảo sát thực tế của các nhà
nghiên cứu trong nhiều thời gian khác nhau, v.v...
Các loại hình sử liệu của lịch sử Đảng có thể chia thành các nhóm như:
sử liệu chữ viết, sử liệu vật thật, sử liệu phim, ảnh, sử liệu truyền miệng,...
Tuy nhiên, cách phân chia như trên chỉ là tương đối và ước lệ. Các nhóm sử
liệu cần phải được phân loại chi tiết hơn, phù hợp hơn với những đặc điểm
của lịch sử ĐCSVN và đặc điểm của mỗi nguồn sử liệu. Thí dụ: sử liệu chữ
viết có thể phân loại thành sử liệu sách, báo chí, tài liệu lưu trữ, hoặc theo đặc
điểm ngôn ngữ của chúng như sử liệu tiếng Việt, sử liệu tiếng Nga, sử liệu
tiếng Anh, sử liệu tiếng các dân tộc thiểu số,...
Trong các sử liệu chữ viết lại có loại bản gốc, có loại là bản sao, có loại
dịch và in lại. Chúng cần phải được phân biệt và đánh giá khoa học trước khi
sử dụng để nghiên cứu lịch sử. Cũng có thể phân biệt loại hình sử liệu theo
nội dung của chúng hoặc dựa vào một vài đặc trưng khác. áp dụng đặc trưng
nào trong số các đặc trưng nói trên để phân loại các nguồn sử liệu là tùy thuộc
vào nhu cầu thực tế của công việc nghiên cứu, của việc sử dụng sử liệu, đồng
thời cũng cần dựa vào những đặc điểm cụ thể của các nguồn sử liệu được
nghiên cứu. Thực tế cho thấy, có những sử liệu không thể phân loại theo đặc
trưng này nhưng lại có thể phân loại theo đặc trưng khác, thí dụ như nguồn sử
liệu phim ảnh, các tài liệu ghi âm, v.v... Đối với loại sử liệu này, chúng ta
không nên phân loại theo địa bàn mà nên phân loại theo loại hình của chúng
như: phim tài liệu, phim thời sự, băng ghi âm, đĩa ghi âm... Hoặc đối với
của dân tộc. Theo chúng tôi, trong số các nguồn sử liệu của lịch sử ĐCSVN,
nguồn sử liệu chữ viết là có khối lượng lớn nhất và có ý nghĩa quan trọng nhất
[121-122].
Trong nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng, có thể nói, nguồn sử liệu là
vấn đề đầu tiên cần phải được nhận thức đúng đắn từ phía các nhà nghiên cứu
lịch sử nói chung, những người nghiên cứu và biên soạn lịch sử Đảng nói
riêng. Như đã nhấn mạnh ở trên, để nghiên cứu lịch sử, các nhà sử học phải
sử dụng nhiều nguồn sử liệu khác nhau: sử liệu chữ viết, sử liệu vật thật, sử
liệu nghe nhìn, sử liệu truyền miệng, v. v... Trong nguồn sử liệu chữ viết thì
tài liệu lưu trữ đóng một vai trò rất quan trọng [108].
Nhiều nhà nghiên cứu từ lâu đã khẳng định rằng, dựa vào tài liệu lưu
trữ, chúng ta có khả năng nghiên cứu và nhận thức sâu sắc hơn một số vấn đề
trong lịch sử Việt Nam hiện còn chưa sáng tỏ. Hơn thế nữa, nó còn có khả
năng đóng góp, soi sáng hàng loạt vấn đề khác nhau của lịch sử nước ta ở mọi
thời kỳ. Nhà sử học người Pháp Charles Fourniau đã đưa ra một nhận định lý
thú về sử liệu là tài liệu lưu trữ khi ông sử dụng tài liệu lưu trữ để nghiên cứu
một vấn đề trong lịch sử Việt Nam như sau: “Nguồn tài liệu lưu trữ là một
Luận án tiến sĩ sử học
TS. Nguyễn Lệ Nhung - 0912581997
www.vanthuluutru.com
86
kho chứa đựng những thông tin gần như không bao giờ cạn, nếu biết khai thác
và đặt chúng dưới một sự phê phán phức tạp thì những nguồn tài liệu lưu trữ
này sẽ cho phép đi khá xa trong sự nhận thức, kể cả vấn đề đã bị tranh luận và
phủ nhận [04].
Trong quá trình nghiên cứu và biên soạn lịch sử Đảng, các nhà nghiên
cứu phải đụng chạm đến những sự kiện, những giai đoạn lịch sử đòi hỏi phải
lý giải chúng trên một quan điểm khoa học và bằng những phương pháp thích
nhu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam là truyền đạt và cung cấp những
thông tin cần thiết cho hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng. Tài liệu văn
kiện của Đảng là cơ sở để thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng Cộng
Luận án tiến sĩ sử học
TS. Nguyễn Lệ Nhung - 0912581997
www.vanthuluutru.com
87
sản Việt Nam trong quản lý Nhà nước. Đây cũng chính là giá trị đầu tiên của
tài liệu văn kiện Đảng. Phân tích các mặt giá trị của tài liệu văn kiện Đảng là
điều rất cần thiết để giúp các nhà sử học có thể chủ động khai thác nguồn sử
liệu này nhằm phục vụ cho các công trình nghiên cứu của mình.
Nhìn một cách tổng quan, nguồn sử liệu-tài liệu lưu trữ của Đảng có thể
cung cấp cho các nhà nghiên cứu lịch sử Đảng những thông tin có giá trị lịch
sử về tình hình chính trị, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, kinh tế, khoa học,
văn hoá, xã hội, giáo dục và nhiều vấn đề liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng.
Đây là những vấn đề mà từ lâu giới nghiên cứu ở Việt Nam cũng như trên thế
giới hết sức quan tâm. Điều này có thể thấy trên thực tế. Theo nội dung của
mình, tài liệu lưu trữ của Đảng trước hết phản ánh kết quả của quá trình lãnh
đạo tập thể của TW Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, thể hiện đường lối, chủ
trương, phương châm, chính sách của Đảng qua nhiều giai đoạn đấu tranh của
nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng để bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Trong
nguồn sử liệu này có nhiều thông tin quan trọng và chi tiết về quá trình thành
lập Đảng, về nguyên tắc tổ chức của Đảng, về cơ cấu tổ chức các cơ quan, tổ
chức đảng từ Trung ương đến địa phương. Ngoài ra, nội dung của nó còn cho
thấy sự phát triển các chủ trương, đường lối, chính sách tổng thể về đối nội
cũng như đối ngoại của Đảng qua các giai đoạn cách mạng từ trước năm 1954
đến nay.
Chẳng hạn như qua các sưu tập hiện đang bảo quản ở Kho Lưu trữ TW
với hoạt động cách mạng của Đảng và nhân dân, việc nghiên cứu có thể rút ra
những bài học kinh nghiệm bổ ích cho hiện tại và tương lai trên mọi lĩnh vực
hoạt động của Đảng, giúp cho các cơ quan lãnh đạo của Đảng kế thừa, bổ
sung và phát triển đường lối của Đảng cho phù hợp với yêu cầu của giai đoạn
mới.
Thực tế cho thấy rằng, nguồn sử liệu - tài liệu lưu trữ Đảng đã cung cấp
những tư liệu lịch sử đáng tin cậy, có hệ thống cho nghiên cứu lý luận, nghiên
cứu và biên soạn lịch sử Đảng, cho công tác tuyên truyền, giáo dục và bồi
dưỡng các thế hệ những tri thức và kinh nghiệm chính trị, về truyền thống và
đạo đức cách mạng, về lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc và tinh
thần quốc tế trong sáng của những người cộng sản Việt Nam [49].
Có thể kể ra nhiều nội dung lịch sử cụ thể của lịch sử Đảng cần được
nghiên cứu từ nguồn sử liệu - tài liệu Phông lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam
như sự hình thành các tổ chức tiền thân và sự ra đời của Đảng, sự lãnh đạo
của Đảng trong Cách mạng tháng Tám, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà
nước, quá trình hình thành và phát triển quan điểm lý luận của Đảng ta về con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Dựa vào nguồn sử liệu - tài liệu lưu trữ Đảng
có thể tổng kết kinh nghiệm lãnh đạo chung của Đảng trên các lĩnh vực kinh
tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, v.v...
Dưới đây là một vài dẫn chứng cụ thể:
* Về sự hình thành các tổ chức tiền thân và sự ra đời của Đảng có thể
nghiên cứu dựa vào một số tác phẩm của đồng chí Nguyễn ái Quốc, qua tài
liệu văn kiện của các tổ chức cách mạng của Đảng, qua tài liệu văn kiện của
Quốc tế Cộng sản có liên quan đến các tổ chức cộng sản ở Đông Dương
1
.
Nhóm tài liệu văn kiện này hiện được bảo quản trong Kho Lưu trữ TW Đảng
trong một sưu tập mang tên “Các tổ chức tiền thân của Đảng (1924-
1930)”[49] và sưu tập “Hội nghị thành lập Đảng (1930)”[50].
Những tác phẩm của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thời kỳ này gồm có bài
của Hội VNKMTN, Điều lệ của Hội VNKMTN, các nghị quyết của Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ nhất Hội VNKMTN và một số tài liệu liên quan
đến Hội đăng trên báo Thanh niên như Cách mạng, Nhân đức của Pháp,
Người An Nam ở Xiêm, v.v... chúng ta thấy được sự kết hợp ngày càng chặt
chẽ chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước
sục sôi của nhân dân ta đã thúc đẩy sự ra đời của các tổ chức Đảng Cộng sản
ở Việt Nam. Tháng 3/1929, Chi bộ cộng sản đầu tiên ở Việt Nam được thành
lập tại số nhà 5D phố Hàm Long, Hà Nội. Chi bộ đã chủ trương vận động
thành lập một Đảng Cộng sản thay tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh
niên để lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Ngày 17/6/1929 tại nhà số 312 phố Khâm Thiên, Hà Nội, đại biểu các
tổ chức cơ sở đảng ở miền Bắc đã họp quyết định thành lập Đông Dương
Cộng sản Đảng, thông qua Tuyên ngôn, Điều lệ của Đảng, quyết định xuất
bản báo Búa Liềm - cơ quan ngôn luận của Đảng - và cử ra BCHTW của
Đảng.
Tài liệu của Đảng Cộng sản Đông Dương
2
(Đông Dương Cộng sản
Đảng) bao gồm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dương, Điều lệ Đảng
Cộng sản, các Nghị quyết của TW, lời kêu gọi của Đảng Cộng sản Đông
Dương ngày 12/12/1929, của TW Đảng Cộng sản Đông Dương gửi những
người cộng sản An Nam ở Tàu,... và một số tài liệu khác có liên quan như:
Thư của anh em cộng sản ở Tàu gửi cho các đồng chí cộng sản ở Bắc, Những
2
Xem Phụ lục số 1, 2, 3 trang 189, 190, 191- (bản chụp các tài liệu của Đông Dương Cộng sản
Đảng
Luận án tiến sĩ sử học
Đông Dương và các tài liệu khác có liên quan
3
. Tài liệu Hội nghị thành lập
Đảng phản ánh sự ra đời và hoạt động của Đảng trong cao trào cách mạng đầu
tiên của lịch sử Việt Nam hiện đại. Đó là các văn kiện: Chánh cương vắn tắt
của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Điều lệ vắn tắt của ĐCSVN, án nghị
quyết của TW toàn thể Đại hội về tình hình hiện tại ở Đông Dương và nhiệm
vụ cần kíp của Đảng tháng 10/1930, Chỉ thị của TW Thường vụ về thành lập
“Hội Phản đế Đồng Minh”,... và một số tài liệu có liên quan như: Thư của
QTCS gửi những người cộng sản Đông Dương, Thư của Ban Phương Đông
gửi Đảng Cộng sản Đông Dương, Biên bản Hội nghị với các đại biểu Đông
Dương ngày 9/9/1930,...[74]. Nhóm tài liệu khác của QTCS và Đảng Cộng
sản Đông Dương cho phép xác định chính cương, đường lối, nhiệm vụ của
3
Xem Phụ lục 3, 4, 5, 7, 8, 9, 10 từ trang 191-199 - (bản chụp tài liệu của Đảng Cộng sản Đông
Dương và QTCS).
Luận án tiến sĩ sử học
TS. Nguyễn Lệ Nhung - 0912581997
www.vanthuluutru.com
91
Đảng thời kỳ đầu thành lập, cung cấp những thông tin về vai trò lịch sử của
các đồng chí Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng ta
4
.
Nhìn chung, những nhóm tài liệu văn kiện kể trên hiện có trong Kho
Nhà nước có chức năng là thể chế hóa bằng pháp luật quyền hạn, lợi ích,
nghĩa vụ của nhân dân lao động và quản lý kinh tế, xã hội theo pháp luật. [39,
117]
4
Xem Phụ lục 3, 4, 5, 7, 8, 9, 10 từ trang 191-199 - (bản chụp tài liệu của Đảng Cộng sản Đông
Dương và QTCS).
Luận án tiến sĩ sử học
TS. Nguyễn Lệ Nhung - 0912581997
www.vanthuluutru.com
92
Đảng Cộng sản Việt Nam cùng với Nhà nước và các tổ chức đoàn thể
chính trị-xã hội là những bộ phận hợp thành của hệ thống chính trị. Nhà nước
xã hội chủ nghĩa là phương tiện, là công cụ chủ yếu sắc bén để thông qua Nhà
nước Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình đối với toàn xã hội. Nhà nước
XHCN mà chúng ta đang xây dựng - Nhà nước pháp quyền Việt Nam - dựa
trên cơ sở mở rộng và tăng cường khối đoàn kết toàn dân, lấy liên minh giữa
giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng. Đó là
Nhà nước của dân, do dân, vì dân, quản lý xã hội bằng luật pháp và dưới sự
lãnh đạo của Đảng. Trong hệ thống chính trị của CNXH, Nhà nước giữ vị trí
trung tâm và đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện
tập trung ở Nhà nước, được thực hiện thông qua Nhà nước. Sức mạnh của
Đảng là sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, trong đó vị trí then chốt
là Nhà nước do Đảng lãnh đạo. Trong Cách mạng dân tộc dân chủ và Cách
mạng XHCN, ĐCSVN đóng vai trò là đội tiên phong chính trị của giai cấp
công nhân, đồng thời trở thành người lãnh đạo toàn xã hội.
93
những căn cứ và nhận thức để Nhà nước điều tiết các quan hệ xã hội, nhằm
thực hiện việc tổ chức và lãnh đạo nền kinh tế quốc dân theo định hướng
XHCN. Trong số những văn bản được thể chế hóa, trước tiên phải kể đến
Hiến pháp - đạo luật cơ bản, và các luật tổ chức Nhà nước, những nguyên tắc
và quy định về cơ cấu tổ chức, các thiết chế quyền lực, cơ chế hoạt động và
mối quan hệ giữa các thiết chế quyền lực ấy. Chúng tạo điều kiện để bộ máy
Nhà nước ta vận hành phù hợp với điều kiện của giai đoạn phát triển hiện tại
của đất nước và những thay đổi của tình hình quốc tế đang biến động.
Thành tựu của 10 năm đổi mới là thành quả phấn đấu của toàn dân, của
sự năng động trong điều hành của Nhà nước, đặc biệt phải nói đến sự đúng
đắn của đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội VI.
Nó đã tạo ra bước ngoặt đi lên của cả dân tộc. Nhìn lại thời gian hơn 10 năm
qua, các chủ trương của Đảng đã đi vào cuộc sống của nhân dân thông qua sự
quản lý của Nhà nước bằng chính các bộ luật, pháp lệnh, các nghị định,... và
sự điều hành ngày một năng động, có hiệu quả của chính các cơ quan Nhà
nước.
Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988 về đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế nông nghiệp đã nhanh chóng đi vào cuộc sống. Chính sách kinh tế
nhiều thành phần được Đảng lãnh đạo thông qua Nhà nước đã khuyến khích,
tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác phát triển trong lĩnh vực nông
nghiệp, góp phần giải quyết tốt vấn đề nông thôn, nông dân, nông nghiệp.
Nghị quyết Đại hội VIII và các nghị quyết TW đã đề ra và khẳng định chủ
trương cải cách doanh nghiệp Nhà nước, trong đó việc thực hiện cổ phần hóa
một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước là một trong những giải pháp để đổi mới
và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước [45, 35]. Trên cơ sở chủ trương
đó, Chính phủ đã có những Nghị định (Nghị định 28-CP, Nghị định 44-CP)
về cổ phần hóa, và hiện nay, việc cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước
đang được tiếp tục thực hiện dưới sự chỉ đạo của Nhà nước.
Bây giờ chúng ta hãy xem xét, nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng trên
lĩnh vực văn hóa; bổ sung những luật đã ban hành cho phù hợp với tình hình
mới; nghiên cứu xây dựng Luật di sản văn hóa dân tộc, Luật quảng cáo, Pháp
lệnh thư viện, xây dựng chính sách kinh tế trong văn hóa, chính sách xã hội
hóa hoạt động văn hóa, v. v...
Như vậy, xét về phương diện xã hội, Đảng lãnh đạo về chính trị trong
mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và các tổ chức xã hội bằng đường lối và
các chính sách của Đảng. Đảng lãnh đạo, tổ chức mọi lực lượng cách mạng
trong xã hội thực hiện cho được đường lối, chủ trương mà Đảng đã đề ra. Còn
Nhà nước do Đảng lãnh đạo, chức năng của Nhà nước là thể chế hóa bằng
pháp luật quyền hạn, lợi ích, nghĩa vụ của nhân dân lao động và quản lý kinh
tế, xã hội theo pháp luật [37, 117]. Trên cơ sở đó, Nhà nước quản lý, điều
hành mọi mặt đời sống xã hội. Uy tín và quyền lãnh đạo của Đảng được thực
hiện thông qua hoạt động của Nhà nước. Nhà nước mạnh, hoạt động có hiệu
quả là điều kiện đầu tiên để Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo của mình đối với
xã hội. Nâng cao năng lực, hiệu lực quản lý của Nhà nước chính là nâng cao
vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội. Như vậy là, đưa nghị quyết của
Đảng vào cuộc sống, chính là toàn bộ đường lối, chủ trương, chính sách lớn
của Đảng được thể chế hóa thành chủ trương, chính sách, hiến pháp và pháp
luật của Nhà nước. Đây cũng chính là quá trình thực hiện sự lãnh đạo của
Đảng đối với Nhà nước XHCN của chúng ta. Nghiên cứu vấn đề này trong
lịch sử ĐCSVN từ nguồn sử liệu - tài liệu lưu trữ Đảng là góp phần làm rõ
thêm vị trí, vai trò của ĐCSVN trong hệ thống chính trị xã hội và không
ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
* Nhiều chính sách, đường lối, chủ trương chiến lược do Đảng đề ra
trong những thời điểm quan trọng của cách mạng Việt Nam được phản ánh rõ
nét qua nguồn sử liệu-tài liệu lưu trữ của Đảng: Nghiên cứu, tìm hiểu quan
điểm của Đảng ta về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam giúp chúng ta hiểu