Khoa Kinh tế - Luật GVHD: Ths. Đào Thế Sơn
MỤC LỤC
1
SV: Nguyễn Thị Tuyến – K47F2
Khoa Kinh tế - Luật GVHD: Ths. Đào Thế Sơn
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới trường Đại học Thương mại, các
thầy, cô trong khoa Kinh tế - Luật, và đặc biệt là thầy Đào Thế Sơn đã tận tình hướng
dẫn giúp tôi có thể hoàn thành tốt bài khóa luận tốt nghiệp này.
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cám ơn tới ban lãnh đạo, các phòng ban trong
Công ty cổ phần thương mại Hoàng Bách, các anh chị trong công ty đã dành thiện chí
cũng như dành thời gian hướng dẫn một sinh viên đang trong thời gian gian thực tập.
Hy vọng rằng trong thời gian tới những phát hiện và đề xuất trong bài khóa luận của
tôi sẽ phần nào đóng góp thêm vào sự thành công của quý công ty.
Trong thời gian thực tập tổng hợp tại Công ty cổ phần thương mại Hoàng Bách,
mặc dù là sinh viên chưa có nhiều kinh nghiệm nhưng dưới sự chỉ bảo tận tình của ban
lãnh đạo cũng như các phòng ban trong công ty đã giúp tôi hoàn thành tốt công việc
được giao. Đồng thời, thông qua quá trình thâm nhập thực tế, tôi đã có cơ hội nghiên
cứu tìm hiểu về công ty, về các hoạt động phân phối sản phẩm của công ty ra thị
trường. Nhờ vậy tôi đã có góc nhìn tổng quát về những thuận lợi và khó khăn công ty
đối mặt trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Hy vọng rằng bài khóa luận của tôi nghiên cứu về lãi suất và tác động của lãi
suất đến hoạt động kinh doanh của công ty sẽ phần nào có cái nhìn khái quát và rút ra
được thêm kinh nghiệm giúp công ty ngày càng nâng cao được hiệu quả trong kinh
doanh.
2
SV: Nguyễn Thị Tuyến – K47F2
Khoa Kinh tế - Luật GVHD: Ths. Đào Thế Sơn
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ
1 CBCNV Cán bộ công nhân viên
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng, như cơ cấu
lại thời hạn trả nợ , giảm lãi suất của các khoản vay cũ; xem xét miễn, giảm lãi vốn
vay…
Tuy nhiên, chính sách của Nhà nước thì là như vậy nhưng những khó khăn
cũng như tác động từ những sự biến động của lãi suất trên thị trường tới các doanh
nghiệp kinh doanh là điều không thể phủ nhận. Đối với các doanh nghiệp thương mại
nói chung và CTCPTM Hoàng Bách nói riêng, sự biến động của lãi suất ở từng thời
điểm khác nhau trên thị trường tác động đến công ty là cả tích cực cũng như tiêu cực.
Các chính sách về lãi suất có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của công ty. Trong
quan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp và Ngân hàng lãi suất cho vay phản ánh giá của
đồng vốn mà người sở hữu các doanh nghiệp phải trả cho người cho vay là các
NHTM. Đối với các doanh nghiệp lãi suất cho vay hình thành nên chi phí vốn là chi
phí đầu vào của quá trình sản xuất. Do đó, mọi sự biến động về lãi suất cho vay trên
thị trường cũng đều ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Lãi suất ngân hàng cao đi kèm với xu hướng cắt giảm, thu hẹp quy mô phạm
4
SV: Nguyễn Thị Tuyến – K47F2
Khoa Kinh tế - Luật GVHD: Ths. Đào Thế Sơn
vi của hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế. Ngược lại, khi lãi suất cho vay
thấp luôn là động lực khuyến khích doanh nghiệp mở rộng đầu tư, phát triển các hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Vậy diễn biến của sự ảnh hưởng do tác động của lãi suất biến động đến hoạt
động kinh doanh của CTCPTM Hoàng Bách như thế nào? Là một công ty kinh doanh
về mặt hàng điện gia dụng trên thị trường, chắc chắn CTCPTM Hoàng Bách đã có
những ảnh hưởng không nhỏ khi lãi suất trên thị trường có biến động. Công ty đã tận
dụng cơ hội cũng như đối phó ra sao khi có những sự thay đổi của chính sách lãi suất?
Để đi sau nghiên cứu tầm quan trọng này, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Tác động
của lãi suất đến hoạt động kinh doanh mặt hàng điện gia dụng của công ty cổ phần
thương mại Hoàng Bách” làm đề tài khóa luận cuối khóa của mình.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
mình, tôi phân tích ảnh hưởng của biến động lãi suất đến hoạt động kinh doanh của
CTCPTM Hoàng Bách và cũng đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế các tác động
của lãi suất đến hoạt động của công ty.
Khóa luận tốt nghiệp: “Ảnh hưởng của biến động lãi suất đến hoạt động kinh
doanh mặt hàng bìa carton của công ty TNHH Sản Xuất Thương Mại Tổng Hợp
Toàn Cầu” của sinh viên Nguyễn Văn Chiến – lớp K45F5 – Đại học Thương mại,
viết năm 2013.
Đề tài phân tích biến động lãi suất, cụ thể là biến động của lãi suất cho vay từ năm
2010 – 2012. Phân tích những diễn biến trong hoạt động kinh doanh của Công ty
TNHH Sản Xuất Thương Mại Tổng Hợp Toàn Cầu theo sự biến động của lãi suất
thông qua các chỉ tiêu tài chính cơ bản của doanh nghiệp như doanh thu, lợi nhuận,
tỷ suất lợi nhuận. Bài viết của tôi phân tích biến động lãi suất cho vay từ 2012 –
2014.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu cũng như khóa luận, luận văn tốt nghiệp nêu
trên đều đã phân tích được sự tác động của biến động lãi suất đến hoạt động cũng như
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, mỗi công trình nghiên cứu ở một giai đoạn gắn
với chủ thể kinh doanh khác nhau. Bài khóa luận của tôi tiếp tục nghiên cứu, phân tích
để thấy được tác động của lãi suất cho vay đến chủ thể kinh doanh là CTCPTM Hoàng
Bách giai đoạn từ năm 2012 – 2014.
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Sau khi tham khảo từ sách báo, các bài nghiên cứu, luận văn, khóa luận tốt
nghiệp, tôi thấy các tác giả từ các lý luận về lãi suất, về hoạt động kinh doanh cùng
những tác động của việc biến động lãi suất đến hoạt động kinh doanh của donh nghiệp,
đã làm rõ phần nào thực trạng biến động lãi suất thị trường Việt Nam ra sao, tác động
của việc biến động đó đến tình hình kinh tế nói chung và tình hình hoạt động kinh
doanh nói riêng.
Đề tài của tôi sẽ tập trung nghiên cứu phân tích sự ảnh hưởng của lãi suất đến
hoạt động kinh doanh của CTCPTM Hoàng Bách. Để làm rõ được điểu này, đề tài sẽ
đi theo làm rõ các vấn đề sau đây:
6
Để đi sâu tìm hiểu nghiên cứu một vấn đề, trên thực tế phải sử dụng nhiều
phương pháp, ta sử dụng kết hợp những phương pháp nghiên cứu với nhau để đạt được
mục tiêu phân tích của đề tài. Với đề tài này, bài nghiên cứu sử dụng các phương
pháp:
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
7
SV: Nguyễn Thị Tuyến – K47F2
Khoa Kinh tế - Luật GVHD: Ths. Đào Thế Sơn
Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp thông qua việc
tập hợp các số liệu phản ánh tình hình kinh doanh qua các bản báo cáo tài chính của
từng giai đoạn của CTCPTM Hoàng Bách. Đồng thời tập hợp các số liệu phản ánh tình
hình biến động lãi suất của thị trường được thu thập thông qua các cổng thông tin
truyền thông của Tổng cục thống kê, hay của Bộ tài chính…
- Phương pháp xử lý số liệu thống kê:
Những dữ liệu sau khi được thu thập thì cần phải được xử lý, chọn lọc sao cho
các dữ liệu đó trở nên thực sự giá trị, phù hợp để làm bật lên được vấn đề mà ta đang
nghiên cứu. Phương pháp xử lý số liệu trong bài nghiên cứu là phương pháp lập bảng,
lập biểu đồ, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích cơ bản, phương pháp phân
tích tổng hợp.
6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Kết cấu chính của bài khóa luận được chia làm 4 chương với nội dung như sau:
- Chương mở đầu:
- Chương 1: Môt số lý luận cơ bản về vấn đề tác động của lãi suất đến hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
- Chương 2: Thực trạng của việc tác động của lãi suất đến hoạt động kinh doanh
mặt hàng điện gia dụng của CTCPTM Hoàng Bách.
- Chương 3: Các đề xuất và kiến nghị với vấn đề tác động của lãi suất đến hoạt
động kinh doanh của CTCPTM Hoàng Bách.
Ngoài ra, còn có các phần tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục các từ ngữ
viết tắt, danh mục bảng biểu, danh mục các tài liệu tham khảo.
quyết định của cá nhân, doanh nghiệp cũng như hoạt động của các tổ chức tín dụng và
toàn bộ nền kinh tế.
- Đối với sự phân bổ nguồn lực thì lãi suất được coi là một giá cả, nó có vai trò phân
bổ hiệu quả các nguồn lực khan hiếm của xã hội và là yếu tố cần thiết ban đầu trước
khi đi đến quyết định đầu tư vào một ngành kinh tế hay một dự án kinh tế nào đó.
- Trong tiêu dùng và tiết kiệm, lãi suất cũng có có vai trò không hề nhỏ trong việc
điều chỉnh thu nhập kinh tế gia đình.
- Với các hoạt động đầu tư, do chịu nhiều ảnh hưởng bỏi nhiều nhân tố như thu nhập,
chi phí kinh doanh nên khi lãi suất cao thì sẽ có ít khoản đầu tư vào vốn. Do vậy, chi
tiêu cho đầu tư giảm. Ngược lại, khi lãi suất thấp, chi tiêu cho đầu tư của các doanh
nghiệp sẽ tăng.
- Với tỷ giá hối đoái và hoạt động xuất nhập khẩu cũng chịu nhiều ảnh hưởng của lãi
suất ở lãi suất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ.
- Với lạm phát, trong thời kỳ lạm phát nếu lãi suất tăng sẽ cho phép hệ thông ngân
hàng có thể thu hút phần lớn số tiền có nhiều trong lưu thông khiến cho lượng tiền
9
SV: Nguyễn Thị Tuyến – K47F2
Khoa Kinh tế - Luật GVHD: Ths. Đào Thế Sơn
trong lưu thông giảm, lượng tiền cung ứng cũng sẽ giảm góp phần kiềm chế được lạm
phát.
Chính sách lãi suất là một công cụ quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ
quốc gia, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát.lãi suất được sử
dụng linh hoạt sẽ có tác động tích cực đến nền kinh tế. Ngược lại lãi suất được giữ một
các cố định, có thể kích thích tăng trưởng kinh tế những sang thời kỳ khác, nó trở
thành vật cản cho sự phát triển kinh tế. Tóm lại, lãi suất là một trong những vấn đề
trung tâm của nên kinh tế.
• Ý nghĩa
- Ý nghĩa vĩ mô
Trên tầm vĩ mô, lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô rất có hiệu quả của
Chính phủ thông qua việc thay đổi mức và cơ cấu lãi suất trong từng thời kì nhất định,
Ngân hàng dưới hình thức triết khấu lại thương phiếu hoặc giấy tờ có giá ngắn hạn
chưa đến hạn thanh toán cho các Ngân hàng .Nó được tính bằng tỷ lệ % trên mệnh
giá của giấy tờ có giá cũng được khấu trừ ngay khi Ngân hàng Trung ương cấp
vốn tiền vay cho Ngân hàng.
- Lãi suất liên Ngân hàng: là lãi suất mà Ngân hàng áp dụng khi cho nhau vay trên
thị trường liên Ngân hàng.
- Lãi suất cơ bản: Là lãi suất được các Ngân hàng sử dụng làm cơ sở để ổn định
mức lãi suất kinh doanh của mình.
- Lãi suất tín dụng Nhà nước: áp dụng khi Nhà nước đi vay của các chủ thể khác
nhau trong xã hội dưới hình thức phát hành tín phiếu hoặc trái phiếu .
- Lãi suất tín dụng tiêu dùng: áp dụng khi doanh nghiệp cho người lao động vay
phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân.
• Căn cứ vào giá trị thực của lãi suất Lãi suất được chia thành 2 loại :
- Lãi suất danh nghĩa: Là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ vào thời
điểm nghiên cứu hay nói cách khác là loại lãi suất chưa loại trừ đi tỷ lệ lạm phát .
- Lãi suất thực tế là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về
lạm phát. Hay nói cách khác là lãi suất đã loại trừ đi tỷ lệ lạm phát. Lãi suất thực
có hai loại:
Lãi suất thực tính trước (dự tính): là lãi suất thực được điều chỉnh lại cho đúng
theo đúng những thay đổi dự tính về lạm phát.
Lãi suất thực tính sau: là lãi suất thực được điều chỉnh lại cho đúng theo
những thay đổi trên thực tế về lạm phát.
Lãi suất danh nghĩa = lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát
Hoặc Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát
• Căn cứ vào mức ổn định của lãi suất Lãi suất được chia làm hai loại .
- Lãi suất ổn định: là lãi suất áp dụng cố định trong suất thời hạn vay. Nó có ưu
điểm: Người gửi tiền và vay tiền biết trước số tiền lãi được trả và phải trả. Bên
cạnh đó nó có nhược điểm bị ràng buộc vào một lãi suất nhất định trong một thời
hạn nào đó dù cho các loại lãi suất khác thay đổi như thế nào.
- Lãi suất thả nổi: Là lãi suất có thể thay đổi lên xuống và có thể báo trước hoặc
án trọng điểm. Mặt khác, muốn duy trì sự ổn định của lãi suất thì sự ổn định của thị
trường vốn phải được đảm bảo vững chắc.
Ảnh hưởng của lạm phát kỳ vọng
Khi lạm phát được dự đoán tăng trong một thời kỳ nào đó, lãi suất sẽ có xu
hướng tăng. Điều này là xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suất danh
nghĩa và để duy trì lãi suất thực không đổi, tỷ lệ lạm phát tăng đòi hỏi lãi suất danh
nghĩa phải tăng lên tương ứng. Mặt khác, công chúng dự đoán lạm phát tăng sẽ dành
phần tiết kiệm của mình cho việc dự trữ hàng hoá hoặc những dạng thức phi tài sản
12
SV: Nguyễn Thị Tuyến – K47F2
Khoa Kinh tế - Luật GVHD: Ths. Đào Thế Sơn
khác như vàng, ngoại tệ mạnh hoặc đầu tư vốn ra nước ngoài nếu có thể. Tất cả những
điều này làm giảm cung quỹ cho vay và gây áp lực tăng lãi suất trên thị trường. Từ
mối quan hệ này cho thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của việc khắc phục tâm lý lạm
phát đối với việc ổn định lãi suất, sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế.
Ảnh hưởng của tỷ suất lợi nhuận bình quân
Tỷ suất lợi nhuận bình quân của các dự án đầu tư phải cao hơn lãi suất các
khoản vay tài trợ cho dự án. Có như vậy các nhà đầu tư mới có lợi nhuận từ các dự án
đầu tư và phấn khởi mở rộng đầu tư. Do đó, cách đánh giá, lựa chọn chính sách lãi
suất phù hợp sẽ dựa trên cơ sở ước lượng tỷ suất lợi tức trung bình của nền kinh tế.
Ảnh hưởng của bội chi ngân sách
Bội chi ngân sách ở trung ương và địa phương trực tiếp làm cho cầu tiền tăng
và làm tăng lãi suất. Sau nữa, bội chi ngân sách sẽ tác động đến tâm lý công chúng về
gia tăng mức lạm phát và sẽ gây áp lực tăng lạm phát. Thông thường, Chính phủ
thường tài trợ cho thâm hụt ngân sách bằng cách phát hành trái phiếu. Lượng cung trái
phiếu trên thị trường tăng lên làm cho giá trái phiếu có xu hướng giảm và lãi suất thị
trường có xu hướng tăng. Mặt khác, do tài sản có của NHTM tăng ở khoản mục trái
phiếu chính phủ, dự trữ vượt mức giảm nên lãi suất ngân hàng cũng sẽ tăng.
Những thay đổi trong thuế:
Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp luôn có tác động đến lãi
Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động mua bán giấy tờ có giá giữa Ngân hàng
Trung ương với các tổ chức tín dụng. Thông qua hoạt động mua bán giấy tờ có giá,
Ngân hàng Trung ương tác động trực tiếp đến ngườn vốn khả dụng của các tổ chức tín
dụng, từ đó điều tiết lượng cung ứng tiền tệ và tác động gián tiếp đến lãi suất thị
trường.
• Chính sách tái chiết khấu
Đây là hoạt động mà Ngân hàng Trung ương thực hiện cho vay nhắn hạn đối
với các ngân hàng thương mại thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu bằng việc điều chỉnh
lãi suất tái chiết khấu đối với thương phiếu, giấy tờ có giá ngắn hạn khác và hạn mức
cho vay tái chiết khấu. Khi Ngân hàng Trung ương tăng hoặc giảm lãi suất tái chiết
khấu sẽ hạn chế hoặc khuyến khích việc các ngân hàng thương mại vay tiền làm cho
khả năng vay của ngân hàng thương mại gianrm hoặc tăng tương ứng. Từ đó làm cho
mức cung tiền trong nền kinh tế giảm hoặc tăng tương ứng và cuối cùng ảnh hưởng
đến lãi suất thị trường.
• Quy đinh mức dữ trữ bắt buộc
Số tiền dự trữ bắt buộc là số tiền mà các ngân hàng phải giữ lại do Ngân hàng
Trung ương quy định theo một tỷ lệ quy định. Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ buộc ảnh
hưởng trực tiếp đên số nhân tiền trong cơ chế tạo tiền của các ngân hàng thương mại.
Mặt khác, khi tăng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc thì khả năng cho vay của các ngân hàng
thương mại giảm làm cho lãi suất cho vay tăng, từ đó làm cho lượng cung ứng tiền
14
SV: Nguyễn Thị Tuyến – K47F2
Khoa Kinh tế - Luật GVHD: Ths. Đào Thế Sơn
giảm. Và ngược lại, khi giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì khả năng cho vay của các ngân
hàng thương mại tăng làm cho lãi suất cho vay giảm, làm cho lương cung ứng tiền
tăng ảnh hưởng đến lãi suất thị trường.
1.2.2. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.2.1. Đặc điểm của các hoạt động kinh doanh thương mại của doanh
nghiệp thương mại
Kinh doanh thương mại khác với hoạt động sản xuất, nó là giai đoạn sau cùng
Thông thường người ta phân loại các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp thành các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan các yếu
tố chủ quan là các yếu tố thuộc bản thân doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể kiểm soát
hoặc điều chỉnh được nó, các yếu tố khách quan là các yếu tố mà doanh nghiệp không
thể điều chỉnh và kiểm soát được.
Các nhân tố khách quan:
Là các nhân tố mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được nó tác động liên tục
đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo những xu hướng khác nhau, vừa tạo
ra cơ hội vừa hạn chế khả năng thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Hoạt động kinh
doanh đòi hỏi phải thường xuyên nắm bắt được các nhân tố này, xu hướng hoạt động
và sự tác động của các nhân tố đó lên toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Các nhân tố khách quan bao gồm các yếu tố chính trị, luật pháp, văn hoá, xã
hội, công nghệ, kỹ thuật, kinh tế, điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng và quan hệ kinh tế,
đây là những yếu tố mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được đồng thời nó có tác
động chung đến tất cả các doanh nghiệp trên thị trường. Nghiên cứu những yếu tố này
doanh nghiệp không nhằm để điều khiển nó theo ý kiến của mình mà tạo ra khả năng
thích ứng một cách tốt nhất với xu hướng vận động của mình.
Các yếu tố chủ quan:
Là toàn bộ các yếu tố thuộc tiềm lực của doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể
kiểm soát ở mức độ nào đó và sử dụng để khai thác các cơ hội kinh doanh. Tiềm năng
phản ánh thực lực cuả doanh nghiệp trên thị trường, đánh giá đúng tiềm năng cho phép
doanh nghiệp xây dựng chiến lược và kế hoạch kinh doanh đúng đắn đồng thời tận
dụng được các cơ hội kinh doanh mang lại hiệu quả cao.
Các yếu tố thuộc tiềm năng của doanh nghiệp bao gồm: Sức mạnh về tài chính,
tiềm năng về con người, tài sản vô hình, trình độ tổ chức quản lí, trình độ trang thiết bị
công nghệ, cơ sở hạ tầng, sự đúng đắn của các mục tiêu kinh doanh và khả năng kiểm
soát trong quá trình thực hiện mục tiêu.
1.2.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thương
mại
Đối với doanh nghiệp hiệu quả kinh doanh không chỉ là thước đo chất lượng
được tiếp cận dưới nhiều góc độ, dựa trên những tiêu chí khác nhau. Căn cứ vào nguồn
gốc hình thành vốn, vốn của công ty cổ phần được chia thành: vốn chủ sở hữu và vốn
vay.
Vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn thuộc sở hữu của công ty, được hình thành từ
nguồn đóng góp của cổ đông và vốn do công ty cổ phần tự bổ sung từ lợi nhuận của
công ty.
Khi có một sự biến động của lãi suất, điều đó tác động lên tâm lý của những cổ
đông góp vốn trong công ty cổ phần, đặc biệt là trường hợp của những cổ đông mới
17
SV: Nguyễn Thị Tuyến – K47F2
Khoa Kinh tế - Luật GVHD: Ths. Đào Thế Sơn
hoặc cổ đông đang có ý định góp vốn vào công ty. Lãi suất biến đổi cũng làm thay đổi
số lợi nhuận cuối cùng, do vậy, vốn chủ sở hữu tăng giảm cũng chịu sự tác động của
sự tăng giảm lãi suất.
Vốn vay: là nguồn vốn hình thành từ việc đi vay dưới các hình thức khác nhau:
vay ngân hàng, vay của các tổ chức, cá nhân, hoặc vay bằng cách phát hành trái phiếu.
Chủ yếu nguồn vay của các công ty là từ các ngân hàng thương mại.
Khi lãi suất tăng, cụ thể là lãi suất cho vay tăng, khả năng huy động vốn của
doanh nghiệp từ việc vay vốn ngân hàng, đặc biệt là các khoản vay ngắn hạn thông
thường sẽ giảm. Ngược lại khi lãi suất giảm, khả năng huy động vốn của các doanh
nghiệp sẽ tăng bởi doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn khi phải tính
đến khoản lãi vay phải trả từ hoạt động vay vốn.
1.3.1.2. Lãi suất ảnh hưởng đến mức chi phí kinh doanh
Khi lãi suất cho vay của NHTM tăng sẽ đẩy chi phí đầu vào và giá thành sản
phẩm tăng lên, làm suy giảm lợi nhuận cũng như khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp, gây ra tình trạng thua lỗ, phá sản trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Xu
hướng tăng lãi suất ngân hàng sẽ luôn đi liền với xu hướng cắt giảm, thu hẹp quy mô
và phạm vi của các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế.
Ngược lại, khi lãi suất ngân hàng giảm sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp giảm
chi phí, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh. Lãi suất
công ty ảnh hưởng đến doanh thu công ty. Khi lãi suất thấp chi phí tín dụng tiêu dùng
thấp, người ta vay nhiều cho việc tiêu dùng hàng hoá nghĩa là tiêu dùng nhiều hơn. Xét
trên riêng bộ phận khách hàng của một công ty, điều đó khiến doanh thu công ty tăng
lên. Khi lãi suất cao đem lại thu nhập từ khoản tiền để dành nhiều hơn sẽ khuyến
khích tiết kiệm, do đó tiết kiệm tăng, người ta sẽ tiêu dùng ít đi so với thông thường,
điều đó khiến doanh thu của công ty bị sụt giảm.
Như vậy là lãi suất ảnh hưởng cả trực tiếp lẫn gián tiếp đến sự tăng giảm doanh
thu của doanh nghiệp.
1.3.3. Tác động của lãi suất đến lợi nhuận chung của doanh nghiệp
Mọi sự biến động về lãi suất cho vay trên thị trường cũng đều ảnh hưởng trực
tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh hay nói cách khác là tác động trực tiếp đến lợi
nhuận của doanh nghiệp.
Khi lãi suất tại các NHTM tăng cao làm chi phí sản xuất kinh doanh tăng lên,
doanh thu, quy mô thị trường tiêu thụ sản phẩm giảm xuống, hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp bị giảm sút, dẫn đến lợi nhuận doanh nghiệp không những
giảm xuống mà còn có nguy cơ bị thua lỗ, khả năng trả nợ bị suy giảm hoặc không có.
Nhiều doanh nghiệp có quy mô nhỏ, vốn ít, không chịu đựng được mức lãi suất cao,
không có khả năng huy động vốn để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh đã phải
ngừng hoạt động, giải thể và phá sản.
19
SV: Nguyễn Thị Tuyến – K47F2
Khoa Kinh tế - Luật GVHD: Ths. Đào Thế Sơn
Ngược lại, khi lãi suất giảm xuống làm chi phí sản xuất kinh doanh giảm, doanh
thu tăng lên, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tăng. Lãi suất thấp cũng
là cơ hội không thể bỏ để các doanh nghiệp vay vốn nhằm mở rộng quy mô sản xuất
sản phẩm, dẫn đến thị trường tiêu thụ sản phẩm được mở rộng. Từ đó, lợi nhuận chung
của doanh nghiệp cũng tăng lên.
20
SV: Nguyễn Thị Tuyến – K47F2
Khoa Kinh tế - Luật GVHD: Ths. Đào Thế Sơn
Bảng 2.1: Lãi suất huy động và cho vay VND và USD tháng 1/2011 đến tháng
6/2011 (%)
Nguồn: Báo cáo của NHNN
Vào đầu năm, lãi suất cho vay theo báo cáo của NHNN ở vào mức bình quân
16,23%/năm (cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu ở mức 14-
16%/năm; lĩnh vực phi sản xuất là 18-20%/năm). Thời điểm đó, có nhiều chuyên gia
cho rằng lãi suất cho vay sẽ về mức khoảng 15%/năm vào cuối quý I, tuy nhiên tình
hình tăng chóng mặt của lạm phát đã buộc NHNN thực hiện nhiều biện pháp thắt chặt
tiền tệ, khiến lãi suất ngày càng tăng cao. Vào tháng 5/2011, mức lãi suất cho vay
trung bình ở mức 20%/năm, trong đó lãi suất cho vay tiêu dùng tại một số NHTM cổ
phần đã lên tới 23-25%/năm, cá biệt có ngân hàng đã nâng lên đến mức 27%/năm,
nghĩa là cao hơn cả mức kỉ lục năm 2008 và cao nhất trong mấy chục năm qua. Lãi
suất này đã gây ra rất nhiều khó khăn cho các cá nhân, doanh nghiệp vay vốn, đặc biệt
là các doanh nghiệp 3 vốn đang phải vật lộn đối mặt với giá cả đầu vào tăng cao và thị
trường tiêu thụ thu hẹp trong thời kì bão giá.
Cùng với sự leo thang của lãi suất VND, lãi suất USD cũng liên tục nóng lên và
tăng cao nhất vào tháng 3/2011. Nhằm thực hiện chính sách chống đô la hóa, ngày
09/4/2011, NHNN đã ban hành Thông tư số 09/2011/TT-NHNN quy định mức lãi suất
huy động vốn tối đa bằng USD của tổ chức, cá nhân tại TCTD. Theo đó, phải đảm bảo
lãi suất huy động vốn tối đa bằng USD của tổ chức là 1,0%/năm và của cá nhân là
3,0%/năm. Sau quy định này, lãi suất huy động USD đã giảm xuống trong những
tháng đầu, trong khi đó lãi suất cho vay USD vẫn ở mức cao. Tiếp tục kiên quyết với
chủ trương này, ngày 01/6/2011, NHNN đã ra Thông tư số 14/2011/TT-NHNN giảm
trần lãi suất USD xuống còn tương ứng 2% và 0,5%.
Trong quý 3, Lãi suất VND: Lãi suất huy động từ ngày 07/9/2011, thực hiện
Chỉ thị số 02/CT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động của các tổ chức
tín dụng phổ biến ở mức 14%/năm; tuy nhiên, một số Ngân hàng thương mại áp dụng
mức lãi suất 14%/năm đối với cả các khoản tiền gửi kỳ hạn ngày, tuần. Lãi suất cho
22
SV: Nguyễn Thị Tuyến – K47F2
Trong đó, lãi suất cho vay nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu giảm 0,5-1%/năm và
dao động ở mức 14,5-17%/năm, thậm chí chỉ còn 13,5%/năm.
• Năm 2012
Để định hướng thị trường, ngay từ đầu năm 2012, NHNN đã đưa ra mục tiêu
giảm lãi suất huy động xuống còn 9-10%/năm vào cuối năm 2012, đồng thời đưa ra lộ
trình giảm trung bình mỗi quý 1%/năm. Từ tháng 5/2012, NHNN đã quy định trần lãi
suất cho vay ngắn hạn VND đối với lĩnh vực ưu tiên là nông nghiệp nông thôn, xuất
khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp ứng dụng công
nghệ cao; trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên được
điều chỉnh giảm từ mức 15%/năm xuống 12%/năm, phù hợp với xu hướng giảm của
trần lãi suất tiền gửi VND.
Quý I được đánh dấu bằng việc NHNN điều chỉnh giảm 1% đối với các mức lãi
suất điều hành và trần lãi suất huy động VND của các tổ chức tín dụng kể từ ngày
13/3/2012 nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay.
Theo đó, lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh giảm từ mức 15%/năm xuống
14%/năm, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng giảm từ
mức 16%/năm xuống mức 15%, lãi suất tái chiết khấu giảm từ mức 13%/năm xuống
12%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi bằng VND không kỳ hạn và có kỳ
hạn dưới 1 tháng của các tổ chức tín dụng giảm từ 6%/năm xuống 5%/năm, kỳ hạn từ
1 tháng trở lên giảm từ 14%/năm xuống 13%/năm.
Lãi suất huy động VND tương đối ổn định trong 2 tháng đầu năm và đến ngày
12/3/2012, các tổ chức tín dụng đã điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi xuống phổ biến ở
23
SV: Nguyễn Thị Tuyến – K47F2
Khoa Kinh tế - Luật GVHD: Ths. Đào Thế Sơn
mức 3-4%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn, 4-5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn
dưới 1 tháng; 11,5-13%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên.
Nhờ lần điều chỉnh lãi suất này, lãi suất cho vay VND được điều chỉnh giảm từ
1-3%/năm đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ,
doanh nghiệp nhỏ và vừa, sản xuất – kinh doanh… phổ biến ở mức 14,5-16%/năm,
Nguồn: Tổng cục thống kê và UBGSTCQG
Với mức độ và tần suất điều chỉnh giảm lãi suất như trên, mặt bằng lãi suất huy
động và cho vay đã giảm đáng kể, gây tác động tích cực cho nền kinh tế, cụ thể là: Mặt
bằng lãi suất cho vay đối với nền kinh tế giảm nhanh, từ 18,2% năm 2011 xuống
15,4% năm 2012 và 10,5% trong 6 tháng đầu năm 2013; Đẩy lùi tình trạng đô la hóa
nền kinh tế, tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán giảm từ 18% cuối
năm từ cuối năm 2011 xuống còn 12% năm 2012, tỷ giá được duy trì ổn định từ năm
2011, dự trữ ngoại hối nhà nước đã được cải thiện đáng kể; Nhờ giám sát và xử lý
cương quyết những trường hợp vi phạm trần lãi suất huy động, đồng thời với các biện
pháp hỗ trợ thanh khoản cho các NHTM yếu kém, tình trạng một số NHTM phải vay
mượn lẫn nhau với lãi suất rất cao trên thị trường liên ngân hàng đã được khắc phục;
Giảm nhanh lãi suất cho vay, giúp doanh nghiệp tiết giảm chi phí sản xuất, đồng thời
ngăn chặn được nguy cơ tái lạm phát.
• Năm 2014
Lãi suất huy động bằng VND phổ biến ở mức 0,8-1%/năm đối với tiền gửi
không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 5-6%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn 1 tháng
và có kỳ hạn dưới 6 tháng; 6-7,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới
12 tháng, kỳ hạn trên 12 tháng 7,5-8,1%/năm. Lãi suất cho vay bằng VND đối với lĩnh
vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ,
doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở mức 7-8%/năm; lãi suất cho vay các lĩnh vực
sản xuất kinh doanh thông thường ở mức khoảng 9-10%/năm đối với ngắn hạn; 10,5-
12%/năm đối với trung và dài hạn. Một số NHTM tiếp tục áp dụng lãi suất cho vay đối
25
SV: Nguyễn Thị Tuyến – K47F2