TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
BỘ MÔN QUẢN TRỊ BẢO HIỂM XÃ HỘI I
TIỂU LUẬN
Thực trạng quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn Tỉnh
Thanh Hóa giai đoạn 2010-2014
Họ và tên sinh viên:Nguyễn Xuân Đồng
Lớp: Đ8BH1
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Mai Thị Hường
HÀ NỘI, 5 – 2015
DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Tên viết tắt Tên đầy đủ
BHXH Bảo Hiểm Xã Hội
NLD Người Lao Động
NSDLD Người Sử Dụng Lao Động
BHXHBB Bảo Hiêm Xã Hội Bắt Buộc
MỤC LỤC
CHƯƠNG I
MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH VÀ QUẢN LÝ ĐỐI TƯỢNG
THAM GIA BHXH BẮT BUỘC
I. Khái niệm
1.Khái niệm BHXH
2.Khái niệm quản trị
3. Khái niệm quản trị BHXH
II. Vai trò của bảo hiểm xã hội
1.Đối với người lao động
2. Đối với người sử dụng lao động
3.Đối với xã hội
III. Một số vấn đề về quản lý đối tượng tham gia BHXHBB
1. Đối tượng và phạm vi quản lý
2. Nội dung quản lý đối tượng tham gia BHXHBB
3. Vai trò của quản lý đối tượng tham gia BHXHBB
nhập. Thu nhập của người lao động luôn luôn là vấn đề được xã hội quan tâm
chú ý bởi ý nghĩa kinh tế và xã hội to lớn của nó. Chính vì vậy, BHXH đã ra đời
để bảo vệ cuộc sống cho người lao động.
Hiện nay, trong hầu hết các quốc gia, bảo hiểm xã hội được coi là bộ phận
chính cấu thành hệ thống an sinh xã hội, là chính sách quan trọng của mỗi nước
và ở nước ta cũng vậy. Trải qua hơn 40 năm thực hiện, sửa đổi và bổ sung
cho phù hợp với từng giai đoạn, chính sách BHXH đã góp phần rất to lớn trong
việc đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần
ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Đến nay, BHXH Việt Nam đã được thực
hiện cho công chức Nhà nước, lực lượng vũ trang và người lao động trong các
thành phần kinh tế ở những nơi có quan hệ lao động, và sẽ còn tiếp tục mở
rộng cho nhiều đối tượng khác.
BHXH cấp tỉnh là một bộ phận quan trọng trong hệ thống quản lý BHXH
Việt Nam, là cơ sở đầu tiên để thực hiện công tác BHXH. Thực hiện tốt hoạt
động ở BHXH cấp tỉnh thì mới đảm bảo cho việc thực hiện của cả hệ thống.
BHXH tỉnh Thanh Hóa là đơn vị trực thuộc sự quản lý của BHXH Việt Nam.
Cơ quan BHXH Tỉnh Thanh Hóa được thành lập và bắt đầu hoạt động từ năm
1996 cho đến nay đã thu được nhiều thành tựu như: phí thu được ngày càng
nhiều, chi trả đúng đối tượng,… Tuy nhiên trong quá trình hoạt động vẫn còn
nhiều hạn chế như thu BHXH vẫn chưa đạt kết quả cao, nhiều đơn vị không
tham gia BHXH cho NLĐ hay tham gia không đủ số lượng lao động… Điều này
đã làm cho hoạt động của BHXH kém hiệu quả và còn phải nhờ vào Ngân sách
Nhà nước. Như vậy vấn đề quản lý tốt đối tượng tham gia có ý nghĩa rất quan
trọng đối với sự phát triển của BHXH Việt Nam nói chung và BHXH tỉnh nói
riêng trong cả nước, trong đó có BHXH Tỉnh Thanh Hóa. Do vậy mà em đã
chọn đề tài: “Thực trạng quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc trên địa
bàn Tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010-2014” để xem xét và đánh giá kết quả của
việc quản lý đối tượng tham gia BHXHBB trong những năm qua, cũng như
những vấn đề còn tồn tại, tìm hiểu nguyên nhân của những tồn tại đó, để từ đó
đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý đối tượng tham gia
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết … trên
cơ sở đóng góp và sử dụng một quỹ tài chính tập trung, nhằm đảm bảo ổn định
đời sống cho họ và an toàn xã hội.
2.Khái niệm quản trị
-Nếu coi quản trị là một quá trình thì nó bao gồm việc hoạch định, tổ chức
thực hiện và kiểm tra, giám sát nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức.
- Nếu coi quản trị là một hoạt động thì nó là những hoạt động cần thiết được
thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong một tổ chức, trong một môi
trường luôn biến động nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức.
3. Khái niệm quản trị BHXH
- Nếu coi quản trị BHXH là một quá trình thì nó bao gồm việc hoạch định, tổ
chức thực hiện và kiểm tra, giám sát nhằm đạt được mục tiêu chung của BHXH
và chính sách BHXH đó là đảm bảo quyền và lợi ích cho NLĐ.
- Nếu coi quản trị BHXH là một hoạt động thì nó bao gồm những hoạt động
cần thiết được thực hiện như: quản lý đối tượng tham gia, đối tượng thụ hưởng
BHXH, việc thu chi, quản lý đầu tư, kiểm tra, giám sát, ứng dụng công nghệ
thông tin, cải cách hành chính,… nhằm mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích của
NLĐ
II. Vai trò của bảo hiểm xã hội
1.Đối với người lao động
Mục đích chủ yếu của BHXH là bảo đảm thu nhập cho NLĐ và gia đình họ
khi gặp những khó khăn trong cuộc sống làm giảm hoặc mất thu nhập. VÌ vậy,
BHXH có vai trò rất to lớn đối với NLĐ, đó là điều kiện cho NLĐ được cộng
đồng tương trợ khi ốm đau, tai nạn, thai sản,… Đồng thời, BHXH cũng là cơ hội
để mỗi người thực hiện trách nhiệm tương trợ cho những khó khăn của các
thành viên khác.
Tham gia BHXH còn giúp NLĐ nâng cao hiệu quả trong chi tiêu cá nhân,
giúp họ tiết kiệm những khoản nhỏ, đều đặn để có nguồn dự phòng cần thiết chi
dùng khi già cả, mất sức lao động… góp phần ổn định cuộc sống cho bản thân
và gia đình. Nhờ có BHXH, thu nhập của NLĐ được đảm bảo ổn định ở mức độ
+ Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên và
hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
+ Người lao động, xã viên, kể cả cán bộ quản lý làm việc và hưởng tiền công
theo hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên trong hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác
xã thành lập, hoạt động theo Luật hợp tác xã
+ Công nhân quốc phòng, công nhân công an làm việc trong các doanh
nghiệp thuộc lực lượng vũ trang
+ Sỹ quan, quân nhân, công an nhân dân
+ NLĐ theo quy định nói trên được cử đi học, thực tập, công tác trong và
ngoài nước mà vẫn hưởng tiền lương hoặc tiền công ở trong nước
+ NLĐ đã tham gia BHXHBB mà chưa nhận BHXH một lần trước khi đi làm
việc có thời hạn ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về NLĐ Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, bao gồm:
Hợp đồng với tổ chức sự nghiệp, doanh nghiệp được phép hoạt động dịch
vụ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài, doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc ở
nước ngoài dưới hình thức thực tập, nâng cao tay nghề và doanh nghiệp đầu tư
ra nước ngoài có đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài.
Hợp đồng với doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu, nhận thầu công trình ở
nước ngoài.
Hợp đồng cá nhân
* NSDLĐ tham gia BHXHBB
- NSDLĐ tham gia BHXHBB, bao gồm:
+ Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo luật Doanh nghiệp;
+ Các công ty Nhà nước thành lập theo Luật Doanh nghiệp nhà nước đang
trong thời gian chuyển đổi thành Công ty Trách nhiệm hữu hạn hoặc Công ty Cổ
phần theo Luật Doanh nghiệp;
+ Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước;
+ Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề
nghiệp, tổ chức xã hội khác’
+ Tổ chức, đơn vị hoạt động theo quy định của pháp luật;
luật về BHXH.
- Tổ chức thu BHXH.
3. Vai trò của quản lý đối tượng tham gia BHXHBB
- Làm cơ sở cho việc tổ chức hoạt động thu BHXH đúng đối tượng, đủ số
lượng theo đúng quy định của pháp luật về BHXH và đúng thời gian quy định.
- Là điều kiện bảo đảm thực hiện quyền tham gia BHXH của NLĐ, của đơn
vị SDLĐ và của công dân theo quy định của pháp luật về BHXH.
- Góp phần khai thác triệt để đối tượng tham gia BHXH nhằm thực hịên mục
tiêu mở rộng phạm vi “che phủ” của BHXH, tiến tới thực hiện BHXH cho mọi
người vì sự an sinh và công bằng xã hội theo chủ trương của Nhà nước.
- Làm cơ sở giải quyết quyền lợi hưởng BHXH cho các đối tượng tham gia
theo đúng quy định của pháp luật về BHXH.
- Góp phần tích cực vào việc phòng ngừa, hạn chế những hành vi vi phạm
pháp luật về BHXH của tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình thực hiện
pháp luật về BHXH.
4. Công cụ quản lý đối tượng tham gia BHXHBB
- Cơ sở pháp lý:
+ Hệ thống pháp luật là công cụ cơ bản và quan trọng để thực hiện việc quản
lý đối tượng tham gia BHXH.
+ Hệ thống pháp luật bao gồm: pháp luật về lao động, pháp luật về BHXH và
các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan, như: Luật Doanh nghiệp, Luật
Đầu tư, Luật HTX,…
- Thông qua hệ thống tổ chức bộ máy BHXH và các nhà quản trị BHXH làm
việc trong từng cấp quản trị của hệ thống tổ chức BHXH từ Trung ương đến địa
phương.
- Hồ sơ tham gia và thủ tục thực hiện: là những quy định về các loại văn bản,
giấy tờ cần thiết và các thủ tục hành chính mà đối tượng tham gia BHXH phải
thực hiện. Trong đó, quy định rõ hồ sơ và thủ tục thực hiện đối với cá nhân
người tham gia và hồ sơ tham gia đối với các đơn vị SDLĐ. Đây là một trong
những công cụ không thể thiếu đối với bất kỳ một hệ thống BHXH nào.
dân tộc ít người sống chủ yếu ở các huyện vùng núi cao và biên giới. Dân số
trong độ tuổi lao động có khoảng 2,16 triệu người, chiếm tỷ lệ 58,8% dân số
toàn tỉnh. Nguồn lao động của Thanh Hoá tương đối trẻ, có trình độ văn hoá
khá. Lực lượng lao động đã qua đào tạo chiếm 27%, trong đó lao động có trình
độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm 5,4%.
2.BHXH tỉnh Thanh Hóa
BHXH tỉnh Thanh Hoá được thành lập theo QĐ số 137/QĐ – TCCB ngày
15/06/1995 và bổ sung thêm chức năng, nhiệm vụ thực hiện chế độ BHXH,
BHYT theo QĐ 1620/QĐ – TCCB; Quyết định 195/QĐ – TCCB ngày
17/12/2002 của Tổng Giám Đốc BHXH Việt Nam. Hệ thống tổ chức, bộ máy
của BHXH tỉnh Thanh Hóa hiện nay, bao gồm 36 đơn vị trực thuộc, ở văn
phòng tỉnh gồm 9 phòng chức năng, nghiệp vụ và 27 cơ quan BHXH huyện, thị
xã, thành phố.
Các phòng ban chức năng, nghiệp vụ của BHXH tỉnh Thanh Hóa bao
gồm:- Phòng bảo hiểm tự nguyện- Phòng công nghệ thông tin- Phòng chế độ
chính sách- Phòng giám định chi- Phòng kiểm tra- Phòng kế hoạch tài chính-
Phòng quản lý hồ sơ- Phòng tổ chức hành chính & Phòng thu.
II. Thực trạng công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc tại
Tỉnh Thanh Hóa
1.Tình hình thực hiện quản lý đối tượng tham gia tại BHXH tỉnh Thanh Hóa
giai đoạn 2010-2014
Quản lý danh sách đối tượng tham gia là một trong những vấn đề mấu trong
quản lý đối tượng tham gia BHXH. Xác định được điều này, trong những năm
qua, BHXH tỉnh Thanh Hóa đã tập trung thực hiện có hiệu quả nhiều biện pháp
như: chủ động phối hợp với các ban, ngành chức năng kịp thời xử lý các vướng
mắc ở cơ sở, tạo điều kiện để các đơn vị sử dụng lao động tham gia thực hiện tốt
chế độ, chính sách BHXH cho người lao động. Đẩy mạnh công tác thông tin,
tuyên truyền chế độ, chính sách BHXH theo cơ chế mới. Nhờ đó đã thu được
những kết quả khả quan.
Về danh sách đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
Nhà Nước
28.869 20.550 18.360 17.112 15.946
Xã, phường. 10.784 10.876 11.237 11.566 11.905
Ngoài Công Lập 5.340 6.333 7.758 8.111 8.481
Doanh Nghiệp Nhà
Nước Ngoài QDoanh
19.510 27.736 32.706 39.434 48.546
Doanh Nghiệp FDI 758 818 1.245 1.467 1.890
Hợp Tác Xã 1.635 2.304 2.656 3.121 3.667
Hộ Sản Xuất Kinh
Doanh
405 764 991 11.283 20.397
(Nguồ
n: BHXH tỉnh Thanh Hóa, Báo cáo tổng kết công tác BHXH các năm từ 2010-
2014)
Qua bảng số liệu ở trên, ta có thể thấy: số đối tượng trong danh sách quản
lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc ở Thanh Hóa liên tục tăng qua các năm
( trong đó, số lao động tăng 49.337 người, tốc độ tăng là 1,39 lần; số đơn vị sử
dụng lao động tăng 1.623 đơn vị, tốc độ tăng là 1,403 lần ), nhờ các biện pháp
tăng cường công tác quản lý đối tượng tham gia mà BHXH tỉnh Thanh Hóa đã
thực hiện. Cơ cấu các loại hình tham gia BHXH thay đổi: doanh nghiệp ngoài
quốc doanh tăng mạnh cả về số đơn vị và lao động, trong khi đó doanh nghiệp
nhà nước giảm dần và khu vực hành chính sự nghiệp, đảng đoàn thể nhìn chung
ổn định, tuy có tăng, nhưng không đáng kể. Nguyên nhân chủ yếu là các doanh
nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả, quy mô sản xuất giảm, nhiều doanh
nghiệp phá sản. Đối với lực lượng lao động khu vực hành chính sự nghiệp
không giảm điều đó cho thấy việc thực hiện cải cách hành chính công còn hạn
chế chưa phản ánh đúng chủ trương của Đảng, Nhà nước về tinh giảm biên chế,
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước.
2.Quản lý tiền lương đóng BHXH
2012
Năm
2013
Năm
2014
HCSN 806.750 1.120.470 1.372.993 1.454.231 1.540.276
Doanh Nghiệp
Nhà Nước
298.529 290.422 291.768 292.123 292.478
Khu vực ngoài
NN
213.576 389.330 529.025 613.475 711.406
Trong đó:
-Doanh
Nghiệp FDI
22.328 26.686 29.640 30.867 32.145
-Doanh
Nghiệp Nhà
Nước Ngoài
QDoanh
152.923 301.530 415.176 478.142 550.657
-Hợp Tác Xã 6.087 10.423 14.690 18.789 24.032
-Ngoài Công
Lập
30.954 46.395 63.736 77.145 93.375
-Hộ Sản Xuất
Kinh Doanh
1.284 4.296 5.783 8.532 11.197
( Nguồn: BHXH tỉnh Thanh Hóa, Báo cáo tổng kết công tác BHXH các năm từ
cho các đơn vị SDLĐ trong việc khai giảm số lao động đang làm việc tại doanh
nghiệp, khai giảm quỹ tiền lương của doanh nghiệp, gây ảnh hưởng không nhỏ
đến việc quản lý đối tượng tham gia và quản lý quỹ lương.
Thứ hai,việc cấp và quản lý sổ BHXH vẫn còn nhiều bất cập. Tình trạng các
cán bộ, nhân viên cơ quan BHXH không kịp thời ghi các thông tin mới phát sinh
vào sổ BHXH cho NLĐ diễn ra khá phổ biến. Việc quản lý sổ BHXH cũng chưa
thực sự hiệu quả, tình trạng thất lạc sổ của người tham gia BHXH vẫn còn tồn
tại, gây khó khăn cho công tác giải quyết chế độ sau này
Chương III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN
CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BHXH BẮT
BUỘC Ở TỈNH THANH HÓA
I.Các giải pháp đối với BHXH tỉnh Thanh Hóa nhằm hoàn thiện công
tác quản lý đối tượng tham gia
Dựa trên những tồn tại và hạn chế trong công tác quản lý thu BHXH tỉnh Thanh
Hóa chúng ta có thể đưa ra một số giải pháp như sau:
1.1.Về cán bộ quản lý thu
Việc cần làm trước tiên là nâng cao trình độ tin học và trình độ quản lý cho
các cán bộ trong cơ quan BHXH tỉnh nói chung và bộ phận quản lý đối tượng
tham gia BHXH nói riêng. Số lượng lao động và đơn vị SDLĐ tham gia BHXH
lớn và tăng liên tục qua các năm đòi hỏi một kỹ năng quản lý cao. Do đó, nếu
trình độ quản lý của cán bộ được nâng cao thì tình trạng nhầm lẫn về sổ sách
cũng như danh sách các đối tượng tham gia BHXH như hiện nay sẽ được giải
quyết.
1.2. Về máy móc thiết bị, công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin và việc xây dựng cơ sở dữ liệu để ứng dụng tin học
cần phải được thực hiện đồng bộ giữa các bộ phận trong cơ quan BHXH. Hiện
nay lĩnh vực quản lý đối tượng tham gia BHXH vẫn chưa ứng dụng được công
nghệ tin học, việc kết nối mạng Internet toàn ngành cũng mới chỉ nằm trên dự
thảo. Trong khi đây lại là những lĩnh vực rất cần sự có mặt của công nghệ thông
tin.
hoặc giảm tỷ lệ nợ đọng trốn đóng nộp tiền BHXH… thì cần được các cấp uỷ
Đảng chính quyền đưa vào nghị quyết, được cụ thể hoá vào nội dung nhiệm vụ
cùng với phương hướng sản xuất kinh doanh tại đơn vị, đồng thời tạo mọi điều
kiện để công tác thu BHXH được tiến hành một cách thuận tiện, trước hết mỗi
cán bộ Đảng viên phải gương mẫu thực hiện chính sách, chế độ BHXH.
c. Xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với các ngành, đặc biệt là sự lãnh đạo, chỉ
đạo của BHXH cấp trên, của cấp uỷ và chính quyền địa phương
Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, ngành sẽ giúp cơ quan BHXH thực
hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình. Hàng tháng phải báo cáo kịp thời tình
hình thực hiện công tác BHXH cho cấp uỷ và chính quyền địa phương để tranh
thủ sự chỉ đạo, lãnh đạo. Việc phối hợp hoạt động với cơ quan quản lý hành
chính địa phương sẽ giúp cơ quan BHXH quận thu được những thông tin chính
xác, đầy đủ về số lao động và số đơn vị đang hoạt động trên địa bàn quận. Đối
với những đơn vị nợ đọng có thể thông qua cấp uỷ và công đoàn của các đơn vị
quản lý trực tiếp để đôn đốc nhắc nhở thường xuyên.
d. Kiện toàn cơ cấu tổ chức thực hiện
Việc quản lý đối tượng tham gia BHXH muốn đạt hiệu quả cao thì phải thực
hiện tốt ở mọi mặt. Cụ thể như sau:
- Phải bố trí, phân công cán bộ có trình độ chuyên môn và sức khỏe phù hợp
để quản lý tốt từng bộ phận.
- Lập kế hoạch, chương trình làm việc cụ thể của từng bộ phận chuyên môn.
Đề ra mục tiêu phấn đấu cho từng giai đoạn.
- Khi phát hiện có vi phạm: nợ đọng, trốn đóng,… thì cơ quan BHXH phải
kịp thời báo cáo và kết hợp với các cơ quan ban ngành có thẩm quyền để xử lý.
- Cần có sự phối hợp giữa các ban, ngành với cơ quan BHXH nhằm kiểm tra
những thay đổi của các đơn vị tham gia BHXHBB, giúp cơ quan BHXH thực
hiện tốt công tác quản lý đối tượng đó là: xác định đúng, đủ số lượng lao động
tham gia BHXH, tránh tình trạng trốn đóng, đóng không đủ số lượng lao động
hay đóng không đúng mức quy định, gây thiệt thòi cho NLĐ.
e. Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về BHXH
hiện chính sách đó, đặc biệt là phương thức thu nhằm nâng cao hơn nữa hiệu
quả của công tác thu nộp.
g. Ứng dụng CNTT vào công tác quản lý
Ngày nay số lượng đối tượng tham gia BHXH ngày một được mở rộng, số
tiền thu đóng góp ngày một lớn. Mặt khác, đội ngũ cán bộ công chức của cơ
quan chuyên thu BHXH thì lại có hạn, chính vì thế mà việc ứng dụng CNTT vào
công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH là hết sức cần thiết.
Hơn nữa, hiện nay vấn đề công nghệ thông tin đang được áp dụng mạnh mẽ
vào công tác quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh trên các lĩnh vực kinh tế
xã hội trong đời sống kinh tế thị trường. Mặc dù hiện nay cơ quan BHXH VN đã
đưa hệ thống tin học vào hoạt động nhưng trình độ về tin học của đội ngũ cán bộ
thì lại còn hạn chế chưa khai thác hết khả năng để áp dụng vào quản lý thu quỹ
BHXH từ người tham gia BHXH. Chính vì vậy mà ngành BHXH VN cần có
những chủ trương kế hoạch để mở lớp đào tạo về tin học cho các cán bộ chuyên
trách nhằm nâng cao kĩ năng sử dụng tin học…
h. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát
Hàng năm cơ quan BHXH cần phải có kế hoạch thanh tra, kiểm tra xem xét
đối chiếu danh sách lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc có được
NSDLĐ đăng kí để đóng góp BHXH hay không và sự thay đổi số lượng người
lao động tham gia BHXH ở các cơ quan đơn vị có sử dụng lao động. Và qua
khảo sát thực tế cơ quan BHXH Việt nam sẽ có thêm được thông tin cũng như
nhu cầu của người tham gia BHXH. Từ đó tạo lên sự gần gũi và làm cho người
lao động hiểu thêm về chính sách BHXH mà họ đang xây dựng cho tương lai.
2. Một số kiến nghị
a. Đối với cơ quan Nhà nước
- Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy về BHXH để chính sách BHXH
được thực hiện đến mọi người dân. Hơn nữa khi Luật BHXH được hoàn thiện
theo một hệ thống sẽ là cơ sở pháp lý và là căn cứ cơ bản đầu tiên để điều chỉnh
các quan hệ về lao động.
- Việc ban hành Luật BHXH phải quán triệt một số nguyên tắc nhất định
Tránh gây khó khăn cho các đối tượng khi tham gia.
- Đẩy mạnh cải cách hành chính trong toàn ngành, nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ công chức, viên chức nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra. Chú
trọng về phẩm chất đạo đức, ý thức trách niệm, chuyển đổi tác phong làm việc
để mỗi cán bộ có thái độ phục vụ tốt nhất.
- Cơ quan BHXH Việt Nam nên thiết lập đường dây nóng để NLĐ, NSDLĐ
có thể chủ động thông báo những thông tin cần thiết cho cơ quan BHXH góp
phần làm cho cơ quan BHXH nắm bắt kịp thời thông tin về đối tượng tham gia,
tình hình hoạt động của đơn vị cũng như tâm tư, nguyện vọng và nhu cầu của
người tham gia BHXH. Bên cạnh đó, cơ quan BHXH cũng có thể giải đáp
những yêu cầu, thắc mắc từ phía người tham gia làm cho họ hiểu rõ hơn về
BHXH.
- Cơ quan BHXH Việt Nam nên chủ động tăng cường công tác thanh tra,
kiểm tra, xem xét đối chiếu danh sách lao động có đúng thực tế hay không và xử
lý nghiêm minh các trường vi phạm pháp luật về BHXH.
KẾT LUẬN
Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, đã và đang
phát huy vai trò hết sức to lớn đối với người lao động, góp phần ổn định đời
sống của hàng triệu người lao động và gia đình họ khi gặp phải những trường
hợp ốm đau, bệnh tật, khó khăn trong cuộc sống.
Ngày nay chính sách BHXH ngày càng được mở rộng, đối tượng tham gia
BHXH ngày càng nhiều. Điều đó có ý nghĩa rất lớn với người lao động Việt
Nam nói chung và Tỉnh Thanh Hóa nói riêng. Thực hiện tốt chính sách BHXH
là yếu tố quan trọng góp phần đảm bảo sự công bằng các thành viên trong xã
hội, giữa các cơ quan, doanh nghiệp, các thành phần kinh tế khác nhau