ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác phòng chống - Pdf 27

Khoá luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ với những thành tựu kỳ diệu
của nó đang tác động mạnh mẽ tới mọi hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội trên thế
giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của tin
học và vai trò ngày càng nổi trội của thông tin sau cuộc cách mạng về quản lý, từ hai
thập kỷ nay thế giới đã bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của Công nghệ
thông tin. Công nghệ thông tin đã và đang từng bước đi vào tất cả các lĩnh vực, chiếm
một vị trí quan trọng trong xã hội. Cùng phát triển với khoa học công nghệ, hoạt động
quản lý đang có nhiều đổi mới theo xu thế hiện đại hoá đáp ứng những yêu cầu ngày
càng cao của xu thế hội nhập và phát triển kinh tế. Công nghệ thông tin càng ngày
càng phát triển, càng có nhiều phát minh sáng chế được ứng dụng vào đời sống xã hội
nhằm giải phóng sức lao động, làm phong phú thêm đời sống vật chất, tinh thần của
con người.
Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp là một đơn vị thuộc Bộ nông nghiệp và
phát triển nông thôn có địa bàn hoạt động rộng khắp cả nước, vì vậy việc ứng dụng
công nghệ thông tin trong quản lý là thực sự cần thiết.
Xuất phát từ thực tiễn của tình hình thực hiện công tác văn phòng của Viện quy
hoạch và thiết kế nông nghiệp, em đã mạnh dạn chọn đề tài “Ứng dụng công nghệ
thông tin trong công tác văn phòng của Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp”
làm khoá luận tốt nghiệp của mình. Trọng tâm của khoá luận này nhằm đề cập đến
việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác văn phòng của Viện và một số kiến
nghị nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tổ chức
quản lý.
Ngoài lời mở đầu và phần kết luận, nội dung khoá luận gồm 3 phần chính:
Chương I: Nhận thức chung về văn phòng và công nghệ thông tin trong
công tác văn phòng.
Nguyễn Thanh Hà - 846018
1
Khoá luận tốt nghiệp
Chương II: Khái quát về tổ chức hoạt động của Viện quy hoạch và thiết kế

đơn vị đủ để thực hiện mục tiêu của tổ chức.
Ngoài ra, tác giả cuốn sách “ Quản trị hành chính Văn phũng”- Nguyễn Hữu
Thân cho rằng : “Văn phòng là nơi diễn ra các hoạt động kiểm soát, nghĩa là nơi soạn
thảo, sử dụng và tổ chức hồ sơ, công văn, giấy tờ nhằm mục đích thông tin sao cho có
hiệu quả”.
Nhắc đến văn phòng, không thể không nói đến công tác văn phòng. Công tác văn
phòng là một thuật ngữ có liên quan đến nhiều nội dung hoạt động của một tổ chức.
Nếu xem xét công tác này theo quan điểm hệ thống thì ở đầu vào bao gồm các hoạt
động trợ giúp lãnh đạo tổ chức, quản lý, sử dụng toàn bộ hoạt động thông tin kinh tế,
chính trị, xã hội, hành chính, môi trường…theo các phương án sử dụng khác nhau
nhằm thu được kết quả tối ưu trong hoạt động của đơn vị. Còn ở đầu ra, là những hoạt
động phân phối, truyền tải, thu và xử lí thông tin phản hồi trong nội bộ và bên ngoài
đơn vị theo yêu cầu của lãnh đạo. Toàn bộ hoạt động trên đây sẽ góp phần hoàn thiện
từng bước công tác tổ chức điều hành thông tin trong đơn vị, hay nói cách khác là
Nguyễn Thanh Hà - 846018
3
Khoá luận tốt nghiệp
không ngừng củng cố hoạt động văn phòng trong mỗi cơ quan, đơn vị. Để công tác
văn phòng đạt kết quả tốt cần phải có những điều kiện cơ bản sau:
- Phải có một bộ máy văn phòng được tổ chức thích hợp. ở các cơ quan, đơn vị
có quy mô lớn bộ máy văn phòng có thể gồm đầy đủ cỏc phũng, cỏc bộ phận với số
lượng nhân sự cần thiết để thực thi mọi hoạt động văn phòng một cách độc lập, có
liên quan đến nhiều đầu mối với các tính chất khác nhau. Đối với các đơn vị có quy
mô nhỏ và các hoạt động mang tính thuần nhất, đơn lẻ bộ máy văn phòng có thể gọn
nhẹ ở mức tối thiểu, đồng thời còn kiêm nhiệm các chức năng quản trị nhân sự, vật tư,
tài chớnh…
- Phải có địa điểm hoạt động, giao dịch với những cơ sở hạ tầng nhất định như
nhà cửa, phương tiện, thiết bị…Vị trí, quy mô của các yếu tố vật chất nêu trên cũng sẽ
phụ thuộc vào đặc tính tổ chức quản lí, vào quy mô hoạt động của công tác văn
phòng.

các yếu tố khách quan như những ý kiến tham gia của các cấp quản lý, của những
người trợ giúp. Những ý kiến đó được văn phòng tập hợp, chọn lọc để đưa ra những
kết luận chung nhất nhằm cung cấp cho lãnh đạo những thông tin, những phương án
phán quyết kịp thời và đúng đắn. Hoạt động này rất cần thiết và luôn tỏ ra hữu hiệu vỡ
nú vừa mang tính tham vấn (ít bị sức Ðp, gò bó) và tớnh chuyờn sõu trong các trường
hợp trợ giúp lãnh đạo (tiếp xúc với nhiều vấn đề nảy sinh trong thực tế). Chức năng
này được gọi là chức năng tham mưu cho các nhà lãnh đạo, quản lý đơn vị của công
tác văn phòng.
2.1.2. Chức năng tổng hợp.
Kết quả tham vấn trên đây phải xuất phát từ những thông tin ở cả đầu vào, đầu ra
và thông tin ngược trên mọi lĩnh vực, của mọi đối tượng mà văn phòng là đầu mối thu
thập, phân tích, quản lý và sử dụng theo yêu cầu của người lãnh đạo, quản lý. Quá
trình thu thập, quản lý, sử dụng thông tin phải tuân theo những nguyên tắc, trình tự
nhất định, mới có thể mang lại hiệu quả thiết thực. Hoạt động như trên thuộc về chức
Nguyễn Thanh Hà - 846018
5
Khoá luận tốt nghiệp
năng tổng hợp của công tác văn phòng. Chức năng này không chỉ có tác dụng thiết
thực đến chức năng tham mưu của văn phòng mà cũn cú vai trò quan trọng đối với sự
thành công hay thất bại của cơ quan, đơn vị (lợi thế của thông tin). Chớnh vỡ ý nghĩa
to lớn của chức năng này nờn cỏc tổ chức, đơn vị luôn quan tâm củng cố và hiện đại
hoá công tác văn phòng cho kịp với tốc độ phát triển của thời đại.
2.1.3. Chức năng hậu cần .
Hoạt động của cơ quan, đơn vị không thể thiếu các điều kiện vật chất như nhà
cửa, phương tiện, thiết bị, công cụ, tài chính v.v… Những cái đó thuộc về hoạt động
hậu cần mà văn phòng phải cung ứng đầy đủ, kịp thời cho mọi quá trình, mọi lúc, mọi
nơi.
Các chức năng trên vừa độc lập, vừa hỗ trợ bổ sung cho nhau nhằm khẳng định
sự cần thiết khách quan tồn tại cơ quan văn phòng ở mỗi đơn vị, tổ chức. Trong đó
chức năng tổng hợp là cực kỳ quan trọng, quyết định đến sự thành bại của công tác

tin giúp cho lãnh đạo ra quyết định. Thông tin rất đa dạng và phong phú, có thông tin
xuôi, thông tin phản hồi, thông tin thực tế, thông tin dự bỏo… người lãnh đạo không
thể tự thu thập, xử lý thông tin được mà cần phải có người trợ giúp, đó là văn phòng.
Mọi thông tin đều được qua văn phòng xử lý, phân loại theo cỏc kờnh thích hợp để
chuyển tải hay lưu trữ. Một quyết định đúng hay sai phụ thuộc vào sự tiếp nhận và xử
lý thông tin có chính xác, đầy đủ, kịp thời hay không. Đây là hoạt động quan trọng
liên quan đến sự thành bại trong hoạt động của tổ chức, vì vậy văn phòng phải tuân
theo những quy định nghiêm ngặt về văn thư lưu trữ khi thu thập và xử lý thông tin.
 Trợ giúp về văn bản.
Văn bản là một phương tiện lưu trữ và truyền đạt thông tin khá hữu hiệu, hiện
nay nhiều cơ quan, đơn vị sử dụng nó trong quản lý, điều hành hoạt động. Hiện nay ở
nước ta đó cú luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các phát
sinh liên quan đến văn bản của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Văn bản luật và
Nguyễn Thanh Hà - 846018
7
Khoá luận tốt nghiệp
pháp quy sẽ là căn cứ để các cơ quan, đơn vị ban hành những văn bản nội bộ như điều
lệ, nội quy, quy chế, các quyết định hành chính và quản lý thường nhật. Để ban hành
văn bản hợp pháp và hợp lý cần phải có bộ phận chuyên trách trợ giúp cho lãnh đạo.
Văn phòng sinh ra để đảm nhận nhiệm vụ này.
 Bảo đảm các yếu tố vật chất, tài chính cho hoạt động của cơ quan.
Muốn tồn tại và phát triển, các cơ quan, đơn vị cần phải có các yếu tố kỹ thuật và
vật chất cần thiết. Các yếu tố này vừa là nguyên liệu duy trì tổ chức tồn tại, vừa là vật
trung gian kết gắn tổ chức với môi trường, đồng thời còn là phương tiện truyền dẫn
các quá trình hoạt động của tổ chức đến mục tiêu kinh tế- xã hội. Các yếu tố đó bao
gồm nhà cửa, xe cộ, bàn ghế, trang thiết bị, các chi phí cần thiết mang tính thường
xuyên liên tục, vì vậy, văn phòng phải căn cứ vào tiến độ thực hiện công việc mà
cung cấp kịp thời, đầy đủ. Công việc này có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của
đơn vị.
 Củng cố tổ chức bộ máy văn phòng.

Trong thời kỳ “bựng nổ thông tin“ các cơ quan kinh tế, xã hội hay hành chính
đều rất quan tâm đến việc thu thập, phân tích và xử lý thông tin để có thể ra được
những quyết định sáng suốt, kịp thời mang lại hiệu quả cao cho đơn vị và cho xã hội.
Hiện nay, người ta cho rằng yếu tố quyết định đến việc thành bại của một tổ chức là
do họ có lợi thế về thông tin và họ coi thông tin có quan hệ sống còn với bất kỳ một tổ
chức, đơn vị nào. Chúng ta biết rằng hoạt động thông tin gắn liền với công tác văn
phòng, cho nên hoạt động văn phòng có vị trí đặc biệt quan trọng trong bất kỳ tổ chức
nào. Tuy nhiên, để tăng cường và phát huy được vai trò của công tác văn phòng đòi
hỏi lãnh đạo các cơ quan, đơn vị tổ chức chỉ đạo công tác này một cách khoa học.
II - công nghệ thông tin trong công tác văn phòng
1. Khái niệm và tác dụng của công nghệ thông tin.
1.1. Khái niệm
Nguyễn Thanh Hà - 846018
9
Khoá luận tốt nghiệp
Cuộc cách mạng Công nghệ thông tin diễn ra sôi động hiện nay đang tác động
sâu sắc và trực tiếp đến mọi hoạt động kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới,
mở ra một thời kỳ phát triển mới khi nhân loại bước vào thế kỷ XXI. Nội dung chủ
đạo của bước chuyển lần này là sự phát triển từ nền văn minh công nghiệp tiến lên
nền văn minh thông tin và trí tuệ, mà cơ sở của nó là sự phát triển từ nền kinh tế công
nghiệp truyền thống sang nền kinh tế tri thức. Về cơ bản, bước chuyển biến này được
nảy sinh và được thực hiện chủ yếu tại các nước có nền kinh tế công nghiệp phát
triển. Tuy nhiên, với xu thế “toàn cầu hoỏ” nhanh chóng hiện nay, tác động của bước
chuyển biến vĩ đại này đã lan toả nhanh chóng đến khắp các nước trên thế giới. Xu
thế này cũng tạo ra những cơ hội to lớn và đồng thời cũng tạo ra những thách thức
gay gắt cho các nước đang phát triển đang tìm đường công nghiệp hóa và hiện đại hoá
nền kinh tế và xã hội của mình.
Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện,
công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là máy tính điện tử và các mạng viễn thông -
nhằm cung cấp các giải pháp toàn thể để tổ chức, khai thác, sử dụng có hiệu quả các

khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, đã tạo nên hệ quả là rút ngắn chu kỳ đổi
mới công nghệ. Đây là nhân tố quan trọng hàng đầu trong cạnh tranh kinh tế và phát
triển xã hội.
- Cụng nghệ thụng tin đã làm thay đổi khái niệm về xử lý thông tin, khiến con
người phải công nhận rằng yếu tố vô hình như thông tin và khả năng sáng tạo mới
chính là nhân tố quyết định sức mạnh cạnh tranh của mỗi quốc gia trong khi nền kinh
tế công nghiệp các yếu tố như nguồn vốn, lao động, tài nguyên là những nhân tố
quyết định sự cạnh tranh.
- Công nghệ thông tin phát triển nhanh chóng hình thành mối quan hệ kinh tế
thương mại toàn cầu, đòi hỏi các nước phải mở cửa, gấp rút hội nhập thị trường thế
giới nếu không muốn tụt hậu so với các quốc gia khác.
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin cho phép con người có thể làm được những
việc mà mình mong muốn, từ đó phát triển nền kinh tế, nâng cao đời sống.
Nguyễn Thanh Hà - 846018
11
Khoá luận tốt nghiệp
2. Thành phần cơ bản của công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin bao gồm 3 thành phần cơ bản sau:
2.1. Thành phần máy tính
Máy tính điện tử là thành phần cơ bản của công nghệ thông tin. Theo cách hiểu
đơn giản, máy tính là thiết bị điện tử dùng để thu nhận, xử lý, lưu cất và hiển thị thông
tin. Máy tính có nhiều loại khác nhau, thông dụng nhất là máy vi tính để gọn trên bàn
làm việc, ngoài ra cũn cú cỏc loại lớn về kích thước và tính năng, ví dụ: máy mini
dùng để xử lý những công việc đồng thời, máy Super rất mạnh dùng để giải các bài
toán lớn và phức tạp. Máy tính cùng với các thiết bị đi kèm như màn hình, máy in,
thiết bị ngoại vi được gọi là phần cứng (Hardware). Nếu như phần cứng đứng riêng rẽ
thì sẽ không làm được gì cả mà nó cần phải có các chương trình hay còn gọi là phần
mềm đi kèm để điều khiển hoạt động của phần cứng (còn gọi là phần mềm hệ thống).
Ngoài ra một số yếu tố quan trọng của công nghệ thông tin là hệ thống (tổ chức, xã
hội) mà qua đó dòng thông tin chuyển vận từ cá nhân hoặc cơ quan này sang cơ quan

chế tạo ra các máy tính điện tử, người ta phải tìm được cách biểu diễn thông tin bằng
các tín hiệu kỹ thuật và thực hiện các hoạt động lưu trữ, chế biến thông tin bằng các
biện pháp xử lý kỹ thuật trờn cỏc tín hiệu tương ứng.
Máy tính điện tử và mọi thiết bị thông tin hiện đại đều làm việc với các thông tin
được biểu diễn bởi các dãy chữ số nhị phân (binary digits), tức là dóy cỏc tín hiệu 0;1.
Mọi dạng thông tin (số, chữ, tiếng nói, âm thanh, hình ảnh, màu sắc,…) đều có thể –
những cách làm rời rạc và mó khúa thích hợp – biểu diễn lại bằng cỏc dóy chữ số nhị
phân. Khả năng biểu diễn mọi thông tin bất kỳ một hệ thống tín hiệu đơn giản và
thống nhất bằng chữ số nhị phân là cơ sở cho việc phát triển nhanh chóng các thiết bị
kỹ thuật xử lý thông tin làm việc được với mọi dạng thông tin khác nhau.
Nguyễn Thanh Hà - 846018
13
Khoá luận tốt nghiệp
Máy tính điện tử được thiết kế trên nguyên tắc: mọi quá trình xử lý thông tin đều
có thể quy về một trình tự thực hiện liên tiếp các phép toán sơ cấp đơn giản. Vì vậy,
cấu trúc một máy tính điện tử gồm có: bé logic – số học thực hiện các phép toán sơ
cấp; bộ điều khiển để chỉ huy việc thực hiện các phép toán theo chương trình tự quy
định; bộ nhí để ghi các chương trình tính toán và dữ liệu; các thiết bị đưa vào (chuột,
bàn phím, đĩa mềm…) và đưa kết quả ra (màn hình, máy in, đĩa mềm…). Cấu trúc
đó tạo thành phần cứng của máy tính điện tử, sẵn sàng tổ chức thực hiện các trình tự
tính toán được quy định bởi các chương trình bất kỳ. Tuỳ theo từng bài toán cụ thể,
người ta viết một chương trình để giải nó trong một ngôn ngữ máy tính nào đó và
chương trình được đưa vào máy tính để máy thực hiện. Các chương trình làm thành
phần mềm của máy tính điện tử. Tuỳ theo tính chất và phạm vi tác động của các loại
chương trình mà ta có: phần mềm hệ thống, phần mềm tiện Ých và phần mềm ứng
dụng.
Máy tính điện tử là thành phần cơ bản của công nghệ thông tin. Tuy nhiên, theo
nghĩa rộng thường dùng hiện nay, công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp
khoa học, các phương tiện, công cụ kỹ thuật hiện đại – chủ yếu là máy tính điện tử và
các mạng viễn thông – nhằm cung cấp các giải pháp toàn thể để tổ chức, khai thác, sử

 Từ cách truyền thông dải rộng kiểu lối đi trong vườn sang cỏc siờu lộ cao
tốc thông tin.
 Từ các đầu cuối truy nhập thụ động đến các đầu cuối thông minh với các
ứng dụng thông tin chủ động.
 Từ các dạng thông tin riêng rẽ (số liệu, văn bản, tiếng nói, hình ảnh) đến
kỹ thuật đa phương tiện (multimedia)
 Từ các hệ dựng riờng đến các hệ thống mở.
 Từ các mạng “cõm lặng” đến các hệ thống mở.
 Từ kiểu lập trình thủ công, mưu mẹo sang lập trình hướng đối tượng.
Nguyễn Thanh Hà - 846018
15
Khoá luận tốt nghiệp
 Từ giao diện người dùng đồ hoạ đang phổ biến hiện nay sẽ tiến đến giao
diện người dùng đa phương tiện, hướng đối tượng,….
Những sự chuyển dịch công nghệ này đang trong quá trình thực hiện và sẽ tạo ra
những khả năng mới với nhiều thuận lợi mới cho việc ứng dụng công nghệ thông tin
vào mọi lĩnh vực hoạt động của con người trong đó có hoạt động văn phòng.
4. Tác động của công nghệ thông tin tới sự phát triển của nền kinh tế xã hội.
Thông tin và tri thức luôn hiện hữu trong mọi hoạt động của đời sống kinh tế và
xã hội của con người ngay từ giai đoạn đầu của nền văn minh nông nghiệp. Thông tin
trong thời kỳ sơ khai của con người chỉ đơn thuần ở dạng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, rồi
phát triển đến tiếng nói, chữ viết. Thế nhưng, thông tin đã đóng vai trò vô cùng quan
trọng, vỡ khụng xã hội nào có thể tồn tại nếu không có thông tin, tức là sự trao đổi,
truyền tải thông tin. Xã hội càng phát triển, nhu cầu về thông tin và xử lý thông tin
ngày càng lớn, đòi hỏi phải được đáp ứng kịp thời. Sự ra đời của máy tính điện tử và
kỹ thuật tính toán đã đưa đến một cuộc cách mạng trong sản xuất nông nghiệp: tự
động hóa các thiết bị sản xuất và các dây chuyền sản xuất, tin học hoỏ cỏc hoạt động
quản lý, kinh doanh… Và đến khi công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi đã
thúc đẩy nhanh chóng các hoạt động thông tin trong mọi lĩnh vực, tạo ra ngày càng
nhiều giá trị gia tăng trong các khu vực kinh tế, làm cho thông tin trở thành nguồn tài

thập, tổng hợp phân tích, xử lý, ra quyết định chuyển tải thông tin của các cấp quản lý
đơn vị nhằm đạt mục tiêu nhất định.
Với chức năng và nhiệm vụ của công tác văn phòng, việc ứng dụng công nghệ
thông tin vào công tác văn phòng có ý nghĩa hết sức to lớn, góp phần nâng cao hiệu
quả hoạt động của văn phòng trong việc cung cấp thông tin cho lãnh đạo ra quyết
định. Nó được thể hiện qua một số đặc điểm sau:
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác văn phòng làm thay đổi
phương thức hoạt động của văn phòng từ thủ công sang sử dụng các phương tiện kỹ
thuật hiện đại là chủ yếu.
Nguyễn Thanh Hà - 846018
17
Khoá luận tốt nghiệp
- Thông qua mạng máy tính, thông tin được tiếp nhận và chuyển tải nhanh chóng
tới các bộ phận để phân tích, xử lý, thông tin đầu ra được truyền tới các bộ phận cần
thiết để thực hiện công việc. Hệ thống mạng còn cho phép mọi người chia sẻ thông
tin, tài nguyên mạng, dùng chung máy in, gửi và nhận thư điện tử…tiết kiệm thời gian
và tiền của, nâng cao hiệu quả công việc. Mạng máy tính còn tạo điều kiện làm việc
tại nhà, tiết kiệm chi phí đi lại cho con người mà vẫn đạt được hiệu quả cao như làm
việc tại văn phòng.
- Sù ra đời của “Văn phòng không giấy” là một tất yếu khách quan thay thế cho
văn phòng trước đây, hệ thống các ngăn tủ đựng hồ sơ được thay bằng hệ thống tủ,
khay hoặc bao lưu trữ hệ thống đĩa mềm và đĩa cứng trên trục quay… ngày càng hiện
đại.
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin đòi hỏi đội ngò cán bộ làm công tác văn
phòng phải tự bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ, trình độ tin học, ngoại
ngữ để có thể cập nhật thông tin một cách nhanh nhạy, chính xác trong xu thế toàn
cầu hoá hiện nay.
- Phong cách làm việc trong điều kiện hiện nay là làm việc theo nhóm, tổ chức
cơ quan rất uyển chuyển linh hoạt.
- Trong văn phòng hiện đại, vai trò của con người được đề cao, được phát huy

công tác văn phòng mà trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác. Sự phát triển
của các xa lé thông tin liên lạc đã thu hẹp khoảng cách giữa các quốc gia, giữa cỏc
vựng và các đơn vị tổ chức để cùng nhau tìm kiếm lợi Ých cho mình và cho nhân loại.
Nguyễn Thanh Hà - 846018
19
Khoá luận tốt nghiệp
Chương ii
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY VIỆN QUY HOẠCH VÀ
THIẾT KẾ NÔNG NGHIỆP
I - QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆN QUY HOẠCH
VÀ THIẾT KẾ NÔNG NGHIỆP.
Bốn mươi năm trước, ngày 29.9.1961, Hội đồng chính phủ đã ra quyết định số
134/CP về việc thành lập Cục quy hoạch thuộc Bộ Nông trường – tổ chức tiền thân
của Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp ngày nay.
Ban đầu đơn vị có tên gọi là Cục quy hoạch thuộc Bộ Nông trường, sau đó từ
năm 1971, đơn vị lại đổi tên là Ban phân vùng quy hoạch nông nghiệp. Cái tên này
cũng chỉ tồn tại trong 3 năm và đến cuối năm 1973, nó có tên là Cục điều tra khảo sát
và quy hoạch nông nghiệp. Từ tháng 3 năm 1977 đơn vị đổi tên là Viện quy hoạch và
thiết kế nông nghiệp. Quá trình 40 năm xây dựng Viện, mặc dù qua nhiều lần thay đổi
tên gọi nhưng chức năng nhiệm vụ chính của Viện vẫn là điều tra, quy hoạch và thiết
kế nông nghiệp.
Từ đầu những năm 60, công tác phân vùng quy hoạch nông nghiệp đã được nhấn
mạnh trong các Nghị quyết Đại hội Đảng lần 3, 4, 5 được coi là một trong những
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đưa nông nghiệp đi lên sản xuất lớn XHCN.
Từ năm 1961, Viện đã trực tiếp khảo sát quy hoạch cho trên 100 nông trường
quốc doanh ở miền Bắc,với sự hướng dẫn của chuyên gia Liờn Xụ, Trung Quốc. Sự
hình thành và phát triển hệ thống nông trường quốc doanh miền Bắc vào thời kỳ đó
đánh dấu bước đi đầu tiên của nền nông nghiệp XHCN, là niềm tự hào của nhiều thế
hệ cán bộ quy hoạch trong suốt quá trình xõy dựng và trưởng thành.
Từ 1970-1974, dưới sự lãnh đạo của Viện Khoa học nông nghiệp, Viện đã phối

nông nghiệp sản xuất hàng hoá, nhiều chương trình dự án quy hoạch đã và đang được
triển khai, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội đất nước.
Nguyễn Thanh Hà - 846018
21
Khoá luận tốt nghiệp
II - CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA VIỆN QUY HOẠCH VÀ THIẾT KẾ
NÔNG NGHIỆP.
1. Chức năng
Theo quyết định thành lập Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, Viện có
những chức năng chính sau:
- Phân vùng quy hoạch và thiết kế nông nghiệp.
- Quản lý Nhà nước về công tác điều tra cơ bản và công tác phân vùng nông
thôn.
2. Nhiệm vụ
Từ những chức năng chớnh trờn, Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp phải
thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tổ chức nghiên cứu khoa học làm căn cứ cho công tác phân vùng và quy hoạch
thiết kế nông nghiệp. Tổ chức chỉ đạo và điều tra cơ bản (bao gồm điều tra lập bản đồ
địa hình chuyên ngành, bản đồ thổ nhưỡng …), đánh giá tài nguyên thiên nhiên liên
quan đến nông nghiệp trong cả nước, trong từng vùng, từng tỉnh huyện…làm căn cứ
cho công tác phân vùng quy hoạch và dự án phát triển trên dài hạn của sản xuất nông
nghiệp.
- Tiến hành phân vùng nông nghiệp cả nước, hướng dẫn chỉ đạo phân vùng nông
nghiệp ở các cấp tỉnh và quy hoạch sản xuất ở các chuyên ngành kinh tế kỹ thuật.
- Nghiên cứu biên soạn và quản lý hướng dẫn thực hiện thống nhất trong ngành
về các quy trình quy phạm, nội dung, phương pháp và tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật của
công tác điều tra, phân vùng quy hoạch và thiết kế nông nghiệp đã được Bộ và Nhà
nước ban hành.
- Tổ chức hướng dẫn chỉ đạo các địa phương, các đơn vị thuộc bộ làm quy hoạch
và thiết kế vùng chuyên canh, huyện và xí nghiệp Nhà nước ( nông trường, trang trại,

Phòng
Kế hoạch
Phòng
Quản lý
Dự án
Phòng
Kế toán
Tài vụ
Phòng
Hợp tác
Quốc tế
Phòng
Phân vùng NN
Phòng
Quy hoạch
Phòng
Thổ nh,ỡng
Phòng
Phân tích đất
Phòng
Đo đạc
Trung tâm
Viễn thám tin
học
Trung tâm
ứng dụng tiến bộ
kỹ thuật
Trung tâm
Tài nguyên
Môi tr,ờng

Công tác quy hoạch nông nghiệp được xác định là một trong những giải
pháp hàng đầu để thực hiện một bước cơ bản mục tiêu tổng quát trên. Từ khi
bước vào cơ chế thị trường, đặc biệt là từ 2001 đến nay, Bé NN và PTNT đã giao
cho Viện triển khai nhiều dự án điều tra cơ bản và thiết kế quy hoạch phục vụ
quy hoạch chuyển đổi cơ cấu nông lâm nghiệp.
Đặc biệt, bộ đã giao cho Viện trực tiếp chủ trì xây dựng dự án quy hoạch
chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông lâm nghiệp cả nước và quy hoạch chuyển cơ
cấu sản xuất nông lâm nghiệp cỏc vựng đồng bằng sông Hồng, bắc trung bộ,
duyên hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ. Đây là một dự án có quy mô lớn và
quan trọng vỡ nó sẽ làm thay đổi bộ mặt nông thôn của đất nước.
Bên cạnh đó, việc rà soát bổ sung và điều chỉnh quy hoạch một số ngành
hàng chính trong nông nghiệp như chè, cà phê, mía đường, hồ tiêu, chăn nuôi,
rau hoa quả…; quy hoạch bố trí dân cư các công trình thuỷ lợi và thuỷ điện cũng
là những nhiệm vụ trọng yếu
Để duy trì hoạt động chung, ngoài phần kinh phí Nhà nước giao, Viện đã
tiến hành ký kết các hợp đồng kinh tế theo cơ chế của đơn vị sự nghiệp có thu.
Viện đã phát huy tinh thần chủ động trong lĩnh vực khảo sát, quy hoạch tái định
cư, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuụi…
Nguồn thu từ các hợp đồng đú đó góp phần cải thiện nâng cao đời sống và thu
nhập cho cán bộ nhân viên trong toàn Viện. Số lượng hợp đồng đã ký kết ngày
càng nhiều với giá trị cao.
Nguyễn Thanh Hà - 846018
25

Trích đoạn Tổ chức cụng tỏc ứng dụng cụng nghệ thụng tin trong văn phũng. Hiệu quả của việc ứng dụng cụng nghệ thụng tin trong cụng tỏc văn phũng. Đỏnh giỏ chung về ứng dụng cụng nghệ thụng tin trong cụng tỏc văn phũng Viện quy hoạch và thiết kế nụng nghiệp. Đào tạo, bồi dưỡng nõng cao trỡnh độ tin học và ngoại ngữ. Bồi dưỡng nõng cao trỡnh độ chuyờn mụn nghiệp vụ.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status