Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỞ ĐẦU
Bất cứ một xã hội nào muốn phát triển một cách phồn vinh thì cũng đều cần
có một cơ sở vật chất kỹ thuật vững chắc làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế xã
hội. Cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế, hoạt động đầu tư, xây dựng cơ bản
được đánh giá là ngành kinh tế kỹ thuật hết sức quan trọng của đất nước, bởi lẽ nó
liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế, lại được sử dụng một nguồn tài chính, nguồn
nhân lực hết sức to lớn.
Nếu như trước đây, nguồn vốn cho đầu tư, xây dựng thuộc về ngân sách nhà
nước, nhưng từ khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, hoạt động của ngành
xây dựng cũng có sự phát triển tương ứng. Nguồn vốn này có thể thuộc tất cả các thành
phần kinh tế khác nhau (Ngân sách Nhà nước, kinh tế tư nhân, vay từ nước ngoài…)
Là công ty TNHH một thành viên, công ty Cavico Việt Nam xây dựng Cầu
Hầm là một trong số ít các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã thành công trong lĩnh
vực kinh doanh đầu tư xây dựng cơ bản – một lĩnh vực được coi là thế mạnh của các
doanh nghiệp xây dựng Nhà nước, với hàng loạt các công trình trọng điểm Quốc gia
được đánh giá chất lượng cao như công trình thủy điện Đại Ninh, Thủy điện Buôn
Kuốp, Thủy điện Bản Vẽ, Thủy điện Bắc Bình….
Với vai trò là công ty con, được thừa hưởng nhiều nguồn lực, vật lực và kinh
nghiệm quản lý của Tổng công ty Cavico Việt Nam, trong những năm qua Cavico
Việt Nam xây dựng Cầu Hầm là đơn vị đi đầu về sản lượng và lợi nhuận. Đây thực
sự là môi trường tổ chức hợp lý với đội ngũ cán bộ trẻ năng động, sáng tạo đã góp
phần dựng nên thương hiệu: Nhà đầu tư, nhà thầu chuyên nghiệp Cavico Việt Nam.
Quá trình học tập tại trường đại học Kinh tế Quốc Dân, được tiếp thu những
kiến thức về pháp luật trong kinh doanh dưới nhiều lĩnh vực: Mua bán xuất nhập
khẩu hàng hóa, kinh doanh Bảo Hiểm, tín dụng ngân hàng…. Trong đó, lĩnh vực em
thấy hứng thú và hấp dẫn nhất là kinh doanh đầu tư xây dựng cơ bản. Chính bởi lẽ
đó, em đã chọn công ty TNHH Cavico Việt Nam xây dựng Cầu Hầm là nơi thực tập
của mình.Thời gian thực tập tại công ty Cavico Việt Nam xây dựng Cầu Hầm đã giúp
em trưởng thành hơn trong tư duy cũng như kinh nghiệm thực tế.
Xuất phát từ những lý do trên em đã quyết định chọn đề tài cho chuyên đề tốt
Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, chuyên đề đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu khoa học, cụ thể như: so sánh, tổng hợp, phân tích kết hợp với các
phương pháp thống kê, phân tích kinh tế. Phù hợp với từng vấn đề, từng nội dung
nghiên cứu cụ thể mà để tài sử dụng riêng rẽ hoặc kết hợp nhiều phương pháp nhằm
làm rõ nội dung của đề tài.
CHƯƠNG 1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
ĐẤU THẦU XÂY DỰNG VÀ ĐẤU THẦU TRONG XÂY LẮP
1.1. Một số khái niệm liên quan trong đấu thầu xây dựng
1.1.1. Dự án
Theo nghĩa chung nhất, Dự án là một tổng thể các hoạt động phụ thuộc lẫn
nhau nhằm tạo ra một sản phẩm đơn chiếc trong giới hạn cho phép về không gian và
nguồn lực. Theo quy định tại Điều 4.7 của Luật đấu thầu ngày 29.11.2005 của Quốc
hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi rõ: “ Dự án là tập hợp các đề
xuất để thực hiện một phần hoặc toàn bộ công việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu
cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên nguồn vốn xác định.”
Sản phẩm của dự án thường là kết quả lao động mang tính trọn vẹn như một
đoạn đường hay một cây cầu, một bộ phận hoàn chỉnh của một công trình khoa học,
một công trình xây dựng, lắp đặt, vận hành thiết bị làm thay đổi chất lượng của một
thực thể (như dự án xóa đói giảm nghèo, dự án xóa mù chữ, dự án thu hoạch mùa vụ
của một khu vực canh tác). Các dự án mang tính đơn chiếc, đặc thù, tính chuẩn mực.
Mỗi dự án là một đối tượng tương đối độc lập về nguồn lực, trách nhiệm, quyền hạn
và được diễn ra trong một khuôn khổ thời gian nhất định. Khi khuôn khổ thời gian đó
chấm dứt thì dự án đó cũng tự động chấm dứt. Có dự án chỉ diễn ra trong một khoảng
thời gian ngắn (như xây dựng một cây cầu lớn trong vòng 4 năm) nhưng có những
dự án phải diễn ra trong nhiều năm (ví dụ như xây dựng một đập thủy lợi ngăn nước
trong 10 năm).
thầu.Có rất nhiều quan niệm khác nhau về đấu thầu xây dựng.
Theo quan điểm của nhà thầu
Đứng trên quan niệm của nhà thầu thì khái niệm đấu thầu được hiểu là một
phương thức kinh doanh mà thông qua đó nhà thầu với các điều kiện và khả năng về
năng lực tài chính, kỹ thuật, tiến độ đáp ứng được cơ bản các yêu cầu của Bên mời
thầu, có cơ hội dành được hợp đồng thực hiện các công việc của gói thầu.
Đây là phương thức chủ yếu để có được dự án giúp cho doanh nghiệp tồn tại
và phát triển. Tính chất của đấu thầu đối với nhà thầu là quá trình cạnh tranh với các
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhà thầu khác về khả năng tiến hành công tác xây dựng bảo đảm các yêu cầu về chất
lượng, tiến độ, chi phí để dành được thực hiện dự án mà bên mời thầu đưa ra.
Có thể nói đây là quá trình hết sức khó khăn, nhạy cảm và nhiều rủi ro có thể
xảy ra. Trong quan hệ giữa bên mời thầu và nhà thầu, có nhiều quan hệ được nảy sinh
cần được sự điều chỉnh của pháp luật để tạo sự bình đẳng trong cạnh tranh đó là: Quan
hệ giữa bên mời thầu với các bên tham gia đấu thầu. Ở đây muốn nhấn mạnh là, ở mỗi
cuộc đấu thầu đều có vận “may”, “rủi”, mà có Nhà thầu trúng thầu, có Nhà thầu
không trúng thầu.
Theo quan niệm của Bên mời thầu
Đấu thầu là hình thức (Quá trình) lựa chọn nhà thầu tốt nhất đáp ứng được các
yêu cầu về kinh tế, về kỹ thuật, chất lượng, tiến độ thi công và chi phí xây dựng công
trình. Quan niệm này cũng như theo Điều 4.2 của Luật đấu thầu năm 2005 quy định “
đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực
hiện gói thầu thuộc các dự án được quy định bắt buộc phải đấu thầu trên cơ sở bảo
đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch, và hiệu quả kinh tế”. Có thể hiểu đấu thầu
là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu.
Như vậy, đứng trên quan điểm của Nhà thầu và chủ thầu (Bên mời thầu)
thì“Đấu thầu” là cuộc thi tuyển trong hoạt động xây dựng giữa các nhà thầu thỏa
mãn các yêu cầu cuả chủ đầu tư, từ đó lựa chọn Nhà thầu thích hợp nhất.
Theo quan niệm trong quản lý đầu tư và xây dựng
luật về hợp đồng chỉ điều chỉnh khi đã xác định được các đối tác giao kết.
Hình thức của hợp đồng giao kết thông qua đấu thầu phải bằng văn bản. Hợp
đồng chỉ có hiệu lực khi được người có thẩm quyền phê duyệt. Các hình thức giao
kết đối với hợp đồng theo nguyên lý thông thường có thể bằng văn bản, lời nói, hoặc
hành vi cụ thể.
Quá trình thương thảo trong đấu thầu, nhà thầu trúng thầu bị ràng buộc về nội
dung chào hàng của mình. Hai bên có quyền thương thảo, nhưng không được làm giá
cao hơn giá trúng thầu đã được phê duyệt. Phần lớn những nội dung của chào hàng
đã được bên mời thầu dự tính chấp nhận. Đối với hợp đồng giao kết theo nguyên lý
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thông thường các bên hoàn toàn tự do trong việc xác định về nội dung. Bên đưa ra đề
nghị cũng bị ràng buộc về nội dung đề nghị đối với bên được đề nghị.
Một điểm khác biệt có thể thấy rõ giữa hai hình thức hợp đồng này đó là các điều
khoản quy định về bảo lãnh thực hiện hợp đồng, trong đấu thầu là bắt buộc, nhưng
không quá 10% giá trị hợp đồng; trong khi đó quy định này là không bắt buộc, do các
bên tự thỏa thuận trong hợp đồng giao kết theo nguyên lý thông thường.
Tóm lại, các quan điểm trên được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau, có
thể rút ra khái niệm về đấu thầu, đó là quá trình lựa chọn Nhà thầu đáp ứng cơ bản
các yêu cầu của bên mời thầu nhằm bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch
và hiệu quả kinh tế của gói thầu. Có thể nói đây là biện pháp hiệu quả nhất để khắc
phục tiêu cực trong các hoạt động kinh tế như mua bán, xây dựng vv…
1.2.1. Phân loại các hình thức đấu thầu
Dựa vào các tiêu chí khác nhau mà đấu thầu được phân chia thành nhiều loại:
- Dựa vào hình thức lựa chọn nhà thầu người ta phân thành đấu thầu rộng rãi
và đấu thầu hạn chế
Đấu thầu rộng rãi
Đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà thầu
tham dự. Việc lựa chọn nhà thầu để thực hiện các dự án sau đây phải áp dụng hình
thức đấu thầu rộng rãi bao gồm:
được áp dụng trong đấu thầu nói chung và đấu thầu trong xây lắp nói riêng.
Do số lượng người dự thầu là khá đông, vì vậy bên mời thầu có cơ hội để lựa
chọn nhà thầu có đủ tư cách, năng lực tham gia dự án. Nhưng cũng chính vì vậy, nên
chi phí đánh giá hồ sơ đấu thầu cũng rất tốn kém, trong khi đó chi phí của người đi
vay là phải sử dụng vốn vay sao cho có hiệu quả nhất. Hơn nữa, đối với những dự án
đòi hỏi có yêu cầu kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, đặc biệt mà chỉ có một số nhà thầu
mới đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi chủ đầu tư phải tiến hành sơ tuyển để lựa chọn
nhà thầu có đủ tư cách, năng lực tham gia dự thầu.
1
Xem Điều 1, Điều 18 của Luật đấu thầu ngày 29-11-2005.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đấu thầu hạn chế
Nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, trước khi phát hành hồ sơ mời thầu,
chủ đầu tư sẽ phê duyệt danh sách nhà thầu được coi là có đủ năng lực và kinh
nghiệm để mời tham gia đấu thầu.Trên cơ sở đó Bên mời thầu sẽ gửi thư mời thầu tới
các nhà thầu trong danh sách đó, tuy nhiên phải mời tối thiểu 5 nhà thầu, trường hợp
thực tế có ít hơn 5 nhà thầu, chủ đầu tư phải trình người có thẩm quyền xem xét,
quyết định cho phép tiếp tục tổ chức đấu thầu hạn chế hoặc áp dụng hình thức lựa
chọn khác.
Theo quy định tại Điều 19 của Luật đấu thầu (ban hành ngày 29-11-2005) đấu
thầu hạn chế được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
+ Theo yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài đối với nguồn vốn sử dụng cho gói
thầu;
+ Gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù; gói thầu
có tính chất nghiên cứu, thử nghiệm mà chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng
yêu cầu của gói thầu.
Việc xét thầu và công nhận trúng thầu giống như hình thức đấu thầu rộng rãi.
- Dựa vào quốc tịch của Nhà thầu có đấu thầu trong nước và đấu thầu quốc tế.
Đấu thầu trong nước là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của
với từng nhà thầu tham gia giai đoạn này sẽ xác định hồ sơ mời thầu giai đoạn hai;
Trong giai đoạn hai, theo hồ sơ mời thầu giai đoạn hai, các nhà thầu đã tham
gia giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu giai đoạn hai bao gồm: đề xuất về kỹ
thuật, đề xuất tài chính, trong đó có giá dự thầu; biện pháp bảo đảm dự thầu.
Phương thức chỉ định thầu- chào hàng cạnh tranh - tự thực hiện
+ Chỉ định thầu
Đây là hình thức không tổ chức đấu thầu mà chọn trực tiếp nhà thầu đáp ứng
yêu cầu của gói thầu để thương thảo hợp đồng.
Hình thức này chỉ áp dụng trong các trường hợp đặc biệt sau:
++ Trường hợp bất khả kháng do thiên tai, địch họa, sự cố cần khắc phục ngay
(ví dụ như xảy ra hiện tượng sụp đổ một cây cầu nào đó mà cần khắc phục ngay để
phục vụ cho việc đi lại).
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ +Gói thầu do yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài;
+ +Gói thầu thuộc dự án bí mật quốc gia; dự án cấp bách vì lợi ích quốc gia, an
ninh an toàn năng lượng do Thủ tướng chính phủ quyết định khi thấy cần thiết;
+ +Gói thầu dịch vụ tư vấn có giá trị dưới 500 triệu đồng, gói thầu mua sắm
hàng hóa, xây lắp có giá gói thầu giá trị dưới 1 tỷ đồng thuộc dự án đầu tư phát triển;
gói thầu mua sắm hàng hóa có giá gói thầu dưới một trăm triệu đồng thuộc dự án
hoặc dự toán mua sắm thường xuyên.
+ +Gói thầu mua sắm các loại vật tư, thiết bị phục hồi, duy tu, mở rộng công
suất của thiết bị, dây chuyền công nghệ sản xuất mà trước đó đã được mua từ một
nhà thầu cung cấp và không thể mua từ các nhà thầu cung cấp khác do phải bảo đảm
tính tương thích của thiết bị công nghệ.
2
+Chào hàng cạnh tranh
Hình thức này được áp dụng cho những gói thầu có giá trị dưới hai tỷ đồng.
Đối với mỗi gói thầu phải có tối thiểu 3 báo giá từ 3 nhà thầu khác nhau. Khi thực
kiến trúc:
+ Trụ sở cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở lên;
+ Các công trình văn hóa, thể thao, các công trình công cộng có quy mô lớn;
+ Các công trình khác có kiến trúc đặc thù.”
Đấu thầu mua sắm hàng hóa
Đấu thầu mua sắm hàng hóa là quá trình lựa chọn nhà thầu cung ứng hàng
hóa đáp ứng được yêu cầu của Bên mời thầu trên cơ sở sự cạnh tranh giữa các nhà
cung cấp. Hàng hóa ở đây có thể là máy móc, phương tiện vận chuyển, thiết bị, bản
quyền sở hữu công nghiệp, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng (thành
phẩm, bán thành phẩm).
Đấu thầu trong xây lắp là quá trình lựa chọn nhà thầu thực hiện những công việc
thuộc quá trình xây dựng và lắp đặt thiết bị các công trình, hạng mục công trình. Những
quy định pháp luật cụ thể về đấu thầu trong xây lắp sẽ được đề cập cụ thể ở phần sau.
Đấu thầu để lựa chọn đối tác thực hiện dự án
Đây là quá trình lựa chọn đối tác để thực hiện một phần hay toàn bộ công
việc, mục tiêu hoặc yêu cầu nào đó. Căn cứ vào danh mục đầu tư hàng năm do Chính
phủ công bố hoặc nhà đầu tư đề xuất, nếu dự án có từ hai đối tác trở lên quan tâm
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thực hiện thì phải tiến hành đấu thầu để người có thẩm quyền có cơ sở xem xét lựa
chọn đối tác để thực hiện dự án dưới dạng sau:
+ Dự án đang là ý tưởng;
+ Dự án đã có Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi hoặc khả thi được duyệt;
+ Yêu cầu về một số nội dung công việc.
1.2.2. Các nguyên tắc cơ bản trong đấu thầu xây dựng
Trong bất cứ hoạt động nào thì chủ thể tham gia đều phải tuân theo một
nguyên tắc cơ bản nhất định và hoạt động đấu thầu cũng không nằm ngoài qui luật
đó. Cuốn “Tài liệu hướng dẫn đấu thầu quốc tế mua thiết bị vật tư và xây dựng công
trình theo thể thức hiệp hội các kỹ sư tư vấn (FIDIC), ngân hàng thế giới (WB) và
ngân hàng phát triển liên Mỹ (IDB)” đã trình bày khá rõ ràng và đầy đủ các nguyên
Nguyên
tắc bảo
hành, bảo
lãnh và
bảo hiểm
thích đáng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nguyên tắc cạnh tranh với điều kiện ngang nhau
Đặc điểm của đấu thầu là cạnh tranh, vì chỉ như vậy mới giúp nhà đầu tư tìm
ra được nhà thầu đáp ứng được tối ưu nhất yêu cầu của mình. Tuy nhiên sự cạnh
tranh phải diễn ra trên cơ sở công bằng, thể hiện: Mỗi gói thầu phải có sự tham dự
của một số lượng nhà thầu nhất định có năng lực, đủ để đảm bảo sự cạnh tranh giữa
các nhà thầu. Những điều kiện mà Bên mời thầu đưa ra và những thông tin cung cấp
cho các nhà thầu phải ngang bằng nhau, nhằm tạo sự công bằng, bình đẳng về cơ hội
cho mỗi nhà thầu. Các nhà thầu tham gia đấu thầu phải độc lập về tổ chức, không
cùng phụ thuộc vào một cơ quan quản lý độc lập về tài chính với chủ đầu tư của dự
án và với nhà thầu tư vấn lập hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu.
Nguyên tắc dữ liệu đầy đủ
Các nhà thầu phải được cung cấp thông tin đầy đủ các dữ liệu, tài liệu liên
quan đến gói thầu với các thông tin chi tiết, rõ ràng về quy mô, khối lượng, quy cách,
yêu cầu chất lượng, giá cả và điều kiện hợp đồng, kể cả những sửa đổi, bổ sung (nếu
có). Danh mục cụ thể các tài liệu cần có trong Hồ sơ dự thầu cũng cần nói rõ để Bên
dự thầu chuẩn bị.
Nguyên tắc bảo mật hồ sơ, tài liệu, thông tin
Để bảo đảm sự cạnh tranh lành mạnh cũng như quyền lợi của chủ đầu tư và
các nhà thầu, tất cả các hồ sơ, tài liệu, thông tin có liên quan đến gói thầu trong suốt
quá trình đấu thầu được xem như là những bí mật thương mại phải được bảo mật
theo quy định của pháp luật.
Nguyên tắc đánh giá khách quan, công bằng
Công bằng luôn là tiêu chí mà bất cứ cuộc cạnh tranh nào đều muốn hướng tới.
Đây là một chế định giúp cho Bên mời thầu tránh được các rủi ro do các
nhà thầu gây ra.
Những nguyên tắc trên đây là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ quá
trình đấu thầu được áp dụng rộng rãi trên thế giới hiện nay. Việc thực hiện những
nguyên tắc này mục tiêu cuối cùng cũng là để đáp ứng tốt nhất các yêu cầu về tiến
độ, chất lượng, tài chính của dự án, bảo đảm lợi ích chính đáng cho cả chủ đầu tư lẫn
nhà thầu.
3
Xem điều 55, Điều 56 Luật đấu thầu ngày 29-11-2006.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.3. Vai trò của đấu thầu xây dựng trong nền kinh tế quốc dân
1.3.1 . Quá trình hình thành và phát triển các quy định về đấu thấu xây dựng
Đấu thầu là một trong những phương thức mua sắm hàng hóa, dịch vụ trong
đời sống xã hội loài người. Nó ra đời và cùng phát triển với phương thức sản xuất
phát triển dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ
của khoa học kỹ thuật, sự cạnh tranh gay gắt và các cuộc khủng hoảng đã dẫn tới sự
ra đời của Chủ nghĩa tư bản độc quyền và chủ nghĩa tư bản Nhà nước vào cuối thế kỷ
19, đầu thế kỷ 20. Độc quyền ra đời, từ tự do cạnh tranh, sau đó đối lập với tự do
cạnh tranh nhưng không thủ tiêu cạnh tranh mà làm cho cạnh tranh càng ngày càng
gay gắt hơn.
Nhà nước tư bản vừa là người đại diện, người bảo vệ cho giai cấp tư sản vừa
là người điều tiết quá trình sản xuất, vừa là người cung cấp vốn để nghiên cứu, ứng
dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật. Nhà nước điều tiết các chương trình, các mục
tiêu phát triển kinh tế thông qua hệ thống pháp luật, các chính sách kinh tế khác.
Ngoài ra Nhà nước còn bỏ vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình công cộng
phát triển các ngành kinh tế cần thiết cho xã hội nhưng lại có hiệu quả kinh tế thấp,
lâu hoàn vốn…những mua sắm chi tiêu của chính phủ đã trở thành mục tiêu cạnh
tranh gay gắt giữa các tổ chức kinh tế tài chính.
Do vậy, để điều chỉnh hoạt động nói trên, ở hầu hết các nước tư bản đều có
phù hợp với quy luật khách quan với trình độ phát triển của nền kinh tế đó là nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Theo cơ chế đó, khái niệm cạnh tranh ngày càng trở nên thông dụng. Trong
hoạt động đầu tư xây dựng, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau
đều bình đẳng trước pháp luật, đều có cơ hội tham gia xây dựng các công trình ngang
nhau nên giữa các doanh nghiệp luôn tồn tại sự cạnh tranh.
Nền kinh tế càng phát triển, thì mức độ cạnh tranh càng gay gắt. Đứng trước
thực tế đó hoạt động đấu thầu đã xuất hiện và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh,
các doanh nghiệp xây dựng có cơ hội được thể hiện mình một cách tốt nhất. Để tạo
môi trường nhằm tăng cường hiệu quả của hình thức đấu thầu, cùng với việc tổ chức
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thực hiện, các văn bản có tính quy chế được xây dựng và bổ sung và sửa đổi ngày
càng hoàn thiện hơn.
- Đầu năm 1990, Bộ xây dựng đã ban hành “ Quy chế đấu thầu trong xây
dựng” kèm theo quyết định số 24/BXD- VKT ngày 12/2/1990 nhưng chưa rõ ràng.
- Tiếp theo đó tháng 3/1994 Bộ xây dựng ban hành “ quy chế đấu thầu trong
xây dựng” (theo quyết định số 06/BXD- VKT thay cho quyết định số 24/BXD- VKT
trước đây). Đây là văn bản được coi là quy chế đầu tiên theo đó quy định tất cả các
công trình xây dựng thuộc sở hữu Nhà nước đều phải thực hiện đấu thầu.
- Đến ngày 16/4/1994, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 183 Ttg theo
quy chế này, các dự án dùng vốn Nhà nước (Bao gồm ngân sách cấp, vốn vay, vốn
viện trợ, vốn Nhà nước ở các doanh nghiệp đều phải qua đấu thầu. Kết quả đấu thầu
có vốn đầu tư trên 10 triệu USD phải thông qua Hội đồng xét thầu quốc gia thẩm
định để trình thủ tướng Chính Phủ xem xét và phê duyệt.
- Năm 1996, Chính Phủ ban hành quy chế đấu thầu kèm theo Nghị đinh số
43/ NĐ- CP ngày 5.5.2000. Từ năm 1999 đến năm 2003, công tác đấu thầu được điều
chỉnh chủ yếu bằng Nghị định số 88/1999/NĐ-CP (NĐ 88/CP) ngày 01/9/1999 và
Nghị định số 14/2000/NĐ- CP (NĐ14/CP) ngày 05/05/2000, so với cơ chế cũ nhiều
vấn đề sáng tỏ hơn, phương pháp đánh giá để đấu thầu đã khoa học hơn chuẩn mực
(trong quan hệ với nhiều Luật khác như Luật phòng, Chống tham nhũng, Luật thực
hành tiết kiệm chống lãng phí…) UBTVQH đã đề nghị nâng PLĐT lên thành Luật
Đấu thầu. Tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội Khóa XI của nước CHXHCN Việt Nam đã
thông qua Luật đấu thầu tại ngày họp cuối cùng (29/11/2005). Với quyết tâm của
Chính Phủ và Quốc hội Luật đấu thầu được hình thành và thông qua trong thời gian
chưa đầy 5 tháng, tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho các hoạt động đấu thầu sử dụng
nguồn vốn Nhà nước Việt Nam.
Luật đấu thầu xây dựng được xây dựng trên cơ sở quán triệt các quan điểm,
chủ trương của Đảng và Chính sách của Nhà nước, làm cho Luật trở thành một công
cụ quản lý hữu hiệu trong thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Nó được kế thừa các nội dung phù hợp của QCĐT và Dự thảo Pháp lệnh đấu
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thầu đã có, phù hợp với các thông lệ đấu thầu quốc tế. Luật đấu thầu trở thành luật gốc
về đấu thầu, đảm bảo tính thống nhất trong quy định về đấu thầu sử dụng vốn nhà
nước. Theo đó, các hoạt động đấu thầu sử dụng vốn Nhà nước trên đất nước Việt Nam
phải thực hiện theo Luật kể từ ngày 01/4/2006 khi Luật có hiệu lực thi hành.
Nhằm giúp việc thực hiện Luật đấu thầu và Luật xây dựng thủ tướng chính
phủ đã ban hành Nghị định số 111/2006/NĐ- CP ngày 29/9/2006 hướng dẫn thi hành
Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng là khung khổ pháp
lý nguồn vốn ODA và công tác đấu thầu.
Đây thực sự là khung khổ pháp lý quan trọng trong công tác quản lý kinh tế
đầu tư xây dựng, tạo tiền đề thuận lợi cho công cuộc phát triển kinh tế đất nước và
phù hợp với xu thế hội nhập hiện nay.
1.3.2. Vai trò của đấu thầu xây dựng trong nền kinh tế quốc dân
Đấu thầu không phải là một thủ tục mang tính hình thức mà trên thực tế là một
quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh phổ biến trong xây dựng cơ bản. Hiệu quả của
hình thức này không chỉ ở Việt Nam mà đã được khẳng định ở nhiều nước trên Thế
Giới. Đấu thầu không chỉ có ý nghĩa quan trọng với các chủ thể tham gia đấu thầu mà
còn mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế quốc dân.
được những kiến thức về khoa học công nghệ tiên tiến hiện đại, có điều kiện để
khẳng định mình ở hiện tại và tương lai, có cơ hội để cạnh tranh trên thị trường trong
nước và quốc tế.
Nếu trúng thầu, uy tín của nhà thầu sẽ được nâng cao, giá cổ phiếu trên thị
trường chứng khoán tăng (nếu doanh nghiệp đăng ký niêm yết trên thị trường chứng
khoán), những nhà lãnh đạo công ty, hãng trúng thầu có điều kiện tiến xa hơn trên
con đường danh vọng.
Hơn nữa, do tập trung cung cấp lớn một thời gian dài nên các nhà thầu đã giải
quyết được công ăn việc làm cho nhân công của mình giúp họ có điều kiện cải thiện
đời sống, nâng cao trình độ.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đối với Nhà nước
Thông qua đấu thầu, các cơ quan quản lý Nhà nước có đủ thông tin thực tế và
cơ sở khoa học để đánh giá đúng năng lực thực sự của Nhà thầu. Hoạt động đấu thầu
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Đấu thầu dựa trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu
trên mọi mặt (hành chính, kỹ thuật, quản lý,…) sẽ thúc đẩy các đơn vị dự thầu phải
nâng cao trình độ hiệu quả mọi mặt. Nhờ đấu thầu, hiệu quả của các dự án được nâng
cao, tiết kiệm cho ngân sách nhà nước. Đấu thầu còn góp phần nâng cao hiệu quả
công tác quản lý của Nhà nước về đầu tư và xây dựng, hạn chế và loại trừ được các
tình trạng thất thoát, lãng phí vốn đầu tư và các hiện tượng tích cực khác trong xây
dựng cơ bản. Trong cơ chế thị trường, phương thức đấu thầu ngày càng thể hiện rõ
tính ưu việt và vai trò quan trọng đối với các chủ đầu tư, nhà thầu và nhà nước. Do đó
việc áp dụng phương thức này vào họat động kinh doanh là hết sức cần thiết. Đấu
thầu còn là động lực, là điều kiện để cho các doanh nghiệp trong ngành xây dựng
cạnh tranh lành mạnh với nhau thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp xây dựng, từ
đó tạo tiền đề cho kinh tế phát triển.
1.4. Đấu thầu trong xây lắp và Pháp luật về đấu thầu trong xây lắp
1.4.1. Đấu thầu trong xây lắp
Hiện nay, đấu thầu được sử dụng như là một điều tất yếu trong nền kinh tế thị
- Điểm giống nhau:
Thông qua hình thức đấu thầu để lựa chọn đơn vị sản xuất có đủ năng lực về
kinh tế, vật chất và lao động kỹ thuật để hoàn thành một công trình, một dự án, một
loại sản phẩm đạt hiệu quả cao nhất.
Về mặt tài chính có thể là bên mời thầu ứng một phần tiền trước cho bên dự
thầu hoặc bên dự thầu tạm bỏ tiền ra thi công và sẽ được thanh toán lại sau khi công
trình đã hoàn thành.
- Điểm khác nhau:
Sản phẩm của xây lắp có đặc điểm mang tính đơn chiếc, công trình đặt tại một
vị trí cố định, phục vụ cho một mục đích cụ thể, một chủ trương quản lý sử dụng,
không phải là hàng hóa thông thường được mua bán trên thị trường, khối lượng vật
chất, tiền vốn tiêu hao, số lượng lao động tham gia vào quá trình sản xuất lớn gấp
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhiều lần các loại sản phẩm thuốc lĩnh vực khác, một công trình có nhiều nghành
nghề, tổ chức cùng tham gia.
Thời gian hoàn thành công trình lại dài, khi đã thực hiện các bước như chuẩn
bị đầu tư, chuẩn bị xây dựng thì không thể dễ dàng thay đổi, trì hoãn. Điều đó chứng
tỏ xây dựng cơ bản là một quá trình sản xuất phức tạp, đa dạng có tác dụng cũng như
hiệu quả lâu dài về sau. Qui mô của công trình càng lớn thì mối quan hệ với các
nghành, các lĩnh vực càng phức tạp và có tác động đến môi sinh, môi trường và cơ sở
hạ tầng kỹ thuật khác. Vì thế việc áp dụng đấu thầu trong xây dựng cơ bản không
những phải đạt được tiêu chuẩn công trình với giá thành rẻ, chất lượng cao mà còn
phải đặt đấu thầu xây dựng trong một tổng thể phát triển của nền kinh tế- xã hội. Và
đây cũng là điểm khác biệt lớn nhất giữa đấu thầu trong lĩnh vực xây lắp với các lĩnh
vực khác.
1.4 .2. Pháp luật về đấu thầu trong xây lắp
Pháp luật về đấu thầu trong xây lắp là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể tham gia vào quá trình đầu tư xây
dựng cơ bản và các quan hệ phát sinh trong quá trình các cơ quan Nhà nước có thẩm
lực họat động xây dựng của Bộ trưởng bộ xây dựng.
• Thông tư số 09/2005/ TT- BXD ngày 7-5-2005 hướng dẫn một số nội
dung về giấy phép xây dựng.
• Quyết định số 15/ 2005/ QĐ- BXD ngày 25.4. 2005 của Bộ trưởng Bộ
xây dựng về việc ban hành quy chế cấp giấy phép xây dựng.
+ Các văn bản quy định về quản lý chất lượng công trình
• Nghị định số 209/2004/NĐ- CP ngày 16-12-2004 của Chính Phủ quy định
về quản lý chất lượng công trình xây dựng.
+ Các văn bản quy định về bảo hiểm trong xây dựng
• Thông tư số 76/2003/ TT- BTC ngày 4-8-2003 của Bộ tài chính hướng
dẫn về bảo hiểm trong đầu tư và xây dựng.
+ Các văn bản pháp luật quy định về mức xử phạt vi phạm hành chính trong
đấu thầu.
Website: Email : Tel : 0918.775.368