1. Khái quát về các điều ước quốc tế (ĐƯQT) trong lĩnh vực bảo vệ quyền SHTT
1.1. Các điều ước quốc tế đa phương
1.1.1. Về bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan
Ngay từ cuối thế kỷ XIX, tính chất lãnh thổ của quyền tác giả đã không đáp ứng được
quyền lợi của các tác giả và các nhà xuất bản. Nhằm bảo hộ các quyền lợi chính đáng của
tác giả, nhà xuất bản và nhà sản xuất ở ngoài phạm vi lãnh thổ của nước mà tác phẩm xuất
hiện đầu tiên, nhiều nước đã tham gia tích cực vào việc ký kết các ĐƯQT đa phương quan
trọng về việc bảo hộ quyền tác giả như:
- Công ước Berne là công ước bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật được ký kết
tại Berne - Thuỵ Sỹ vào năm 1886. Công ước bảo hộ mọi tác phẩm thuộc lĩnh vực văn
học, nghệ thuật và khoa học, được định hình dưới một dạng vật chất nhất định, không
phân biệt hình thức và cách thức thể hiện.
- Công ước Giơnevơ năm 1952;
- Công ước Rome về bảo hộ quyển của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi
hình, tổ chức phát sóng; ký kết tại Rome năm 1961;
- Công ước Geneva về bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình chống việc
sao chép trái phép (gọi tắt là Công ước Geneva) năm 1971;
- Công ước Brussel về bảo hộ tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh được
thông qua ngày 21-5-1974 tại Brussel – Bỉ (gọi tắt là “Công ước vệ tinh”);
- Hiệp ước WIPO về quyền tác giả (WCT) 1996;
- Hiệp ước WIPO về biểu diễn và ghi âm (WPPT) 1996.
1.1.2. Về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (SHCN)
- Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp 1883; đã được sửa đổi, bổ sung
7 lần. Công ước Paris tạo lập cơ sở chung nhất cho các thỏa thuận đa phương và song
phương khác về bảo hộ quyền SHCN.
- Thỏa ước Madrid về đăng kí quốc tế nhãn hiệu hàng hóa 1891 và Nghị định thư liên
quan đến Thỏa ước Madrid thông qua năm 1989;
- Thỏa ước Hague năm 1925 về đăng kí quốc tế kiểu dáng công nghiệp;
- Thỏa ước Nice năm 1957 về phân loại quốc tế các sản phẩm và dịch vụ để đăng ký
nhãn hiệu hàng hóa;
- Thỏa ước Lisbon năm 1958 về bảo hộ đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp;
quyền đó và thời hạn bảo hộ tối thiểu. Hiệp định quy định các tiêu chuẩn này bằng cách
trước hết yêu cầu rằng các nghĩa vụ về mặt nội dung của các Điều ước cơ bản của Tổ
chức SHTT Thế giới (WIPO) - Công ước Paris, Công ước Berne - phải được tuân thủ.
Ngoài ra, Hiệp định TRIPS còn bổ sung một số nghĩa vụ khác quan trọng về các vấn đề
mà các Điều ước kể trên không điều chỉnh hoặc được coi là không thoả đáng.
Hiệp định dành một phần đáng kể để quy định tiêu chuẩn của các cơ chế bảo hộ -
tức là các biện pháp, phương thức, trình tự xử lý các hành vi xâm phạm quyền SHTT.
2. Hiệp định TRIPS là điều ước quốc tế đầy đủ nhất, toàn diện nhất từ trước đến nay
trong lĩnh vực bảo vệ quyền SHTT
2.1. Nguyên tắc bảo hộ
Về nguyên tắc bảo hộ quyền SHTT, Hiệp định TRIPS tái khẳng định đồng thời mở
rộng các quy định của của các ĐƯQT trước đó trong lĩnh vực bảo vệ quyền SHTT. Cụ thể
là nếu như nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) là nguyên tắc được quy định phổ biến trong
2
các ĐƯQT về bảo hộ quyền SHTT thì Hiệp định TRIPs là ĐƯQT đa phương đầu tiên về
bảo hộ quyền SHTT quy định thêm nguyên tắc tối huệ quốc (MFN). Các nguyên tắc này
sẽ là những tư tưởng chỉ đạo có tính định hướng cho việc áp dụng, thực thi và giải quyết
các tranh chấp có liên quan đến TRIPS. Những nguyên tắc này chúng ta có thể tìm thấy
không những ngay trong phần phạm vi và các nguyên tắc chung mà còn ở các phần cụ thể
khác của hiệp định.
Nguyên tắc đối xử công dân:
Điều 3 của Hiệp định TRIPs quy định: “Mỗi thành viên phải chấp nhận cho các công
dân của thành viên khác sự đối sử không kém thiện chí so với sự đối sử của thành viên đó
đối với công dân của mình trong việc bảo hộ SHTT”.
Nguyên tắc này cũng được áp dụng cho các chủ thể tuy không phải là công dân của
một nước thành viên nhưng lại có nơi thương trú hoặc cơ sở kinh doanh thực thụ tại một
nước thành viên. Tuy vậy, các nước thành viên vẫn có thể có một số quy định riêng mang
tính thủ tục đối với các chủ thể nước ngoài nhu yêu cầu chủ thể đó (trong một số trường
hợp) phải chỉ định người đại diện về sở hữu công nghiệp trong các vụ việc có liên quan
đến việc xác lập và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.
2.2.1. Bảo hộ quyền tác giả và các quyền liên quan
Hiệp định TRIPS được đánh giá là Công ước Berne+ (Berne cộng) vì tác phẩm văn
học, nghệ thuật và khoa học bảo hộ theo Công ước Berne (Điều 2 Công ước Berne) thì
cũng được bảo hộ theo Hiệp định TRIPS.
Ngoài ra, trước sự phát triển của khoa học – công nghệ Hiệp định TRIPS còn bảo hộ
thêm một đối tượng mà Công ước Berne không quy định đó là “các chương trình máy tính
và cơ sở dữ liệu”. Theo yêu cầu của TRIPS, các chương trình máy tính phải được bảo hộ
bản quyền. Vì các chương trình máy tính có thể sử dụng với mục đích thương mại, nên
một số nước có thể cho phép đăng ký phần mềm máy tính dưới hình thức sáng chế.
2.2.2. Bảo hộ các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp
Hiệp định TRIPS được đánh giá là Công ước Paris+ (Paris cộng) vì ngoài các đối
tượng được bảo hộ theo Công ước Paris (sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công
nghiệp, nhãn hiệu, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh) thì Hiệp định TRIPS còn
bảo hộ thêm “thiết kế bố trí mạch tích hợp” và “bí mật thương mại”
1
.
Bí mật thương mại cũng là một đối tượng phải được bảo hộ theo yêu cầu của TRIPs.
Việc bảo hộ bí mật thương mại nhằm bảo vệ quyền của chủ sở hữu đối với những thông
tin mang tính bí mật, có khả năng ảnh hưởng đến sự tồn vong của doanh nghiệp. Điều 39
quy định các thành viên không được phép tiết lộ những dữ liệu mật được nộp cho các cơ
quan chính phủ để xin phép lưu hành dược phẩm hoặc nông hóa phẩm (trừ trường hợp cần
thiết nhằm bảo vệ công chúng hoặc khi đã tiến hành các biện pháp cần thiết để đảm bảo
các dữ liệu đó không bị tiết lộ) nhằm mục tiêu thương mại không lành mạnh.
Bên cạnh đó, Công ước Paris quy định những điều kiện bảo hộ rất chặt chẽ đối với
tên gọi, xuất xứ hàng hóa đã dẫn đến nhiều khó khăn trong thực tiễn áp dụng. Vì vậy, Hiệp
định TRIPS đã mở rộng hơn bằng các quy định đối với chỉ dẫn địa lý.
- Chỉ dẫn địa lý: là những chỉ dẫn về hàng hóa bắt nguồn từ một nước, khu vực hay địa
phương thuộc nước đó, có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định do xuất xứ địa lý
quyết định (Điều 22).
- Bằng sáng chế: Hiệp định quy định các sáng chế có thể được bảo hộ thông qua bằng sáng
các hành vi này
2.3. Về thực thi bảo hộ
Lần đầu tiên, các quy định thực thi quyền SHTT được đề cập một cách chi tiết và toàn
diện trong một văn bản pháp lí quốc tế. Nếu như trước đây, các hiệp định quốc tế chỉ quy
định về các tiêu chuẩn chung của các đối tượng SHTT còn vấn đề thực thi thì thuộc thẩm
quyền phạm trù riêng của mỗi quốc gia nhưng cho đên TRIPS thì thực thi quyền SHTT
không những là nhiệm vụ của từng quốc gia mà còn là một nghĩa vụ mang tính quốc tế..
Điều 15 (quyền đối với việc thực thi bảo vệ các quyền) và Điều 16 (tịch thu những
hàng hóa sao chép bất hợp pháp) của Công ước Berne và Điều 9 (nhãn mác, tên thương
mại: tịch thu và nhập khẩu), Điều 10 (chỉ dẫn sai: tịch thu) và 10ter (nhãn mác, tên thương
mại, chỉ dẫn địa lý sai, cạnh tranh không lành mạnh: chế tài) của Công ước Paris đều có
quy định ít chi tiết hơn trong nội dung phần thứ ba của hiệp định TRIPS và thực tế đã
chứng minh việc thực thi các quyền SHTT theo các văn bản trên đều kém hiệu quả. Do đó,
Hiệp định TRIPs ra đời đã khắc phục được những hạn chế này.
Các quy định về thực thi bảo hộ thuộc phần III của Hiệp định TRIPS được chia thành 5
mục: mục đầu tiên quy định các nghĩa vụ chung mà tất cả các thủ tục thực thi phải đáp ứng
5