Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam - Pdf 27

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐÀO THỊ NGÂN
QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO
TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐÀO THỊ NGÂN
QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO
TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN NHO THÌN
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo
tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn
học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của
Khoa Luật – Đại học Quốc Gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đào Thị Ngân
MỤC LỤC

có chứa đựng những yếu tố tiến bộ cần học hỏi để áp dụng trong tiến trình lập
pháp, bên cạnh đó, những Điều ước, Công ước mà Việt Nam tham gia cũng cần
được nội luật hóa vào pháp luật trong nước để đưa ra hành lang pháp lý ổn định
áp dụng cho việc bảo đảm quyền con người.
Việt Nam là quốc gia có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo và đông tín đồ, chức sắc,
các nhà tu hành. Bởi vậy, tôn giáo không còn là vấn đề nhỏ tập trung vào một nhóm
thiểu số nữa mà đã là quan hệ xã hội phức tạp, cần có sự điều chỉnh toàn diện của
pháp luật trong nước. Ngoài ra, trong quá trình phát triển của xã hội, sự nâng cao về
nhận thức của người dân, sự hội nhập với quốc tế, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
không đơn giản chỉ là sự ghi nhận quyền trong các văn bản pháp luật, sự cho phép
theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo mà còn cần thiết phải đưa ra những công
cụ bảo đảm nhất định đối với quyền này, tôn trọng và đảm bảo cho các hoạt động
của các tổ chức tôn giáo theo đúng khuôn khổ pháp luật.
Thêm nữa trong bối Nhà nước ta đang hướng tới xây dựng Nhà nước Pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, việc đảm bảo và đề cao những quyền cơ bản của con người
là việc cấp thiết trong đó một trong những quyền cần đảm bảo trước hết là quyền tự
do tôn giáo, tin ngưỡng của người dân. Tuy nhiên, tôn giáo là vấn đề nhạy cảm ở hầu
hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Trên thực tế việc đảm bảo quyền
này dễ bị các phần tử chống phá nhà nước lợi dụng để thực hiện âm mưu phản động
của mình. Bên cạnh đó, một số đối tượng cũng có thể lợi dụng quyền tự do tôn giáo,
tín ngưỡng vào những mục đích không tốt như là thực hành mê tín dị đoan. Do vậy,
cần có sự hiểu biết đầy đủ và đúng đắn về quyền cơ bản này của công dân để có sự
chủ động trong các công tác phòng, tránh tác động xấu từ việc thụ hưởng quyền này
từ phía công dân tới công cuộc xây dựng và quản lý nhà nước. Việc nghiên cứu chủ
động và đầy đủ về các quy định của pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo sẽ
là công cụ hữu hiệu để ngăn cản sự lạm dụng quyền này từ những người có ý đồ
không tốt, đồng thời là có cơ sở để xử lý các sai phạm có liên quan.
Quan điểm thống nhất của Đảng và Nhà nước Việt Nam từ trước tới nay đều
6
tôn trọng và đảm bảo quyền cho đồng bào có đạo. Tuy nhiên trong quá trình thực

vấn đề lý luận và thực tiễn (Luận văn thạc sĩ – Nguyễn Thị Diệu Thúy, Mã số
603810)
Ngoài một số luận văn, khóa luận nghiên cứu về vấn đề tôn giáo và nhân
quyền thì cũng có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo:
• Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam, lý luận và thực tiễn PGS.TS
Đỗ Quang Hưng, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội, 2008
• Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người do Nguyễn Đăng Dung –
Vũ Công Giao – Lã Khánh Tùng đồng chủ biên, NXB Chính trị quốc gia,2009
• Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội, Trung tâm nghiên cứu quyền con người –
quyền công dân, Hỏi đáp về quyền con người, NXB Hồng Đức, 2011
• Giới thiệu Công ước về quyền dân sự, chính trị 1966, Lã Khánh Tùng – Vũ
Công Giao – Tường Duy Kiên, 2012
Bên cạnh đó là khối lượng lớn các bài viết trên báo và tạp chí về tín ngưỡng,
tôn giáo ở Việt Nam:
• Tôn trọng tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo – Chính sách nhất quán của
Đảng và Nhà nước của Đặng Tài Tính (Công tác tôn giáo, số 1/2005)
• Tư tưởng “tôn giáo và xã hội xã hội chủ nghĩa cùng chung sống” của Bành
Diệu (Nghiên cứu tôn giáo, số 9/2007)
• Quá trình nhận thức của Đảng về vấn đề tôn giáo, công tác tôn giáo và
chính sách tôn giáo qua cương lĩnh, văn kiện, nghị quyết từ đổi mới đến nay
(Nghiên cứ tôn giáo, số 1/2011)
Tuy nhiên, các công trình trên mới tập trung nghiên cứu, phân tích về tình
hình tôn giáo, các chính sách của Đảng, mà chưa có công trình nào nghiên cứu về
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được quy định tổng thể theo pháp luật quốc tế và
pháp luật quốc gia như thế nào.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Trên cơ sở phân tích, đánh giá các quy định trong pháp luật quốc tế và pháp
luật Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, từ đó tìm ra mức độ tương thích
8

về quyền con người nói chung và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng.
Tác giả luận văn vận dụng cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam và pháp luật của Nhà nước cụ thể là Hiến pháp năm 2013 về quyền con người,
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.
Trong Chương 1, để làm sáng tỏ vấn đề lý luận về quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo, luận văn sử dụng phương pháp hệ thống, so sánh, phân tích để làm rõ và
sâu sắc thêm khái niệm “tín ngưỡng” và “tôn giáo”; phương pháp lịch sử để thấy sự
hình thành và phát triển của hiện tượng xã hội này trong lịch sử xã hội loài người.
Tại Chương 2 của luận văn, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng là
thống kê, so sánh, phân tích để làm rõ mức độ tương thích giữa pháp luật quốc tế và
pháp luật Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam.
Chương 3 phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để đưa ra các giải
pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
6. Tính mới và những đóng góp của luận văn
Nhân quyền là một lĩnh vực còn khá mới ở Việt Nam. Trước đây, khái niệm
“quyền con người” được xem như là một vấn đề nhạy cảm, người ta thường cố
tránh sử dụng khái niệm này vì sợ nhắc tới vấn đề mang tính đòi hỏi tiêu cực.
Hiện nay, trong tiến trình cải cách, mở cửa, hòa nhập cùng xu thế chung của thời
đại, trong xã hội Việt Nam đã có nhiều thay đổi về vấn đề này, quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của công dân cũng được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm.
Tuy nhiên vấn đề về việc bảo đảm quyền con người, cụ thể là quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo cũng chưa được tiếp cận một cách rộng rãi và cụ thể. Nói vậy
không hẳn là chưa có sự nghiên cứu nào về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà
trên thực tế cũng đã có nhiều người nghiên cứu vấn đề tôn giáo và nhân quyền,
song cách tiếp cận thường là mối quan hệ giữa tôn giáo và nhân quyền hay những
tác động qua lại giữa các tôn giáo và nhân quyền mà chưa có sự nghiên cứu sâu
sắc về quyền tự do tôn giáo, tin ngưỡng trong hệ thống pháp luật. Luận văn này sẽ
đưa ra những hiểu biết về quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo trong pháp luật quốc tế
10

chính bản thân mà hình thành.
Tín ngưỡng còn thể hiện giá trị cuộc sống, ý nghĩa cuộc sống bền vững, đôi
khi được hiểu là tôn giáo hay nói chính xác hơn, tín ngưỡng khi phát triển đến một
mức nào đó thì có thể trở thành tôn giáo.
Theo Nguyễn Trần Bạt thì “tín ngưỡng là kết quả của tâm lý ngờ vực, trong
đó lớn nhất và phổ biến nhất là ngờ vực ngay chính hiện tại, ngay chính những đại
lượng vật lý” [4]. Tín ngưỡng theo ông là nơi con người nghỉ ngơi, giải trí. Hàng
ngày, con người tiếp xúc với nhiều sự kiện, nhiều hiện tượng, sự vật. Tuy nhiên, với
sự tò mò, thích khám phá con người không bao giờ dừng lại ở mức độ cảm nhận mà
con người luôn đi tìm cho mình câu trả lời về các sự vật, sự kiện, hiện tượng đó.
Qua đó con người thu được kiến thức, tư tưởng và tín ngưỡng. Cái mà con người
12
gọi là khoa học – một hệ thống tri thức khi con người đi tìm hiểu nguồn gốc của
mọi việc đã giải thích cho con người về thế giới, về thực tại dường như là chưa đủ
để con người hiểu hết được những gì đang diễn ra trong đời sống của mình nhất là
trong vấn đề tâm linh. Sự hạn chế này khiến con người nảy sinh lòng tin dùng thế
lực siêu nhiên, huyền bí để giải thích cho các vấn đề mà khoa học không thể lý giải
nổi như sự hiện hữu của linh hồn, chiêm tinh, thế giới tồn tại bên ngoài thế giới
đang sống và vì vậy, tín ngưỡng được hình thành.
Như vậy, tín ngưỡng là một cách nhìn thực tế cuộc sống cộng đồng con
người ý thức về một dạng thần linh nào đó, rồi cộng đồng con người ấy tin theo tôn
thờ lễ bái, cầu mong hiện thực cuộc sống, gây thành một nếp sống xã hội theo niềm
tin linh thiêng ấy.
Tôn giáo dân gian không hẳn là tôn giáo với những cách hiểu đầy đủ về giáo
lý, giáo luật; các quy tắc của nó chủ yếu mới dừng lại ở sự sùng tín, nằm trong
phong tục tập quán sinh hoạt cũng chưa được chính thức thừa nhận hay trở thành
giáo luật. Các nhà nghiên cứu thường gọi chung đối tượng này là tín ngưỡng, tín
ngưỡng dân gian hoặc đôi khi cũng dùng khái niệm tôn giáo dân gian. Khái niệm tín
ngưỡng, vì vậy, rộng và dân dã hơn khái niệm tôn giáo, hay nói khác đi tôn giáo chỉ
là một phần của tín ngưỡng mà thôi.

là riêng của đạo Kitô. Bởi lẽ, đương thời các đạo khác Kitô đều bị coi là tà đạo.
Đến thế kỷ XVI, với sự ra đời của đạo Tin Lành tách ra từ Công giáo trên diễn
đàn khoa học và thần học châu Âu, religion mới trở thành thuật ngữ chỉ hai tôn
giáo thờ cùng một chúa. Với sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản ra khỏi phạm vi
châu Âu, với sự tiếp xúc với các tôn giáo thuộc các nền văn minh khác Kitô giáo,
biểu hiện rất đa dạng, thuật ngữ “religion” được dùng nhằm chỉ các hình thức tôn
giáo khác nhau trên thế giới. Thuật ngữ “religion” được dịch thành “Tông giáo”
đầu tiên xuất hiện ở Nhật Bản vào đầu thế kỷ XVIII và sau đó du nhập vào Trung
Hoa, tuy nhiên thì ở đây thuật ngữ Tông giáo chỉ dùng cho đạo Phật. Thuật ngữ
Tông giáo được du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, nhưng do kỵ húy của
Thiệu Trị nên được gọi là “Tôn giáo”.
14
Như đã nói, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tôn giáo; song có thể liệt
kê ra một số định nghĩa được nhiều người biết đến sau đây:
- Theo C.Mác: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim
của thế giới không có trái tim. Cũng như nó là tinh thần của trạng thái xã hội mà ở
đó tình thần bị loại bỏ…Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân…” [5]. Các nhà kinh
điển của chủ nghĩa Mác cho rằng tôn giáo là sự phản ánh một cách biến dạng, sai
lệch, hư ảo về giới tự nhiên và con người, về các quan hệ xã hội. Hay nói cách khác,
tôn giáo là sự nhân cách hóa giới tự nhiên, là sự “đánh mất bản chất người”. Chính
con người đã khoác cho thần thánh những sức mạnh siêu nhiên khác với bản chất của
mình để rồi từ đó con người có chỗ dựa, được che chở, an ủi, dù đó chỉ là chỗ dựa “hư
ảo”. Về bản chất sâu xa, theo các nhà triết học Mác xít cho rằng con người thực ra
đang nghiêng mình trước bản chất của chính mình những lại thần thánh hóa nó như
một bản chất xa lạ nào đó. Tôn giáo suy cho cùng là sự phản ánh về những lực lượng
bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của con người nhưng họ tiếp nhận nó một
cách hư ảo đồng thời cho rằng những lực lượng ở trần thế đó sức mạnh siêu trần thế.
Tôn giáo là kết quả của nhận thức còn yếu kém của những con người lao động trong
xã hội còn nhiều bất công.
- Theo định nghĩa của giáo hội (thần học) thì tôn giáo là mối liên hệ của con

con người mà còn thể hiện niềm tin sâu sắc của họ về một cuộc sống lý tưởng khi
theo một tôn giáo nào đó. Ngoài ra, tôn giáo được biết đến là hệ thống hoàn chỉnh
các quan niệm, ý thức tín ngưỡng, thể hiện tập trung ở lòng tin, tình cảm tôn giáo,
hành vi và hoạt động tôn giáo. Tôn giáo là hình thức tín ngưỡng có giáo lý, giáo
luật, lễ nghi và giáo hội, được tổ chức chặt chẽ.
Tóm lại, tôn giáo được hiểu là niềm tin của con người vào các thế lực siêu
nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, nhằm lý giải những vấn đề trong đời sống,
tuy nhiên, tùy vào tôn giáo, vào hoàn cảnh lịch sử, yếu tố văn hóa mà niềm tin đó
được thể hiện đa dạng theo các cách riêng.
1.1.2.2. Bản chất, nguồn gốc ra đời của tôn giáo
16
Tôn giáo xuất hiện từ rất lâu và con người mặc nhiên chấp nhận nó. Người ta
chỉ quan tâm nhiều tới tôn giáo, nghiên cứu nhiều hơn về lịch sử hình thành và phát
triển của tôn giáo khi mà nó thực sự trở thành một vấn đề bức xúc và phức tạp.
Tôn giáo là một sản phẩm của lịch sử. Trên những quan niệm của C.Mác và
Ph. Ăngghen về tôn giáo, có thể nói rằng, tôn giáo là sản phẩm của con người, do
con người sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu về tinh thần của con người trong xã
hội, tôn giáo tạo cho con người có niềm tin vào thế giới vô hình nơi hư vô, nhưng
con người vẫn sống trong cuộc sống hữu hình nơi trần thế, đồng thời tôn giáo quy
định những luật lệ, nghi thức mang tính thiêng liêng để con người thực hành, tuân
theo. Tôn giáo là một thực thể khách quan của loài người nhưng lại là một thực thể
có nhiều quan niệm phức tạp cả về nội dung cũng như hình thức biểu hiện. Nội
dung cơ bản của tôn giáo là niềm tin (hay tín ngưỡng) tác động lên các cá nhân, các
cộng đồng. Tôn giáo thường đưa ra các giá trị có tính tuyệt đối làm mục đích cho
con người vươn tới cuộc sống tốt đẹp và nội dung ấy được thể hiện bằng những
nghi thức, những sự kiêng kỵ.
Với những thành tựu to lớn của ngành khảo cổ học, người ta chứng minh
được sự tồn tại của con người cách đây hàng triệu năm. Tuy nhiên, với những hiện
vật thu được người ta khẳng định có đến hàng triệu năm con người không hề biết tới
tôn giáo. Bởi lẽ tôn giáo đòi hỏi tương ứng với nó là một trình độ nhận thức cao, nó

xảy ra. Những tôn giáo như Kitô, Hồi do tính cực đoan của mình nên ban đầu đi đến
đâu cũng khó chung sống với các tôn giáo khác đã có mặt ở đó từ trước. Còn một số
tôn giáo phương Đông như Nho, Phật thì khác, họ chấp nhận hòa đồng với các tôn
giáo bản địa, có xu hướng trần tục nhiều hơn là thế giới bên kia.
Cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra một xã hội công nghiệp, xã hội này
đòi hỏi phải có một tôn giáo năng động và tự do hơn, khó chấp nhận một tổ chức,
hay một giáo lý với những nghi thức cứng nhắc, phức tạp. Tình trạng độc tôn của
một tôn giáo trong một quốc gia đã bắt đầu chấm dứt và chấp nhận sự đa dạng trong
đời sống tôn giáo. Từ đây quan niệm và sau là chính sách tự do tôn giáo ra đời, phát
triển nhanh hay chậm và thể hiện khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Những yếu
18
tố lỗi thời được hủy bỏ hoặc thay đổi, thay thế để thích nghi. Với xu thế quốc tế hóa
ngày càng gia tăng, việc mỗi cá nhân chỉ biết đến tôn giáo của mình đã trở nên lạc
hậu. Mỗi người đều cho rằng trên thế gian có nhiều thánh thần, có nhiều tôn giáo.
Họ bắt đầu hoài nghi và lựa chọn, thần thánh được mang ra tranh luận, bàn cãi hay
làm nảy sinh xu thế thế tục hóa tôn giáo và xu thế này ngày càng thắng thế.
Trong thời đại ngày nay, khi mà xu thế toàn cầu hóa đang chi phối mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội, sự nâng cao về trình độ học vấn và đặc biệt là những thành
tựu khoa học và công nghệ đã làm cho các tôn giáo ngày càng trở nên thế tục hóa
kéo theo sự đa dạng trong đời sống tôn giáo. Từ đây xuất hiện các ý kiến khác nhau
trong một tôn giáo và dẫn tới sự chia rẽ trong các tôn giáo một cách có tổ chức,
bùng nổ các giáo phái và xuất hiện nhiều tôn giáo mới. Bản thân trong các tôn giáo
khu vực và thế giới cũng có những biểu hiện khác trước: Số tín đồ ngày càng tăng
nhưng số tín đồ thực tế giảm, nghĩa là người ta theo đạo nhưng không hành đạo,
nhiều tín đồ bỏ đạo để theo các đạo mới. Trong nội bộ các tôn giáo có sự chia rẽ
thành những giáo phái với những tính chất cấp tiến, ôn hòa hoặc cực đoan.
Để giải thích cho sự ra đời của tôn giáo Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng,
trong xã hội nguyên thủy trình độ sản xuất thấp kém, con người cảm thấy yếu đuối
và bất lực trước thiên nhiên rộng lớn và bí ẩn, vì vậy, họ đã gắn cho tự nhiên những
sức mạnh, quyền lực to lớn, thần thánh hóa những sức mạnh đó và xây dựng nên

lý, hướng dẫn về mặt tín ngưỡng của giáo hội.
1.1.2.4. Phân biệt tín ngưỡng và tôn giáo
Hiện tại có nhiều ý kiến khác nhau khi sử dụng khái niệm “tôn giáo” và “tín
ngưỡng” – hai cặp phạm trù luôn đi liền với nhau. Theo quan điểm truyền thống,
người ta có ý thức phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng, thường coi tín ngưỡng ở trình
độ thấp hơn so với tôn giáo. Loại quan điểm thứ hai đồng nhất tín ngưỡng với tôn
giáo và đều gọi chung là tôn giáo, tuy có phân biệt tôn giáo dân tộc, tôn giáo
nguyên thủy, tôn giáo địa phương, tôn giáo thế giới.
Tuy nhiên, điều dễ nhận thấy sau khi nghiên cứu về 2 khái niệm này đó là tín
ngưỡng chính là tiền đề của tôn giáo. Khi mới hình thành tín ngưỡng sẽ trải qua một
20
thời gian thích ứng xã hội và khi được tổ chức chặt chẽ, có nghi lễ, có giáo điều rõ
ràng thì mới có thể trở thành một tôn giáo. Do đó, sự khác nhau cơ bản giữa tôn
giáo và tín ngưỡng thể hiện ở một số điểm như: Tôn giáo có hệ thống giáo lý, kinh
điển được truyền thụ qua giảng dạy và học tập ở các địa điểm tôn giáo như tu viên,
thánh đường, học viện; có hệ thống thần điện, có tổ chức giáo hội, hội đoàn chặt
chẽ, có nơi thờ cúng riêng như nhà thờ, chùa chiền, thánh đường; nghi lễ thờ cúng
chặt chẽ, có sự tách biệt giữa thế giới thần linh và con người. Còn tín ngưỡng chưa
có hệ thống giáo lý mà chỉ có huyền thoại, thần tích, truyền thuyết. Tín ngưỡng
mang tính chất dân gian, gần với sinh hoạt văn hóa dân gian. Trong tín ngưỡng có
sự hòa nhập giữa thế giới thần linh và con người, nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân
tán, chưa thành quy ước chặt chẽ.
Ngoài ra một nhận định khác tiếp cận phổ biến hiện nay phân biệt giữa tôn
giáo và tín ngưỡng, trong đó tôn giáo cũng là một dạng tín ngưỡng nhưng đã phát
triển ở trình độ cao về phương diện tổ chức. Một tín ngưỡng chỉ được coi là tôn
giáo khi có số lượng tín đồ đông và quan trọng hơn là có giáo luật, giáo hội và giáo
dân. Nói cách khác, nói đến tín ngưỡng mới chỉ đề cập tới niềm tin vào thế lực siêu
nhiên tại một vùng miền nhất định. Còn nói đến tôn giáo thì ngoài niềm tin vào thế
lực siêu nhiên còn bao gồm các yếu tố tổ chức như hội đoàn, phong tục, luật lệ, cơ
sở thờ tự…phổ biến có thể là một vùng, một quốc gia nhưng cũng có thể là nhiều

Một khái niệm nữa cần được quan tâm trong tìm hiểu về quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo là “tự do”. Theo cách hiểu thông thường nhất, tự do là một khái
niệm mô tả tình trạng khi một cá nhân không bị sự ép buộc, có cơ hội lựa chọn và
hành động theo đúng với ý chí nguyện vọng của mình. Còn tự do tín ngưỡng hay tự
do tôn giáo thường được coi là một nguyên tắc ủng hộ quyền tự do của cá nhân hay
cộng đồng trong việc công khai hoặc bí mật thực hành, thờ phụng, rao giảng hay tu
tập một tôn giáo hay tín ngưỡng. Khái niệm này thường được thừa nhận bao gồm cả
việc tự do thay đổi tôn giáo hoặc tư do không theo một tôn giáo nào.
Quan niệm của Thánh Công đồng Vantican II:
22
Con người có quyền tự do tôn giáo, quyền tư do này con người
không bị lệ thuộc vào áp lực cá nhân, đoàn thể xã hội hay của bất cứ
quyền bính trần gian nào khác. Với ý nghĩa đó, trong lĩnh vực tôn giáo,
không ai bị ép buộc hành động trái với lương tâm, cũng không ai bị ngăn
cấm hành động theo lương tâm, dù cho đó là hành động riêng tư hay
công khai, một mình hay cùng với người khác, trong những giới hạn
chính đáng [15].
Tự do tôn giáo còn có nghĩa là các cộng đoàn tôn giáo không bị
ngăn cản trong việc tự do biểu lộ các hiệu năng riêng của giáo thuyết
mình trong việc tổ chức xã hội và làm cho toàn thể sinh hoạt nhân loại
được sống. Sau hết, theo bản tính xã hội của con người, cũng như theo
bản chất của tôn giáo, con người có quyền tự do hội họp hay thành lập
những hiệp hội giáo dục, văn hóa, từ thiện và xã hội do cảm thức tôn
giáo thúc đẩy [16].
Từ những cách hiểu khác nhau trên, tác giả đưa ra nhận định chung về quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo: Là quyền con người mà trong đó mỗi cá nhân có thể lựa
chọn tín ngưỡng, tôn giáo theo ý muốn của mình, việc lựa chọn ở đây được hiểu là
quyền theo hoặc không theo một tín ngưỡng, tôn giáo; quyền được thay đổi tôn
giáo, quyền được thể hiện, bày tỏ tín ngưỡng tôn giáo của mình.
Đặc điểm: Là quyền con người nên quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng

Thứ nữa, mỗi tôn giáo đều có theo những lý tưởng cao đẹp, đưa ra những
quy tắc đối nhân xử thế giữa con người với con người, giữa con người với thiên
nhiên, những quy tắc đề cao, cổ vũ tình yêu thương đồng loại, sự công bằng, bình
đẳng bác ái – những nguyên tắc nền tảng của quyền con người. Việc bảo đảm tự do
tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ là vấn đề luật pháp mà còn là vấn đề đạo đức. Tín
ngưỡng, tôn giáo có ảnh hưởng mạnh đến nhận thức cá nhân, hiểu biết về thế giới
quan của mỗi người, niềm tin vào thế lực siêu nhiên nào đó, được coi là nhân tố chủ
đạo trong việc thực hiện bản sắc văn hóa của mỗi người. Do vậy, quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo không đơn thuần chỉ được đánh giá, nhìn nhận qua các quy định
của pháp luật mà còn dựa trên quan niệm đạo đức của con người.
24
Một điều dĩ nhiên đó quốc gia độc tài hay không có dân chủ thì khó mà
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được tôn trọng và đảm bảo. Quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo còn mang những đặc thù của điều kiện lịch sử, truyền thống văn
hóa, hệ thống chính trị – xã hội của mỗi quốc gia dân tộc. Tuy nhiên điều này không
có nghĩa là có thể viện dẫn truyền thống văn hóa đặc thù để biện luận cho những vi
phạm hoặc để bảo vệ và duy trì cho những tập tục có tính chất phân biệt đối xử về
tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Vai trò quan trọng nhất trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo cũng giống như các quyền con người khác, đặc biệt là nhóm
quyền dân sự chính trị chính là Nhà nước với cả ba cấp độ: Tôn trọng, bảo vệ và
thực hiện quyền. Theo đó, Nhà nước phải kiềm chế không can thiệp, kể cả trực tiếp
hay gián tiếp vào việc hưởng thụ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân,
ngăn chặn sự vi phạm quyền tự do này từ các bên thứ ba dựa trên các cơ chế phòng
ngừa, xử lý các hành vi vi phạm và phải có những kế hoạch, chính sách, chương
trình cụ thể để đảm bảo cho công dân – người theo đạo và người không theo đạo
được hưởng đầy đủ quyền của mình.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là một quyền tuyệt đối. Điều
này có nghĩa là quyền này có thể bị giới hạn với các lý do nhất định và sự giới hạn
đó được xem là hợp lý. Các lý do hạn chế được đưa ra trong Điều 18 của Công ước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status