Đề án môn học QTKDCN & XD
Lời nói đầu
Ngành cơ khí là một ngành có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân. Công nghiệp cơ khí không chỉ cung cấp các sản phẩm tiêu dùng mà quan
trọng hơn là cung cấp thiết bị, máy móc cho nhiều ngành sản xuất khác. Đặc
biệt trong điều kiện hiện nay khi đất nước ta đang tiến hành công nghiệp hoá -
hiện đại hoá thì công nghiệp cơ khí càng có vai trò to lớn hơn bao giờ hết.
Ngay từ khi mới ra đời, ngành công nghiệp cơ khí ở nước ta đã được
Đảng và Nhà nước xác định là ngành có vai trò then chốt và luôn được ưu tiên
phát triển. Tuy nhiên, từ khi bước sang cơ chế thị trường, ngành cơ khí Việt
Nam đã bộc lộ rất nhiều yếu kém, trong đó vấn đề nổi cộm nhất là khả năng
cạnh tranh của ngành rất hạn chế ngay cả ở thị trường trong nước. Chính vì
vậy, các doanh nghiệp trong ngành đã không đủ sức cạnh tranh với hàng hoá
ngoại nhập, bị thu hẹp thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh gặp rất nhiều
khó khăn nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ bị phá sản.
Vì vậy, để ngành cơ khí có thể tồn tại và phát triển đáp ứng yêu cầu của
công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước không còn cách nào khác
là phải nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp cơ khí không chỉ ở
thị trường trong nước mà còn ở cả thị trường quốc tế.
Chính từ tính cấp thiết và hữu dụng của vấn đề, với mong muốn đóng
góp phần nhỏ bé của mình vào việc tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh của ngành cơ khí em đã chọn đề tài : “Một số giải pháp
nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành cơ khí Việt Nam ”.
Ngoài lời nói đầu và phần kết luận,kết cấu đề án gồm ba phần.
Phần I : Cạnh tranh và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp trong cơ chế thị trường
Phần II : Thực trạng khả năng cạnh tranh của ngành cơ khí Việt
Nam hiện nay.
1
Đề án môn học QTKDCN & XD
Phần III : Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của
cầu, trong đó người mua và người bán cùng bình đẳng, cùng cạnh tranh với
nhau. Việc xác định nên mua hay nên bán hàng hoá và dịch vụ với số lượng và
giá cả bao nhiêu do cung cầu xác định.
Sự phân định thị trường sản phẩm công nghiệp và thị trường các yếu tố
sản xuất kinh doanh chỉ mang ý nghĩa tương đối, bởi vì từng doanh nghiệp
công nghiệp, trong quan hệ với thị trường, bao giờ họ cũng vừa là người mua
và vừa là người bán.
Thị trường gắn liền với quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, nó ra
đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của sản xuất lưu thông hàng
hoá. Thị trường hoạt động dựa trên các quy luật sau đây:
- Quy luật giá trị
- Quy luật cung cầu
3
Đề án môn học QTKDCN & XD
- Quy luật lưu thông tiền tệ
- Quy luật cạnh tranh
II. Cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của các doanh
nghiệp trên thị trường.
1. Cạnh tranh trong cơ chế thị trường.
1.1. Quan niệm về cạnh tranh.
Thuật ngữ “cạnh tranh” có nguồn gốc từ tiếng La tinh với nghĩa chủ yếu
là sự đấu tranh, ganh đua, thi đua giữa các đối tượng cùng phẩm chất, cùng
loại, đồng giá trị nhằm đạt được những ưu thế, lợi Ých, mục tiêu xác định.
Kinh tế học định nghĩa cạnh tranh là sự tranh giành thị trường ( khách
hàng ) để tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, cạnh tranh là một điều kiện và là
yếu tố kích thích kinh doanh, là môi trường và động lực thúc đẩy sản xuất phát
triển, tăng năng suất lao động, tạo sự phát triển của xã hội nói chung. Kết quả
cạnh tranh sẽ tự loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả và tất yếu
những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả sẽ đứng vững trên thị trường.
nghiệp hay đồng minh giữa các nhà doanh nghiệp trong các ngành kinh tế
với nhau nhằm giành giật lợi nhuận cao nhất.
2. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và những chỉ tiêu
phản ánh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
2.1. Khái niệm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
WEF- “Báo cáo về khả năng cạnh tranh toàn cầu năm 1997”, định
nghĩa : Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà
doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên
thị trường cạnh tranh, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận Ýt nhất bằng tỷ lệ
đòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời thực hiện
được những mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra.
Theo quan điểm tổng hợp của Wan Buren, Martin và Westqren ( 1991),
khả năng cạnh tranh của một ngành ( một doanh nghiệp ) là khả năng tạo ra và
duy trì lợi nhuận và thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước.
Như vậy, có thể hiểu khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp là năng
lực, khả năng về mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp : hoạt động sản xuất,
hoạt động quản trị cũng như khâu tiêu thụ nhằm sản xuất ra được những sản
phẩm hàng hoá và dịch vụ có chất lượng cao với chi phí sản xuất thấp, được
thị trường chấp nhận nhờ đó tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, không
ngừng duy trì và mở rộng thị phần , xác lập cho doanh nghiệp một chỗ đứng
vững chắc trên thị trường.
2.2. Các chỉ tiêu phản ánh khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Để phản ánh khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp, người ta dùng
rất nhiều các chỉ tiêu khác nhau gồm các chỉ tiêu định lượng và các chỉ tiêu
định tính.
2.2.1. Các chỉ tiêu định lượng.
- Thị phần của doanh nghiệp : Đây là một chỉ tiêu thường được sử
dụng để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được
5
và phát triển nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng
cao phản ánh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
- Vị thế của doanh nghiệp trên thị trường : Các doanh nghiệp phải
xây dựng nhãn hiệu riêng của mình và khi đọc đến tên nhãn hiệu người tiêu
dùng trên toàn thế giới có thể phân biệt được tiềm lực, chất lượng, phương
thức phục vụ của sản phẩm này như thế nào so với các sản phẩm khác.
6
Đề án môn học QTKDCN & XD
III. Những nhân tố tác động đến khả năng cạnh tranh của
các doanh nghiệp trên thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, khả năng cạnh tranh của bất kỳ một doanh
nghiệp nào cũng phải chịu ảnh hưởng của ba nhóm nhân tố sau :
1. Nhóm nhân tố thuộc môi trường vĩ mô.
Đây là nhóm nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp. Nhóm nhân tố này bao gồm các nhân tố sau :
- Các nhân tố về mặt kinh tế.
- Các nhân tố về chính trị, luật pháp.
- Các nhân tố về khoa học – công nghệ.
- Các yếu tố về văn hoá-xã hội.
- Các yếu tố tự nhiên.
2. Nhóm nhân tố thuộc môi trường ngành.
Môi trường ngành là môi trường phức tạp nhất và ảnh hưởng nhiều nhất
đến cạnh tranh. Sù thay đổi thường diễn ra thường xuyên khó dự báo được và
phụ thuộc vào các lực lượng sau đây :
- Sức Ðp của đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành : Khi trong ngành
kinh doanh của doanh nghiệp có số lượng đông đối thủ cạnh tranh hoặc có
nhiều đối thủ thống lĩnh thị trường thì cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt hơn.
- Sự đe doạ của các đối thủ cạnh tranh tiềm Èn sẽ gia nhập thị trường
- Sức Ðp của nhà cung ứng : Quyền lực của nhà cung ứng được khẳng
định thông qua sức Ðp về giá nguyên vật liệu.
Khả năng tài chính của doanh nghiệp quyết định tới việc thực hiện hay
không thực hiện bất cứ một hoạt động đầu tư, mua sắm hay phân phối của
doanh nghiệp. Doanh nghiệp có tiềm lực về tài chính sẽ có điều kiện để đổi
mới công nghệ, đầu tư trang thiết bị, đảm bảo nâng cao chất lượng, hạ giá
thành. Như vậy, doanh nghiệp sẽ duy trì và nâng cao sức cạnh tranh, củng cố
vị trí của mình trên thị trường.
IV. Một số nội dung và yêu cầu chủ yếu của hoạt động quản trị
nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp vừa là đối tượng vừa là động lực chủ yếu của quá trình
phát triển kinh tế, vì vậy có thể khằng định là năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp cần phải được nâng cao, phải được đảm bảo và phát triển. Muốn
vậy, doanh nghiệp cần phải nâng cao hiệu quả trong mọi hoạt động quản trị
của mình, đặc biệt chú ý các lĩnh vực sau :
1. Lĩnh vực sản xuất
Sản xuất là việc sử dụng con người lao động để tác động lên các yếu tố
đầu vào của quá trình sản xuất ( vật tư, máy móc, đất đai, thông tin ) để làm
ra các sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với nhu cầu thị trường.
Lĩnh vực này gồm các nhiệm vụ cụ thể sau :
- Hoạch định chương trình
- Xây dựng kế hoạch sản xuất
- Điều khiển quá trình sản xuất
8
Đề án môn học QTKDCN & XD
- Kiểm tra chất lượng
Lĩnh vực sản xuất có vai trò rất quan trọng. Tổ chức sản xuất hợp lý sẽ
góp phần to lớn vào việc sử dụng có hiệu quả nguyên, nhiên, vật liệu, thiết bị,
máy móc và sức lao động trong quá trình sản xuất. Từ đó, có thể sản xuất
được những sản phẩm có chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu thị trường với
chi phí thấp nhất. Vì vậy, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp tất
yếu phải tổ chức tốt quá trình sản xuất.
9
Đề án môn học QTKDCN & XD
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một yêu cầu tất yếu đối với mọi
doanh nghiệp hiện nay. Mét doanh nghiệp có nguồn nhân lực có trình độ cao,
được sử dụng một cách hợp lý sẽ có năng suất lao động cao. Nhờ vậy, sẽ giảm
chi phí, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm. Kết quả là sẽ nâng cao
khả năng cạnh tranh trên thị trường.
4. Lĩnh vực tài chính
Quản trị tài chính là việc lập kế hoạch, điều khiển và kiểm tra các dòng
lưu thông của các phương tiện tài chính của doanh nghiệp . Đó là sự quản trị
các mối quan hệ tài chính phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp và giữa doanh
nghiệp với các đối tác bên ngoài.
Nội dung của quản trị tài chính gồm :
- Huy động vốn
- Sử dụng vốn
- Quản lý vốn
Mục đích của quản trị tài chính là nhằm sử dụng vốn một cách có hiệu
quả để thu lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp, bảo đảm khả năng thanh toán
cho doanh nghiệp, bảo toàn và phát triển vốn, bảo đảm an toàn tài chính Có
thể nói, thực hiện tốt chức năng quản trị tài chính là một đòi hỏi tất yếu để
nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp bởi nguồn lực về vốn luôn là một
nhân tố có tác động quyết định đến sức cạnh tranh.
PHẦN II
THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NGÀNH CƠ
KHÍ VIỆT NAM HIỆN NAY
I. Đặc điểm của ngành cơ khí Việt Nam có ảnh hưởng đến
khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp cơ khí.
1. Qúa trình hình thành và phát triển ngành cơ khí Việt Nam
Ngành công nghiệp cơ khí ở nước ta có một lịch sử phát triển trên 40
năm và luôn được xác định là ngành công nghiệp then chốt. Ngay từ năm
tùng, dịch vụ sửa chữa. Số doanh nghiệp tư nhân đầu tư công nghệ mới
tiên tiến chưa xuất hiện nhiều
Cơ khí có vốn đầu tư nước ngoài : Có quy mô và sản lượng lớn
chiếm lĩnh một số ngành hàng công nghiệp trong nước, chủ yếu trong
lĩnh vực lắp ráp ô tô, xe máy.
2.2. Đặc điểm về sản phẩm.
Ngành cơ khí Việt Nam sản xuất và cung cấp một phạm vi sản phẩm khá
rộng gồm một số phân ngành như : ngành cơ khí chế tạo máy động lực; ngành
cơ khí chế tạo thiết bị và vật liệu kỹ thuật điện, ngành cơ khí chế tạo máy công
cụ, ngành cơ khí chế tạo kết cấu thép, ngành cơ khí phục vụ quốc phòng,
ngành cơ khí sửa chữa và sản xuất hàng gia dụng Hầu hết các sản phẩm này
chất lượng chưa cao, chưa có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước
và quốc tế. Các sản phẩm cơ khí Việt Nam vẫn đang bị hàng ngoại nhập cạnh
tranh quyết liệt.
2.3. Đặc điểm về thị trường.
11
Đề án môn học QTKDCN & XD
Ngành cơ khí Việt Nam có một thị trường sản phẩm rất rộng lớn, đa
dạng. Bao gồm : thị trường máy móc- thiết bị phục vụ cho sản xuất công
nghiệp và giao thông vận tải, thị trường máy móc- thiết bị phục vụ sản xuất
nông-lâm-ngư nghiệp, thị trường máy móc-thiết bị phục vụ xây dựng, thị
trường máy móc- thiết bị phục vụ tiêu dùng
Hiện nay, nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nên
nhu cầu về sản phẩm cơ khí càng cao. Có thể nói, ngành cơ khí Việt Nam có
một lợi thế to lớn : đó là có một thị trường rộng lớn để tiêu thụ sản phẩm.
Song trên thực tế các sản phẩm của ngành cơ khí nước ta chưa đáp ứng được
nhu cầu thị trường. Vì vậy, chỉ chiếm một thị phần rất nhỏ bé và khiêm tốn.
2.4. Đặc điểm về công nghệ.
Công nghệ và thiết bị vạn năng cũ kỹ, lạc hậu hàng 30-40 năm so với
khu vực và 50-60 năm so với thế giới. Có tới 95% thiết bị được gom nhặt từ
II. Phân tích và đánh giá thực trạng khả năng cạnh tranh của
ngành cơ khí Việt Nam.
1.Thực trạng khả năng cạnh tranh của ngành cơ khí Việt Nam hiện
nay.
1.1. Đánh giá tổng quan khả năng cạnh tranh của các doanh
nghiệp trong ngành cơ khí Việt Nam hiện nay.
Hiện nay, ngành cơ khí có 1599 doanh nghiệp trong nước và gần 30000
hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp cơ khí với giá trị tài sản gần 500 triệu USD
sản xuất khoảng 7000 tỷ đồng giá trị sản lượng với hơn 500 chủng loại sản
phẩm như các máy công cụ, động cơ diesel, động cơ điện, động cơ xăng. xe
vận tải và máy kéo nhỏ ( 12 CV ) Nhiều sản phẩm mới chưa bao giờ nước ta
tự sản xuất trong thời kỳ trước năm 1990 như xe máy, thiết bị kết cấu khối
lượng siêu trường, siêu trọng, thiết bị tham gia vào các công trình lớn như xi
măng, đường mía, thuỷ điện, nhiệt điện, luyện kim, khai thác dầu khí đã lần
lượt ra đời. Có thể nói, trong hơn 10 năm đổi mới vừa qua, ngành cơ khí đã có
rất nhiều nỗ lực. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là quá trình thích nghi để không bị tụt
lùi, để tồn tại nên đến nay ngành chỉ đáp ứng được 8-9% nhu cầu của nền kinh
tế quốc dân và trên tổng thể ngành vẫn ở bên bờ của khủng hoảng. Hầu hết các
doanh nghiệp cơ khí đang ở trạng thái hoạt động yếu và không có tính cạnh
tranh quốc tế.
Trước hết, sức sản xuất của ngành công nghiệp cơ khí hiện nay vẫn còn
quá nhỏ bé chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường, kể cả thị trường trong
nước và thị trường nước ngoài.
Thị trường trong nước : Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hoá-
hiện đại hoá nên nhu cầu về các sản phẩm của ngành cơ khí rất cao, đặc biệt là
nhu cầu về các thiết bị cho các ngành sản xuất công nghiệp, nhu cầu về máy
móc phục vụ giao thông vận tải, nông nghiệp Trong những năm gần đây,
cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, nhu cầu về các sản phẩm cơ
khí lại càng tăng nhanh và đa dạng đặc biệt là nhu cầu về thiết bị đồng bộ để
cải tạo đầu tư chiều sâu, xây dựng các nhà máy mới và các loại hàng tiêu dùng
Đơn vị : tỷ đồng
Thời gian 1997 1998 1999
Tổng kim ngạch nhập khẩu trong cả
nước
15592,3 11499,6 11636
Kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết
bị
3511,5 3511,3 2749
Tỷ lệ phần nhập máy móc thiết bị cơ
khí trong tổng kim ngạch nhập khẩu
30,3% 30,55% 23,6%
14
Đề án môn học QTKDCN & XD
Từ thực trạng khả năng sản xuất như trên, thị phần của các doanh nghiệp
cơ khí Việt Nam rất khiêm tốn. Phần lớn thị phần của các sản phẩm cơ khí của
nước ta bị Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản chiếm giữ. Các doanh nghiệp
cơ khí Việt Nam chỉ chiếm một phần rất nhỏ bé. Một số sản phẩm của ngành
cơ khí đang bị mất dần thị trường tiêu thụ ngay trong nước, đặc biệt trong việc
sản xuất và cung cấp thiết bị toàn bộ.
Các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam thời gian qua đã nhập hàng tỷ
USD thiết bị, máy móc như chương trình các nhà máy xi măng lò đứng, lò
quay, thiết bị mía đường, thiết bị nhà máy bia, thiết bị dầu khí trong khi các
đơn đặt hàng của ngành cơ khí Việt Nam vẫn ở “ bên ngoài” hoặc nếu có tham
gia thì chỉ ở dạng nhà thầu phụ với khối lượng rất Ýt ỏi và rẻ mạt. Thí dụ như
công trình xây dựng nhà máy điện Phả Lại, cần khoảng 25000 tấn thiết bị cơ
khí phi tiêu chuẩn trị giá khoảng 30 triệu USD, tuy nhiên sự tham gia của các
tổng công ty lớn như Tổng công ty Coma, Tổng công ty lắp máy Việt Nam
LILAMA chỉ với tư cách là nhà thầu phụ, thậm chí phụ của thầu phụ. Với tư
cách này phần mà các doanh nghiệp Việt Nam được hưởng chỉ bằng khoảng
gần 40% giá trị các nhà thầu chính có được.
hiệu đáng mừng song trên thực tế do năng lực sản xuất còn yếu kém lại phải
đương đầu với những đối thủ cạnh tranh lớn, đặc biệt là Trung Quốc, nên khả
năng cạnh tranh của ngành cơ khí nước ta còn rất thấp kém. Để thấy rõ khả
năng cạnh tranh của ngành cơ khí Việt Nam, ta phân tích ở một số điểm chủ
yếu sau :
1.2.1. Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm.
Ngành cơ khí Việt Nam cung cấp một phạm vi sản phẩm khá rộng. Các
sản phẩm của ngành cơ khí bao gồm các máy công cụ, động cơ diesel, động cơ
điện, động cơ xăng, xe vận tải và máy kéo nhỏ, tàu sông và tàu biển, các thiết
bị phục vụ sản xuất, xây dựng Song nhìn chung thì chỉ có một số lượng nhỏ
các sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước, còn lại phần
lớn các sản phẩm là không có tính cạnh tranh và rất Ýt sản phẩm có tính cạnh
tranh trên thị trường quốc tế.
Trước hết, phải khẳng định rằng, trong những năm đổi mới vừa qua
ngành cơ khí cũng đã có rất nhiều nỗ lực trong việc đổi mới thiết bị, mở rộng
chủng loại sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm để ngày càng đáp ứng
nhu cầu thị trường song trên thực tế chất lượng sản phẩm nói chung của cả
ngành cơ khí còn chưa phù hợp với yêu cầu của thị trường . Từ đó dẫn đến sản
phẩm có khả năng tiêu thụ kém và khó có khả năng xuất khẩu.
Đối với thiết bị toàn bộ : Thiết bị toàn bộ được hiểu là một dây chuyền
công nghệ hoàn chỉnh liên hoàn nhằm sản xuất ra một hoặc là một số loại sản
phẩm nhất định hoặc thực hiện một chức năng nhất định có giá trị lớn ( một
vài triệu đồng ). Thiết bị toàn bộ nào cũng bao gồm nhiều chi tiết, cụm chi tiết
cấu thành, trong đó thiết bị đơn giản, thiết bị đồng dạng mà dây chuyền nào
cũng có như : bồn, bệ, tháp, băng tải, đường ống chiếm một tỷ trọng không
nhỏ. Trong thời gian gần đây, ngành cơ khí Việt Nam đã cung cấp được khá
nhiều thiết bị đồng bộ cho các ngành sản xuất vật chất trong nước. Trong lĩnh
vực điện khí hoá, ngành cơ khí Việt Nam đã có thể tham gia chế tạo các công
trình thuỷ điện lớn với công suất tổ máy đến 300MW, có thể chế tạo được các
16
ngạch nhập khẩu của toàn ngành cơ khí. Dự đoán kế hoạch 5 năm này sẽ nhập
khoảng 9-10 tỷ USD và kế hoạch 5 năm tiếp theo sẽ nhập khoảng 15-17 tỷ
USD. Lý do chính của tình trạng này là do thiết bị toàn bộ của Việt Nam Ýt về
chủng loại, nhỏ bé về khối lượng cung cấp hơn nữa, các nhà đầu tư chưa tin
tưởng vào chất lượng của thiết bị toàn bộ trong nước.
Đối với thiết bị lẻ, dụng cụ, phụ tùng : Đây là các sản phẩm mà sau khi
sản xuất xong có thể được sử dụng một cách độc lập hoặc được bán ngay ra
thị trường mà không nhất thiết phải gắn kết với các sản phẩm cơ khí khác. Đặc
17
Đề án môn học QTKDCN & XD
điểm thứ hai của nhóm sản phẩm này là giá trị một sản phẩm không quá lớn
( tối đa 400-500 ngàn USD ). Nhóm này có thể bao gồm phương tiện vận tải
bộ, động cơ diezel, thiết bị nông nghiệp, thiết bị điện, thiết bị cơ điện, điện tử,
hàng tiêu dùng ( quạt, điều hoà nhiệt độ, tủ lạnh, máy giặt ), máy gia công
kim loại, các dụng cụ, phụ tùng cầm tay So với thiết bị toàn bộ, nhóm này có
khả năng cạnh tranh tốt hơn. Một số sản phẩm đã có thị trường ổn định ở trong
nước, một số sản phẩm đã có thể vươn ra xuất khẩu. Tuy nhiên, nhìn một cách
tổng quát, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam về chất
lượng sản phẩm vẫn còn rất yếu kém. Đó chính là nguyên nhân khiến các sản
phẩm cơ khí của Trung Quốc chiếm lĩnh hầu hết thị trường trong cả nước.
Chúng ta sẽ phân tích một số mặt hàng và một số công ty để thấy rõ điều đó.
Trên thị trường động cơ diesel : Theo những nhà quản lý của VINAPRO
( nhà sản xuất động cơ diesel hàng đầu của Việt Nam ) thì công ty của họ có
thị phần chỉ khoảng 5% trong khi đó động cơ của Đài Loan, Trung Quốc và
động cơ cũ nhập khẩu ( chủ yếu của Nhật Bản ) chiếm lĩnh hầu như 95% thị
phần còn lại.
Công ty cơ khí Trần Hưng Đạo cũng sản xuất động cơ diesel . Sản phẩm
chủ yếu của công ty là D12 – là loại động cơ nhỏ sản xuất theo mẫu của Trung
Quốc. Theo những nhà quản lý, động cơ đã bị hỏng thường xuyên, có một hệ
thống nhiên liệu không hoàn hảo, chảy dầu, quá ồn và khó khởi động. Những
về giá cả rất thấp. Hầu hết các sản phẩm cơ khí Việt Nam đều có giá cao hơn
so với Trung Quốc - đối thủ cạnh tranh chính trên thị trường.
Theo số liệu của Tổng công ty máy động lực và máy nông nghiệp Việt
Nam ( VEAM), thị trường máy nông nghiệp Việt Nam đang bị máy Trung
Quốc thao túng. Lý do máy Việt Nam phải rút khỏi sân nhà là hàng của ta
không đủ sức cạnh tranh về giá cả so với hàng của Trung Quốc. Thông
thường, máy nông nghiệp Trung Quốc rẻ hơn máy Việt Nam từ 15%-30%. Ví
dụ, động cơ 15 mã lực của Trung Quốc hiện bán trên thị trường Việt Nam là
4,5-4,7 triệu đồng một chiếc; cùng loại động cơ này do Việt Nam sản xuất bán
với giá 500-600USD trong khi động cơ chính hiệu của Nhật Bản có giá
1300USD. Hay trên thị trường máy nổ, máy nổ của Trung Quốc giá thấp
chiếm 80% thị phần. Giá một máy nổ của Trung Quốc công suất 12 mã lực là
4 triệu đồng nhưng máy nổ của Việt Nam là 6,6 triệu đồng. Máy sát gạo của
Việt Nam giá 1,7-1,9 triệu đồng một chiếc trong khi đó giá một chiếc máy sát
gạo của Trung Quốc chỉ bằng một nửa. Máy Trung Quốc không chỉ rẻ hơn mà
còn dễ thay thế phụ tùng hơn với chi phí rẻ hơn so với máy của Việt Nam. Ví
dụ, một bộ Visai của Trung Quốc giá chỉ có 7 triệu, thay một bánh răng chỉ
khoảng 90000-100000 đồng. Trong khi đó, một bộ Visai của Việt Nam giá 8
triệu đồng, thay một bánh răng hết tới 150000 đồng, mà theo đánh giá của
người tiêu dùng thì độ bền của 2 sản phẩm là như nhau.
Một ví dụ khác là sản phẩm máy bơm nước. Máy bơm nước của Việt
Nam hiện nay vẫn chưa hấp dẫn được người tiêu dùng. Một lý do chính là do
giá cao. Hiện nay trên thị trường Việt Nam, một máy bơm nước của Trung
Quốc chỉ khoảng 200-300 ngàn đồng một chiếc. Trong khi đó, máy bơm của
Việt Nam từ 700-800 ngàn đến hơn 1 triệu đồng một chiếc. Máy của Hàn
Quốc chất lượng cao hơn cũng chỉ từ 800000 đồng đến 2 triệu đồng một chiếc.
19
Đề án môn học QTKDCN & XD
Chính vì vậy mà máy bơm của Việt Nam chưa cạnh tranh được với các sản
phẩm cùng loại của Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản.
gặp phải biến động thường xuyên do việc cung ứng không ổn đinh.
Tình hình trên đã làm cho giá thành sản phẩm của cơ khí Việt Nam rất
cao. Các doanh nghiệp trong ngành cơ khí Việt Nam đều muốn hạ giá thành
để nâng cao sức cạnh tranh song chưa thể thực hiện được. Theo Tổng công ty
động lực và máy nông nghiệp Việt Nam ( VEAM ), trong thời gian qua công
20
Đề án môn học QTKDCN & XD
ty đã nghĩ nhiều đến việc hạ giá thành nhưng gặp rất nhiều khó khăn vì
nguyên liệu đầu vào từ kim loại đen, kim loại màu đến chất dẻo, sơn, hoá
chất để làm ra động cơ đều phải nhập khẩu. Do đó, phải chịu thuế nhập
khẩu, chi phí lưu thông nên giá thành càng cao.
Thứ hai, năng lực công nghệ hạn chế : Việc sản xuất trong ngành cơ khí
bị hạn chế bởi máy móc cũ kỹ và các hệ thống sản xuất lỗi thời. Theo Bộ
trưởng Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường, trình độ công nghệ của
ngành cơ khí Việt Nam chỉ tương đương với thời kỳ cách đây 30-50 năm của
các nước trung bình trên thế giới, lạc hậu hơn các nước tiên tiến từ 50-100
năm.
Dựa trên các tiến bộ của công nghệ thông tin hiện đại, trong những năm
gần đây, các phương pháp chế tác trên toàn thế giới đã không ngừng được cải
tiến. Các công cụ máy móc điều khiển bằng máy điện toán kỹ thuật số CNC,
việc thiết kế và chế tác có trợ giúp của máy tính ( CAD/CAM ), tự động hoá
các chức năng với các bộ điều khiển chương trình lôgic ( PLC ) là những phát
minh đã làm thay đổi một cách mạnh mẽ phương pháp sản xuất ra các loại sản
phẩm của thời đại ngày nay.
Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp sản xuất cơ khí ở Việt Nam hiện
nay hoạt động ở quy mô khá nhỏ theo tiêu chuẩn quốc tế và với các phương
tiện sản xuất rất cũ kỹ, lạc hậu. Mặc dù có một số lượng khá lớn máy công cụ
được vận hành trong ngành cơ khí nhưng chỉ có một số lượng nhỏ là máy
CNC. Phụ tùng và linh kiện thông thường đang được chế tạo bằng những máy
vạn năng, không có khả năng đảm bảo tiêu chuẩn về độ chính xác cao.
nghề cao đáp ứng yêu cầu của sản xuất vẫn là một nhiệm vụ khó khăn đối với
ngành cơ khí.
Một bất lợi nữa đối với việc tuyển chọn nguồn nhân lực cho ngành cơ khí
là số lượng sinh viên theo học các ngành cơ khí Ýt, sau khi ra trường lại
thường không muốn làm việc trong ngành cơ khí vì điều kiện làm việc thấp.
Bên cạnh đó, các công nhân kỹ thuật được đào tạo cũng rất hạn chế. Mấy năm
gần đây, số lượng các học viên theo học các trường công nhân kỹ thuật có
tăng lên đáng kể song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của ngành.’
Về việc sử dụng nguồn nhân lực : Nguồn nhân lực có chất lượng không
cao nhưng lại được sử dụng không hợp lý. Trong các doanh nghiệp cơ khí
Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước, số lượng lao động gián tiếp
chiếm tỷ lệ cao gây mất hiệu quả trong quá trình sản xuất và tăng chi phí. Hơn
nữa, quá trình tổ chức sản xuất không hơp lý dẫn đến năng suất lao động của
công nhân ngành cơ khí Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước trong khu
vực.
Về việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực : Hiện nay chi phí đào tạo
của các công ty thuộc ngành cơ khí đã sút giảm nghiêm trọng trong thập kỷ
vừa qua nhất là sau khi các chương trình hợp tác kỹ thuật với các nước khối
Đông Âu bị ngừng trệ thì ngành cơ khí Việt Nam hầu như mất nguồn đầu vào
về bí quyết công nghệ. Mặt khác, các kỹ sư và kỹ thuật viên lành nghề
( khoảng 10000 ) người được đào tạo ở Liên Xô và Đông Âu trước đây đến
nay kiến thức của họ cũng cần phải được cập nhật. Hơn nữa, một lực lượng
22
Đề án môn học QTKDCN & XD
lớn người lao động trong các doanh nghiệp không có tay nghề hoặc tay nghề
kém cũng cần phải được đào tạo. Trong điều kiện ngày nay, khi máy móc và
thiết bị thay đổi thường xuyên, công nghệ chế tạo phát triển nhanh chóng thì
yêu cầu về đào tạo, nâng cao tay nghề thường xuyên cho kỹ sư, kỹ thuật viên
trong ngành cơ khí là một yêu cầu bức bách.
Khó khăn chính của các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam trong lĩnh vực
23
Đề án môn học QTKDCN & XD
- Nguồn vốn từ ODA : Vốn ODA thường chỉ cấp cho các công trình, các
dự án hạ tầng cơ sở mà Ýt cấp cho các dự án phát triển công nghiệp sản xuất.
Tính cho đến nay, trong toàn ngành cơ khí cũng đã có vài dự án vay được vốn
ODA. Nhưng tiền vay thường được sử dụng để nhập công nghệ lạc hậu của
nước cho vay. Vì thế, dù có được nguồn vốn, có được công nghệ nhưng các
doanh nghiệp cũng khó phát huy được vì sản phẩm làm ra chất lượng thấp, giá
thành cao, mẫu mã không hợp thị hiếu của người tiêu dùng do đó không có
sức mạnh cạnh tranh ngay cả trên thị trường nội địa.
- Nguồn vốn FDI : Kể từ khi ban hành Luật đầu tư nước ngoài, vốn FDI
đầu tư vào ngành cơ khí đạt gần 2 tỷ USD chủ yếu thông qua các liên doanh.
Nguồn vốn FDI đã đem lại sinh lực mới cho nền công nghiệp Việt Nam nói
chung và ngành cơ khí nói riêng. Tuy nhiên, về lâu dài, việc sử dụng vốn FDI
sẽ làm cho ngành cơ khí nước ta luôn bị lệ thuộc vào nước ngoài kể cả về
công nghệ thiết bị và về thị trường. Do đó, khó có thể phát triển một cách độc
lập được.
- Nguồn vốn vay nước ngoài : Sử dụng vốn vay nước ngoài chúng ta có
thể chủ động trong việc lựa chọn công nghệ cũng như dây chuyền thiết bị
theo đúng mục đích, kế hoạch đề ra. Song việc sử dụng có hiệu quả vốn vay
đòi hỏi chúng ta phải có một cơ quan tư vấn và tạo dựng được hệ thống cơ chế
thật hữu hiệu của ngân hàng. Nếu việc quản lý vốn vay nước ngoài của Việt
Nam thật sự đúng đẵn và có hiệu quả thì chúng ta có thể làm chủ trong việc
phát triển sản xuất của mình.
- Nguồn vốn trong nước : Về lâu dài, cơ khí Việt Nam chỉ có thể phát
triển có hiệu quả và bền vững nếu được xây dựng chủ yếu từ vốn của bản thân.
Đó là các nguồn vốn được huy động từ ngân sách nhà nước, vốn vay ngân
hàng, vốn huy động từ tiền tiết kiệm của cán bộ công nhân viên chức trong các
cơ sở sản xuất, tiền của dân thông qua các biện pháp cổ phần hoá, phát hành
trái phiếu, cổ phiếu cũng như thông qua các hình thức góp vốn liên doanh,
An sau hai năm thực hiện chương trình hỗ trợ lãi suất cho nông dân, Tổng
công ty máy động lực và máy nông nghiệp Việt Nam ( VEAM ) đã bán được
592 máy cày đa chức năng với giá 13697000 đồng /máy. Trong đó nông dân
được vay 10000000 đồng, tỉnh hỗ trợ lãi suất 3 năm. Như vậy, để mua được
một chiếc máy cày đa chức năng nông dân Việt Nam lúc đầu chỉ phải bỏ ra 4
triệu đồng, phần còn lại sẽ được trả góp trong ba năm.
Tuy có một số mặt tích cực như vậy, nhưng nhìn một cách tổng quát,
hoạt động Marketing trong các doanh nghiệp cơ khí hiện nay còn rất yếu kém.
Để phát triển mạnh ngành cơ khí, trong thời gian tới, cần đẩy mạnh hoạt động
này.
IV. Tồn tại và nguyên nhân.
Có thể nói, trong những năm đổi mới vừa qua, ngành cơ khí Việt Nam
cũng đã đạt được một số thành tựu nhất định. Ngành công nghiệp cơ khí đã
duy trì được tốc độ tăng trưởng ở mức 13%-14%/ năm. Một số doanh nghiệp
cơ khí đã vươn lên tìm kiếm nguồn vốn, đầu tư thêm công nghệ-thiết bị mới,
tiên tiến, mở rộng mặt hàng, tìm kiếm và mở rộng thị trường. Trong một
nghiên cứu gần đây, các nhà nghiên cứu đã sắp xếp các loại hàng hoá theo khả
25