Mối quan hệ hợp tác của tỉnh Sơn La (Việt Nam) với 6 tỉnh Bắc Lào ( Luông Pha Bang, Phong Sa Lỳ, Bò Kẹo, Hủa Phăn, U đôm xay, Luông Nậm Thà) từ năm 1986 - đến năm 2008 - Pdf 27

MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
* Ý nghĩa khoa học:
Trong lịch sử đấu tranh bảo vệ và xây dựng tổ quốc của bất cứ một dân
tộc, một quốc gia nào chẳng những phải phát huy nội lực mà còn phải xây dựng
khối đại đoàn kết quốc tế để tranh thủ sức mạnh thế giới đưa sự nghiệp xây dựng
bảo vệ đất nước đến thành công.
Lịch sử phát triển của tỉnh Sơn La nói riêng và của cả nước Việt Nam nói
chung luôn luôn có mối quan hệ trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã
hội, an ninh, quân sự với các nước trên thế giới nhằm tranh thủ sự hợp tác giúp
đỡ của các nước đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội, nâng cao đời sống nhân
dân, xây dựng bảo vệ tổ quốc, giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia ở nước ta;
đồng thời cũng góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh bảo vệ hoà bình, độc lập
dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội của các nước trong khu vực và trên toàn thế giới.
Sơn La và Bắc Lào có biên giới liền kề, trong quá khứ lịch sử luôn luôn có
mối quan hệ về tất cả các mặt. Trong nội dung lịch sử của Sơn La và các tỉnh
Bắc Lào đều có lịch sử về mối quan hệ, vì vậy khi nghiên cứu lịch sử Sơn La
không thể không nghiên cứu về mối quan hệ hợp tác giữa Sơn La và Bắc Lào.
Nhưng cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề
này. Vì vậy, nghiên cứu đề tài “ Mối quan hệ hợp tác của tỉnh Sơn La (Việt
Nam) với 6 tỉnh Bắc Lào từ năm 1986 - đến năm 2008” sẽ lấp đi khoảng trống
nghiên cứu trong lịch sử của Sơn La về mối quan hệ.
Nghiên cứu đề tài “Mối quan hệ hợp tác của tỉnh Sơn La với 6 tỉnh Bắc
Lào” chẳng những giúp chúng ta hiểu sâu sắc mối quan hệ hợp tác giữa Sơn La
1
và Bắc Lào, mà còn giúp chúng ta hiểu sâu sắc toàn diện hơn về mối quan hệ
Việt - Lào, cũng như hịểu sâu sắc toàn diện hơn lịch sử của tỉnh Sơn La.
Nghiên cứu đề tài này sẽ cung cấp những nội dung kiến thức lịch sử, tư
liệu lịch sử phục vụ cho nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy học tập lịch sử ở địa
phương Sơn La và lịch sử Việt Nam.
* ý nghĩa thực tiễn: Hiện nay chúng ta đang trong thời kỳ đổi mới đã đạt

- Cuốn “Sơn La lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp” (1945-1954) do
Ban chấp hành quân sự tỉnh Sơn La biên soạn – NXB Quân đội Nhân dân, năm
1995. Trong nội dung cuốn sách đã viết khá chi tiết về mối quan hệ giữa Sơn La
và các tỉnh Bắc Lào, đặc biệt trong lĩnh vực quân sự quốc phòng giữa 2 bên đã
có mối quan hệ đoàn kết đưa cuộc cách mạng giành độc lập và kháng chiến
chống thực dân Pháp (1945-1954) đến thành công.
- Trong các cuốn : Lịch sử Đảng bộ huyện Mai Sơn (1945-1995); Lịch sử
Đảng bộ huyện Sông Mã( 1945-1995); Lịch sử Đảng bộ huyện Mộc Châu (1945-
1995; Lịch sử Đảng bộ huyện Yên Châu (1945-1995) do Ban chấp hành Đảng bộ
huyện Mai Sơn, Sông Mã, Mộc Châu, Yên Châu biên soạn – NXB Chính trị
quốc gia, năm 2000. Trong nội dung của các cuốn sách này cũng đã phần nào nói
đến mối quan hệ của huyện với một số tỉnh Bắc Lào giáp biên giới (Hủa Phăn,
3
Luông Pha Băng) nhưng cũng chỉ là ở mức độ khái quát sơ lược trong phạm vi
địa phương.
- Cuốn “Sơn La lịch sử kháng chiến chống Mĩ cứu nước” (1954-1975) do
Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Sơn La biên soạn – NXB Quân đội Nhân dân, năm
2004. Viết khá đầy đủ về mối quan hệ hợp tác hữu nghị của nhân dân Sơn La với
nhân dân Bắc Lào trong thời kì chống Mĩ cứu nước, xây dựng hậu phương miền
Bắc XHCN; đặc biệt là sự chi viện sức người, sức của của quân và dân Sơn La
góp phần cho thắng lợi của cách mạng Lào trong những năm 1954-1975.
- Cuốn “ Lịch sử bộ đội biên phòng Sơn La” (1959-2000) do Đảng uỷ- Ban
chấp hành Đảng bộ bộ đội biên phòng Sơn La biên soạn- NXB Quân đội Nhân
dân, năm 2004. Cuốn sách đã đề cập đến mối quan hệ giữa Sơn La với các tỉnh
Bắc Lào ở lĩnh vực giữ vững tình hình chính trị an ninh quốc phòng của 2 quốc
gia trong thời kì kháng chiến chống đế quốc Mĩ và trong thời kì đổi mới (1959-
2000).
- Các cuốn “ Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sơn La” Tập 1;2 (1939-1975), và Tập 3
(1976-2000) do Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Sơn La biên soạn – NXB Chính trị
quốc gia, năm 2002 và năm 2005. Đã đề cập đến mối quan hệ giữa Sơn La với

Luận văn tập trung nghiên cứu những hoạt động, vai trò của mối quan hệ
hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, giáo dục, y tế, an
ninh, quốc phòng của tỉnh Sơn La với 6 tỉnh Bắc Lào trong thời gian từ năm
1986 đến năm 2008.
Tuy nhiên, ở luận văn này chúng tôi chỉ mới đề cập đến những hoạt động,
vai trò về mối quan hệ chủ yếu của tỉnh Sơn La, còn những hoạt động của các
tỉnh bạn với Sơn La chúng tôi chưa có điều kiện nghiên cứu đầy đủ.
* Nhiệm vụ nghiên cứu.
Trên cơ sở tư liệu lịch sử chọn lọc, chỉnh lý, luận văn dựng lại một cách
tương đối toàn diện, đầy đủ về mối quan hệ hợp tác trên tất cả các lĩnh vực kinh
tế, văn hoá, chính trị, giáo dục, an ninh quốc phòng của tỉnh Sơn La với 6 tỉnh
Bắc Lào trong những năm 1986 - 2008.
Góp phần đánh giá vai trò của Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân Sơn La
trong việc xây dựng và phát triển mối quan hệ hợp tác giữa Sơn La và các tỉnh
Bắc Lào từ năm 1986 đến năm 2008; đồng thời qua đó cũng rút ra một số bài học
kinh nghiệm để phục vụ cho việc xây dựng phát triển mối quan hệ hợp tác giữa
tỉnh Sơn La và các tỉnh Bắc Lào trong giai đoạn cách mạng mới.
6
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu.
* Nguồn tư liệu.
Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã sử dụng kết hợp nhiều nguồn tư liệu
khác nhau:
- Văn kiện của Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh…về mối quan hệ
Việt- Lào nói chung, hay mối quan hệ của các tỉnh Tây Bắc với các tỉnh Bắc Lào
nói riêng. Loại tư liệu này giúp cho chúng ta có phương hướng, quan điểm
nghiên cứu đúng đắn và để giải quyết vấn đề trong đề tài đặt ra.
- Nguồn tư liệu gốc, lưu trữ: gồm các báo cáo, các văn bản, các báo cáo
tổng kết, thống kê, những kí kết…là những tư liệu gốc để xây dựng nên luận
văn.
- Những tài liệu sách, báo của Trung ương, địa phương viết về mối quan

6. Bố cục của luận văn.
Luận văn gồm phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục và 3
chương:
Chương 1: Khái quát về quan hệ hợp tác của tỉnh Sơn La với các tỉnh Bắc Lào
trước năm 1986.
Chương 2: Mối quan hệ hợp tác của tỉnh Sơn La với 3 tỉnh Bắc Lào (Hủa
Phăn, Luông Pha Bang, Bò Kẹo) từ năm 1986 đến năm 2000.
Chương 3: Mở rộng, phát triển mối quan hệ hợp tác của tỉnh Sơn La với 6
tỉnh Bắc Lào ( Hủa Phăn, Luông Pha Băng, Bò Kẹo, U Đôm Xay, Phong Sa Lỳ,
Luông Nặm Thà) từ năm 2000 đến năm 2008.
9
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ HỢP TÁC CỦA TỈNH SƠN
LA VỚI CÁC TỈNH BẮC LÀO TRƯỚC NĂM 1986.
1.1 ĐẶC ĐIỂM VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ BIÊN GIỚI CỦA
TỈNH SƠN LA.
* Vài nét về địa lý hành chính:
Sơn La là một tỉnh miền núi vùng biên giới, nằm ở phía Tây Bắc của nước
cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên toạ độ địa lý từ 20
0
39’ đến 22
o
5’ vĩ
bắc; 103
0
15’ đến 105
0
15’ kinh đông. Phía bắc giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai (252
km); phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Phú Thọ, Hoà Bình (135km), tỉnh Thanh
Hoá (42km); phía Tây giáp tỉnh Điện Biên, và Lai Châu (85km); phía Nam giáp
tỉnh Hủa Phăn, và Luông Pha Băng của nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

núi cao, suối sâu. Các dãy núi lớn và cao( có độ cao trung bình trên 2000m) đều
tập trung ở phía Bắc tỉnh thuộc vùng giáp giới giữa Sơn La - Lào Cai - Yên Bái.
Dọc biên giới Việt- Lào phía Tây của tỉnh có những dãy núi hiểm trở với độ cao
từ 1400-1800m. Vùng Tây Bắc nói chung, tỉnh Sơn La nói riêng được kiến tạo,
hình thành trải qua một quá trình phát triển lâu dài, phức tạp. Sự đa dạng và phức
tạp về địa chất nên Sơn La có nhiều loại khoáng sản. Cả tỉnh có 150 mỏ và điểm
quặng khoáng sản ( bôxít, than, đồng, sắt, niken, vàng, nước khoáng, đá vôi, đất
11
sét...) được phân bố ở hầu hết các huyện trong tỉnh và đã được phát hiện, khai
thác.
- Đặc điểm về khí hậu:
Vị trí địa lý, độ cao địa hình tạo nên những nét chung và nét riêng của khí
hậu Sơn La. Mặc dù có những nét đặc thù nhưng nhìn chung khí hậu Sơn La
mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa chí tuyến Bắc Bộ Việt Nam. Nhiệt
độ trung bình ngày mùa hè là 20
0
-25
0
c, mùa đông là 15
0
-25
0
c. Mưa nhiều vào
mùa hè- thu, lượng mưa trung bình của Sơn La là 1400-1800mm/ năm. Nguồn
nước mưa được tích tụ, lưu chuyển trong hệ thống sông, suối dày đặc và nguồn
nước ngầm phong phú đã đảm bảo yêu cầu về nước phục vụ cho sản xuất và đời
sống nhân dân trong tỉnh.
Mặc dù hàng năm vẫn có thiên tai: lũ lụt, hạn hán, rét, sương muối...
nhưng nhìn chung với đặc điểm khí hậu như trên khiến Sơn La có những điều
kiện để xây dựng, phát triển kinh tế nông- lâm nghiệp.

nước một cách có hệ thống và phù hợp với luật pháp Quốc tế. Ngày 17/8/1977,
Chính phủ hai nước đã ký kết văn bản hoạch định biên giới Việt Nam- Lào. Đến
năm 1982, việc hoạch định và cắm mốc trên toàn tuyến biên giới Sơn La và Lào
đã hoàn thành.
13
Đường biên giới Sơn La- Lào thuộc địa phận các huyện Sông Mã, Mai
Sơn, Yên Châu và Mộc Châu, qua đừơng phân thuỷ của các dãy núi chính, có
nhiều cao điểm có lợi thế về quân sự để phòng thủ lẫn bảo vệ đất nước.
Về giao thông: Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, đường qua Sơn La
sang Lào hiểm trở, khó khăn, chủ yếu sang đất Lào bằng các đường mòn và qua
đường thuỷ Sông Mã.
Trong kháng chiến chống Pháp, Chính quyền cách mạng đã tổ chức tu sửa,
mở thêm một số con đường mới( tiêu biểu như đường số 13 nối liền phía Đông
tỉnh Yên Bái đến phía Nam tỉnh Sơn La...) góp phần đưa cuộc kháng chiến ở Sơn
La và các tỉnh Bắc Lào đến thành công.
Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi (1954) miền Bắc hoàn
toàn giải phóng, các tuyến đường nội tỉnh Sơn La và sang Lào dần dần được xây
dựng thành hệ thống. Đến năm 2004, Sơn La có hai con đường quốc lộ: Đường
43 từ Mộc Châu qua cửa khẩu Pa Háng sang Sầm Nưa( Lào); đường 22 từ huyện
Sông Mã qua cửa khẩu Chiềng Khương qua Mường Ét tới Sầm Nưa (Lào). Các
cửa khẩu Pa Háng( hay còn gọi là Loong Sập- Mộc Châu), Chiềng
Khương( Sông Mã) là hai cửa khẩu Quốc gia ở Sơn La đi sang Lào. Ngoài ra
trên tuyến biên giới Sơn La còn có 23 đường tiểu ngạch, nhân dân hai bên biên
giới thường qua lại giao lưu.
Với điều kiện địa lý tự nhiên và đường biên giới như trên, Sơn La là một
tỉnh biên giới, có địa thế hiểm yếu, là một địa bàn chiến lược cả về kinh tế, chính
trị, quốc phòng, an ninh. Đồng thời với tài nguyên du lịch sinh thái, văn hoá, lịch
sử khá phong phú đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng, phát triển quan
14
hệ hợp tác về mọi mặt giữa Sơn La với các tỉnh Bắc Lào phục vụ cho công cuộc

Từ chiến tranh chuyển sang hoà bình, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc
Sơn La nhanh chóng ổn định tình hình, xây dựng bộ máy hành chính cơ sở; hàn
gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, ổn định đời sống nhân dân và
bước vào công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Mặc dù đã thất bại nhưng bọn đế quốc, phản động vẫn tìm mọi âm mưu,
thủ đoạn hòng phá hoại cuộc sống độc lập, hoà bình, hạnh phúc, đoàn kết hữu
nghị của nhân dân hai nước Việt- Lào. Chúng tung những toán quân báo tìm
cách xâm nhập biên giới, cho máy bay xâm phạm không phận, tung biệt kích,
gián điệp vượt biên vào các bản làng dọc biên giới, móc nối với bọn phản động
bên trong âm mưu bạo loạn; tung tin đồn nhảm, gây chiến tranh tâm lý, gieo rắc
hoang mang trong nhân dân, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước ta, kích động chia rẽ dân tộc. Chúng tung ra những luận điệu lừa bịp nhân
dân trong tỉnh như: Có vua H’Mông, vua Khơ Mú ra đời… cũng từ những hoạt
động phá hoại gây “ xưng vua, đón vua” mà bọn phản động đã dụ dỗ nhiều đồng
bào dân tộc Sơn La di cư sang Lào.
Suốt 20 năm( 1954 – 1975), dưới sự lãnh đạo sáng suôt của Đảng, Chính
phủ, Đảng bộ các cấp Chính quyền tỉnh Sơn La đã có những chủ trương, kế
hoạch, biện pháp đúng đắn, kịp thời chỉ đạo các tổ chức, đơn vị và các địa
16
phương nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, làm thất bại mọi âm mưu hành
động phá hoại của địch; đoàn kết phấn đấu hoàn thành các kế hoạch khôi phục
kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa( 1954 – 1960), hoàn thành kế hoạch 5 năm lần
thứ nhất( 1961- 1965), đánh thắng 2 cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ
và chi viện cho cách mạng miền Nam. Đồng thời củng cố tăng cường khối đoàn
kết giữa Sơn La với các tỉnh Bắc Lào; nhằm thực hiện thắng lợi chủ trương của
Đảng bộ Sơn La: Mở rộng, phát triển sự đoàn kết, hợp tác giữa Sơn La và các
tỉnh Bắc Lào, không chỉ về mặt quân sự mà cả về các mặt kinh tế, văn hoá, giáo
dục, y tế…
Mùa xuân năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nước Việt
Nam kết thúc thắng lợi. Miền Nam hoàn toàn được giải phóng cùng cả nước đi

tộc Sơn La thực hiện đổi mới mọi mặt theo đường lối chính sách của Đảng Cộng
sản Việt Nam và Nhà nước, nhằm đưa sự nghiệp cách mạng của Sơn La, và đưa
mối quan hệ hợp tác của Sơn La với các tỉnh Bắc Lào sang một giai đoạn mới
phát triển cao và toàn diện hơn.
* Tình hình kinh tế, văn hóa xã hội:
- Về Kinh tế: Trứơc cách mạng tháng 8 năm 1945, cũng như các tỉnh Bắc
Lào, tỉnh Sơn La có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế, nhưng dưới chế độ thực
dân phong kiến chúng ra sức cướp đoạt ruộng đất của nhân dân; duy trì chế độ tô
18
,thuế hà khắc, nặng nề; khai thác tài nguyên thiên nhiên…nên kinh tế Sơn La vẫn
là nền kinh tế tiểu nông, tự cung, tự cấp lạc hậu, kém phát triển. Đời sống của
nhân dân các dân tộc Sơn La ngày càng thêm đói khổ, lạc hậu triền miên.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945-1954, nhìn chung nền kinh tế
Sơn La vẫn trong tình trạng nghèo đói, kém phát triển. Nhưng từ năm 1947, nhất
là từ năm 1949 trở đi, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La thi đua đẩy mạnh
từng phần sản xuất, thực hành tiết kiệm, thực hiện đường lối kinh tế độc lập tự
chủ, “ Kháng chiến kiến quốc” của Đảng và Chính phủ.
Vì vậy, sản xuất được đẩy mạnh, đời sống của nhân dân các dân tộc Sơn
La được cải thiện. Nhân dân các dân tộc Sơn La không chỉ hoàn thành nhiệm vụ
chi viện cho tiền tuyến, đánh thắng giặc Pháp, giải phóng Sơn La và miền Bắc
mà còn hoàn thành nghĩa vụ chi viện sức người, sức của cho cách mạng Lào.
Tháng 7 năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta
kết thúc thắng lợi. Bước vào giai đoạn cách mạng mới, nhân dân các dân tộc Sơn
La đứng trước những khó khăn, thách thức to lớn: nền kinh tế sau chiến tranh
què quặt, nghèo nàn, chủ yếu sản xuất nông nghiệp độc canh, tự túc tự cấp; số
đông đồng bào sống trong cảnh đói rách,bệnh tật, mù chữ, thất học. Trong khi đó
bọn phản động, tay sai đế quốc, thổ phỉ, tội phạm hình sự nổi lên hoạt động
chống phá, gây rối trật tự trị an…
Trong những năm 1954 – 1975, tỉnh Sơn La vẫn hăng hái bắt tay vào việc
hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển kinh tế và đã đạt được những thành

sản xuất và đời sống. Năm 1968, thu ngân sách đạt 12.609.000 đồng (tăng
6.628.000đồng so với năm 1963), trong đó thu từ kinh tế địa phương đạt
5.622.000 đồng. Về cơ bản đến năm 1975 nhiều chỉ tiêu kinh tế của Sơn La đều
đã vượt so với chỉ tiêu tỉnh để ra. Đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện,
đồng thời hoàn thành tốt nhiệm vụ chi viện cho tiền tuyến để giải phóng hoàn
toàn miền Nam và chi viện cao nhất cho cách mạng Lào.
Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước thắng lợi, đó là điều kiện thuận lợi
cho tỉnh Sơn La cũng như các tỉnh Bắc Lào phát triển kinh tế.Vượt qua những
khó khăn, thủ thách, nhân dân các dân tộc Sơn La đã hăng hái lao động sản xuất,
đưa giá trị tổng sản lượng nông – lâm nghiệp năm 1976 tăng 4.5% so với năm
1975. Các khu vực sản xuất tập trung chuyên canh nông – lâm nghiệp tiếp tục
được mở rộng sản xuất và có tỷ xuất hàng hoá ngày càng cao. Quan hệ sản xuất
xã hội chủ nghĩa được giữ vững và củng cố. Năm 1980, sản lượng lương thực
qui thóc đạt trên 15 vạn tấn, tăng 43% so với năm 1975. Cây hoa màu toàn tỉnh
tăng 63%, chiếm 41% trong cơ cấu lương thực. Về chăn nuôi đã chú trọng duy
trì đàn trâu, đàn bò tập trung. Năm 1980, đàn trâu có 64.000con, đàn bò có
45.600 con, đàn lợn có 184000 con. Phong trào xây dựng “ Ao cá Bác Hồ” được
phát động rộng rãi.Ngoài ra diện tích trồng cây công nghiệp( mía, chè, cà phê…)
tiếp tục được mở rộng. Nghề rừng được coi trọng, nên giá trị tổng sản lượng lâm
sản khai thác tăng cao hơn trước.
21
Ngành sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trong tỉnh có nhịp
độ tăng bình quân hàng năm 14%. Năm 1980, giá trị sản lượng đạt 28,6 triệu
đồng, tăng gấp hai lần so với năm 1975, đưa tỷ trọng từ 21% lên 29% trong
giá trị tổng sản lượng nông- công nghiệp [29.205].Về xây dựng cơ bản đến
năm 1980, tỉnh đã đầu tư khoảng 88 triệu đồng, dành 84,4% cho khu vực sản
xuất. Một số công trình lớn được các ngành, các cơ sở trự thuộc Trung ương
kết hợp đầu tư xây dựng như: sân bay Nà Sản, thuỷ điện Chiềng Ngàm, thuỷ
nông Chờ Lồng…
Trong thời kỳ thực hiện kế hoạch Nhà nước 1981-1985, về nông – lâm

năm 2002 số dân tăng lên là 94.2 vạn người, theo điều tra dân số thì tới tháng
4 năm 2009 dân số Sơn La có 1.080.641 người, như vậy tỉ trọng tăng dân số
là khá cao. Trong vòng một thế kỷ, dân số Sơn La đã tăng gấp 12 đến 13 lần.
Theo kết quả điều tra dân số tính đến năm 2009, tỉnh Sơn La có 12 dân tộc
anh em sinh sống.
Tỷ trọng các dân tộc ở tỉnh Sơn La:
Dân tộc Số dân (% tổng số dân số
trong tỉnh)
Thái 54%
Kinh 18%
Mông 12%
Mường 8.4%
23
Dao 2.5%
Còn lại là các dân tộc: Khơ Mú, Xinh Mun, Kháng,La Ha, Tày,
Lào,Hoa, sống rải rác trên khắp lãnh thổ của tỉnh.
Cũng như các dân tộc anh em ở các tỉnh Bắc Lào, các dân tộc anh em ở
tỉnh Sơn La nằm trong cộng đồng văn hoá Đông Nam Á thống nhất đa dạng.
Nền văn hoá của mỗi dân tộc ở Sơn La có nét đặc trưng riêng, nhưng cũng có
những điểm tương đồng như: Về ngôn ngữ, chữ viết, y phục, nghệ thuật ca
múa, phong tục tập quán, tín ngưỡng …
Như vậy, nền văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân các dân
tộc Sơn La phát triển từ rất sớm, độc đáo, phong phú, đa dạng và tiếp thu
được những tinh hoa trong nền văn hoá của các dân tộc khác trong nước và
các dân tộc của nước bạn.
Từ lâu đời các dân tộc Sơn La và các dân tộc ở Bắc Lào đã thường
xuyên qua lại, trao đổi kinh tế, văn hoá nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế,
văn hoá của mỗi dân tộc.
Dưới chế độ thực dân, phong kiến, bọn đế quốc và giai cấp thống trị
vừa tăng cường bóc lột về của cải vật chất, sức lao động của nhân dân; vừa

Việt - Lào. Nhưng chỉ từ sau cách mạng tháng tám1945 thành công, mối
quan hệ đoàn kết hợp tác của nhân dân Sơn La với nhân dân các tỉnh Bắc Lào
mới được phát triển toàn diện và ngày càng vững chắc hơn.
1.3 TRUYỀN THỐNG ĐOÀN KẾT, HỢP TÁC HỮU NGHỊ, XÂY DỰNG BẢO
VỆ TỔ QUỐC CỦA TỈNH SƠN LA VÀ CÁC TỈNH BẮC LÀO TRƯỚC NĂM 1986.
25

Trích đoạn TRUYỀN THỐNG ĐOÀN KẾT, HỢP TÁC HỮU NGHỊ, XÂY DỰNG BẢO VỆ TỔ QUỐC CỦA TỈNH SƠN LA VÀ CÁC TỈNH BẮC LÀO TRƯỚC NĂM 1986. KẾ HOẠCH ĐIỀU TRỊ, ĐIỀU DƯỠNG BỆNH NHÂN HỦA PHĂN TẠI SƠN LA (1987) CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC, VÀ TỈNH SƠN LA VỀ QUAN HỆ HỢP TÁC HỮU NGHỊ CỦA TỈNH SƠN LA VỚI 6 TỈNH BẮC LÀO (2000 2008). HOẠT ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA MỐI QUAN HỆ HỢP TÁC CỦA TỈNH SƠN LA VỚI 6 TỈNH BẮC LÀO( HỦA PHĂN, LUÔNG PHA BĂNG, BÒ KẸO, PHONG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status