Đường lối cai trị của nhà nước phong kiến Việt Nam
Trong bối cảnh thế giới đang có những thay đổi phức tạp, tình hình trong nước cũng đang
có nhiều biến chuyển to lớn, một đòi hỏi bức thiết đặt ra với Nhà nước ta là phải tìm ra
được những đường lối, chính sách hợp lý để phát triển kinh tế, đảm bảo trật tự xã hội và an
ninh chính trị. Ngoài kiên định đi theo con đường chủ nghĩa Mác - Lênin do Chủ tịch Hồ
Chí Minh sáng vạch, tiếp thu những thành tựu chính trị - pháp lý của các nước khác, thì
việc học hỏi nghiên cứu những phương cách xa xưa của cha ông cũng là một cách thức rất
quan trọng.
Chịu ảnh hưởng rất lớn từ những quan điểm, tư tưởng chính trị - pháp lý của phong kiến
Trung Hoa, đường lối cai trị của nhà nước phong kiến Việt Nam cũng là sự vận dụng hài
hoà giữa nhân trị và pháp trị. Nhưng đó không đơn thuần chỉ là sự cộng gộp các tư tưởng
về cai trị của người Trung Hoa, mà là sự vận dụng có chọn lọc các quan điểm có nguồn
gốc ngoại lai, và rồi dần biến đổi sao cho phù hợp với các đặc điểm văn hoá bản địa. Có
thể nói đường lối cai trị của nhà nước phong kiến Việt Nam - kết quả của sự vận dụng cả
nhân trị và pháp trị là một quan điểm có màu sắc Trung Hoa nhưng thực chất lại rất Việt
Nam.
1. Quan điểm nhân trị của nhà nước phong kiến Việt Nam bắt nguồn từ quan điểm đức
trị của Nho giáo cũng như từ tư tưởng nhân ái của Đạo giáo, từ bi của Phật giáo.
Tư tưởng đức trị của Nho giáo:
Nhà nước phong kiến Việt Nam đã từng bước áp dụng Nho giáo như là một phương thức
quan trọng hàng đầu để xây dựng và củng cố vương quyền, mà nền tảng chủ yếu của nó là
sử dụng tư tưởng Đức trị như một công cụ để đảm bảo tính hợp với lòng dân, với ý trời,
với Thiên Mệnh.
Về cái lợi của đức trị, Khổng Tử đã viết: " Cai trị dân mà dùng đạo đức, đưa dân vào
khuôn phép mà dùng lễ thì dân sẽ biết liêm sỉ và thực lòng quy phục. Hơn nữa, bề trên
trọng lễ thì dân không ai dám không tôn kính, bề trên trọng nghĩa thì dân không ai dám
không phục tùng, bề trên trọng tín thì dân không ai dám không ăn ở hết lòng"
(1)
.
Đức trị được thể hiện qua hai khía cạnh:
Theo nguyên tắc Chính danh, bản thân nhà vua phong kiến cũng bị ràng buộc trong những
Đạo giáo dù chưa bao giờ được công nhận là quốc giáo như Phật giáo hay là tư tưởng
chính thống như Nho giáo, nhưng ảnh hưởng của nó tới đời sống xã hội Việt Nam nói
chung cũng như đời sống chính trị của nhà nước phong kiến nói riêng không phải là không
đáng kể.
Với hai quan điểm chủ yếu là vô vi và nhân ái, Đạo giáo cũng là một nguồn ảnh hưởng
quan trọng tới chính sách nhân trị của nhà nước phong kiến Việt Nam. Vô vi là làm mà
như không làm, không làm mà như có thực hiện; nhẹ nhàng và yển chuyển như nước chảy
nhưng khi cần thì cũng có thể ào ạt, mạnh mẽ như dòng thác lũ. Còn nhân ái là biết bằng
lòng với những gì mình có: biết đủ thì đủ và lúc nào cũng đầy đủ cả, biết nhàn thì nhàn và
lúc nào cũng nhàn cả ( tri túc chi túc hà thời túc, tri nhàn chi nhàn hà thời nhàn ) ( sách Đạo
Đức kinh ).
Hai quan điểm này góp phần kiềm chế tư tưởng độc đoán, chuyên chế của nhà vua; và
cùng với tư tưởng của Nho giáo và Phật giáo đã hình thành nên một nền tảng cho những
chính sách mang nặng tính nhân trị của nhà nước phong kiến Việt Nam: " phải thận trọng
trong công việc và phải trung thực, tiết kiệm trong việc chi dùng, thương người, sử dụng
sức dân phải vào những thời gian thích hợp"
(3)
.
2. Tư tưởng pháp trị đã được nhà nước phong kiến Việt Nam áp dụng ngay từ những
buổi đầu gây dựng lại đất nước sau 1000 năm Bắc thuộc.
Với ba vấn đề: Pháp, Thế, Thuật, nội dung chủ yếu của pháp trị là việc thi hành luật lệ.
Pháp là biện pháp khiến luật lệ được ban ra phải được thi hành một cách nghiêm chỉnh.
Muốn vậy, luật pháp phải được tuyên truyền rộng rãi, mọi người dân đều phải được bình
đẳng trước pháp luật... Có như vậy, trong tư tưởng của dân chúng, luật pháp mới nắm vai
trò thống trị xã hội chứ không phải nhà vua, luật pháp luôn tồn tại bên cạnh mỗi người, chi
phối hoạt động của họ.
Thế là quyền lực hay uy tín của nhà vua. Chính thế của nhà vua nắm quyền cai trị chứ
không phải bản thân của nhà vua. Bởi vậy, để là một vị vua nắm quyền cai trị thực sự thì
vua cần phải luôn làm chủ được hoàn cảnh và những yếu tố có thể ảnh hưởng tới sự cai trị
của mình.
điểm của việc áp dụng pháp trị ở nước ta với những hình phạt hết sức nặng nề như vậy.
Nhưng kết quả là gì ? Đinh Tiên Hoàng ở ngôi được 12 năm, và ông bị giết chết bởi Đỗ
Thích - một viên quan trong triều, rồi sau đó thì con trai của ông ( Phế đế ), chỉ ở ngôi thêm
được có 8 tháng. Nhà Đinh chấm dứt.
Từ đó có thể thấy việc chỉ sử dụng một phương pháp cai trị ở Việt Nam là không hợp lý,
vừa cần phải có pháp luật và hình phạt nghiêm khắc để răn dạy, nhưng cũng cần phải có
những chính sách xã hội vì lợi ích nhân dân. Một triều đại thịnh trị luôn là triều đại đã biết
cách sử dụng các phương pháp ấy một cách hợp lý. Và đó cũng chính là bài học mà ngày
nay chúng ta có thể rút ra được từ lịch sử của cha ông trong hoạch định đường lối, chính
sách: vừa phải "khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc", vừa phải"quản lý xã hội
bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa" ( Điều 12 Hiến pháp
năm 1992 ( đã sửa đổi )
_____________________________
(1) Từ điển Luật học, Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, Nxb Tư pháp, Nxb Từ điển
bách khoa, Hà Nội, năm 2006, tr.278, mục từ "Đức trị".
(2) Trang web từ điển bách khoa , mục từ "Nho giáo".
(3) Từ điển Luật học, Sđd, tr.278, mục từ "Đức trị".
(4) Xem Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên, Viện Khoa học xã hội Việt Nam dịch, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1993.
______________________________
Tài liệu tham khảo
1. Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên, Viện Khoa học xã hội Việt Nam dịch, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, năm 1993.
2. Việt sử lược, Trần Trọng Kim, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, năm 2005
3. Khâm Định Việt sử thông giám cương mục,
4. Từ điển Luật học, Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, Nxb Tư pháp, Nxb Từ điển bách
khoa, Hà Nội, năm 2006
5. Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb
Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2003
6. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,