Địa vị, quyền lực của nhà vua trong nhà nước phong kiến Việt Nam”. - Pdf 28


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
NỘI DUNG
I. Các triều đại phong kiến Việt Nam
II. Địa vị của nhà vua trong nhà nước phong kiến Việt Nam
III. Quyền lực của nhà vua
1. Nhà vua nắm vương quyền
2. Nhà vua nắm thần quyền
3. Nhà vua có những đặc quyền riêng.
4. Yếu tố kiềm chế hạn chế quyền lực của nhà vua.
IV. Những điểm khác biệt trong địa vị và quyền lực của nhà vua trong nhà
nước phong kiến Việt Nam với nhà nước phong kiến khác.
KẾT LUẬN
LỜI NÓI ĐẦU
Khi nói về vua Việt Nam - người đứng đầu nhà nước trong chế độ phong kiến,
nhiều ý kiến cho rằng quyền lực của nhà vua là tuyệt đối và không bị hạn chế bởi bất
kỳ yếu tố nào. Dưới chế độ quân chủ chuyên chế, nhà vua đều có một đặc điểm chung
là nắm trong tay quyền lực tối cao và quyết định những công việc quan trọng của đất
nước. Tuy nhiên, địa vị và quyền lực ấy trong nhà nước phong kiến Việt Nam lại có
nhiều điểm đặc thù riêng biệt. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, nhóm chúng em đã quyết
định chọn đề tài: “ Địa vị, quyền lực của nhà vua trong nhà nước phong kiến Việt
Nam”.
NỘI DUNG
I. Các triều đại phong kiến Việt Nam
Trải qua các triều đại phong kiến Việt Nam từ thế kỷ X- cuối thế kỷ XIX, bên
cạch các vị vua anh minh, quyết đoán được sử sách ca ngợi như: Tiền Ngô Vương, Lý
Thái Tổ, Lý Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tông…thì cũng có không ít các
vị vua bạo ngược, độc ác bị coi là hôn quân như Lê Uy Mục, Lê Tương Dực…Vậy
trong suốt thời gian tồn tại trên, địa vị quyền lực của các vua phong kiến Việt Nam
được biểu hiện như thế nào?

Như vậy địa vị của vua đã bao trùm lên toàn bộ đất nước, thuyết “Thiên mệnh” và
nguyên tắc “Tôn quân quyền” đặt ra cho vua một trách nhiệm lớn lao phải chăm lo,
yêu thương thần dân của mình, lấy dân làm gốc. Đây là cơ sở vững chắc cho nhà nước
phong kiến đề cao quyền lực của nhà vua.
III. Quyền lực của nhà vua
1. Nhà vua nắm vương quyền
Với địa vị là “Thiên tử”, được Trời trao thiên mệnh để chăm lo cho nhân chúng,
yêu dân như yêu con, thì vua cũng là người nắm trong tay toàn bộ vương quyền của
đất nước, điều này được thể hiện ở những điểm sau:
Về lập pháp: vua là người duy nhất có quyền đặt ra pháp luật, mọi ý chí của nhà
vua đều được nâng lên thành pháp luật, lời nói của vua là pháp luật, đó chính là mệnh
lệnh, vua có quyền quyết định nội dung của các loại văn bản pháp luật, những văn bản
đó trở thành thánh ý, thánh chỉ buộc phải thực thi (Năm 1042 vua Lý Thái Tông ban
hành bộ luật Hình Thư) Kế thừa và phát triển tư duy lập pháp từ thời Lý, nhà nước
Việt Nam dưới thời Trần tiếp tục quan tâm đến vấn đề xây dựng pháp luật.( Năm 1341
vua Trần Dụ Tông đã sai Nguyễn Trung Ngạn và Trương Hán Siêu soạn bộ Quốc triều
hình luật; Trong 38 năm trị vì đất nước, vua Lê Thánh Tông đã ban hành bộ luật Hồng
Đức; Năm 1811 vua Gia Long sai Nguyễn Văn Thành làm Tổng tài soạn bộ Hoàng
triều luật lệ ).
Về hành pháp: Nhà vua cũng là người duy nhất có quyền bổ nhiệm thăng giáng
các chức tước ( Năm 971, Đinh Tiên Hoàng phong cho Lê Hoàn làm Thập đạo tướng
quân, cho Nguyễn Bặc làm Định quốc công; vua Trần Nhân Tông phong cho Trần
Quốc Tuấn làm Quốc công tiết chế…) bãi bỏ các chức vụ (Lê Thánh Tông đã bãi bỏ
chức Tể tướng, Đại hành khiển) vua có quyền thưởng phạt, thuyên chuyển, quy định
quyền hạn, trách nhiệm và lương bổng đối với quan lại trong cả nước( Năm 1076 Lý
Thánh Tông định lệ cấp bổng hàng năm cho các quan làm việc tư pháp và ngục lại
bằng tiền và hiện vật; Năm 1473 Lê Thánh Tông định quy chế bổng lộc cho các quan
trong nước). Như vậy nhà vua nắm trong tay quyền lực rất lớn.
Về tư pháp: Nhà vua có quyền xét xử tối cao, phán quyết của nhà vua luôn được
coi là phán quyết cuối cùng, thể hiện ở việc vua là người có quyền quyết định cuối

Ngoài nắm trong tay vương quyền và thần quyền thì nhà vua còn có những đặc
quyền sau:
Tên húy của vua và một số người than thích của vua mọi người không được phạm
đến.
Phàm cái gì thuộc về của vua đều là cao quý, mỗi khi nhắc tới hoặc viết tới phải
kèm theo tiếng thánh, long hay ngọc để tỏ long tôn kính như: thánh ý. Thánh chỉ,long
thể, ngọc tỷ…
Màu sắc y phục của vua là màu vàng, dân chúng không được dùng màu đó, từ đời
vua Lý Cao Tông trở đi, vua là người duy nhất trong nước được mặc áo sắc vàng.
Ngoài ra, khi vua ra ngoài đường nhân dân đều phải trốn, nhà phải đóng cửa, nếu gặp
vua thì phải phục xuống hai bên lề đường, nếu không sẽ bị khép vào tội “phạm tất”.
4. Yếu tố kiềm chế hạn chế quyền lực của nhà vua.
Mặc dù quyền lực của vua là rất lớn, nhưng không phải là tuyệt đối, quyền lực
của vua bị hạn chế ở những điểm sau:
Bổn phận thân dân của nhà vua: Theo Khổng giáo thì một vị vua được coi là
minh quân khi người đó cư sử đức độ và trong phép trị nước phải lấy dân làm gốc.
Nhà vua không được làm trái với lòng dân vì ý dân tức là ý trời. Mạnh Tử nói rằng:
“Dân vi quí, xã tắc thứ chi, dân vi khinh” ý muốn nói dân là quý hơn hết, sau mới tới
giang sơn xã tắc sau cùng mới là vua , Lê Lợi cũng đã từng nói: “Việc nhân nghĩa cốt
ở yên dân”. Dưới triều đại nhà Lý, chính sách thân dân được nhiều vua thực hiện.
“Năm 1013 Lý Thái Tổ thi hành chính sách định lại các lệ thuế, nhiều năm xá thuế cho
dân như năm 1016 xá tô thuế 3 năm, năm 1017 lại xá tô ruộng; Năm 1055 trời rét vua
Lý Thánh Tông ra lệnh cho Hữu ty phát chăn chiếu và cấp cơm ăn ngày hai bữa cho
người tù trong ngục…”
Tính tự quản của làng xã: Có câu “phép vua thua lệ làng”, làng xã Việt Nam do
ảnh hưởng của cuộc đấu tranh chống đồng hóa thời Bắc thuộc nên tính tự quản cao.
Làng xã với những phong tục từ ngàn đời đã điều chỉnh các quan hệ nội bộ và với tính
tự quản cao khiến cho Nhà nước buộc phải hợp pháp hóa lệ làng. Vua không thể tự
quyết, không xét đến lệ làng.
Chế độ khoa cử: Vua không thể độc đoán lựa chọn quan lại, bất kỳ ai khi thi cử

quyền, là người nắm trong tay quyền lực lớn nhất và có địa vị tối cao. Khác với nhiều
quốc gia khác, quyền hành của vua Việt Nam không phải là tuyệt đối, dẫn đến việc
quyền lực nhà vua được tập trung cao độ nhưng lại không hề dẫn đến hiện tượng
chuyên chế, cực đoan.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status