THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
LI NểI U
Vn ủ rung ủt t trc ủn nay luụn l ủi tng nghiờn cu ca rt nhiu
OBO
OKS
.CO
M
cụng trỡnh khoa hc ln nh khỏc nhau nht l vn ủ rung ủt thi trung ủi.
Tỡm hiu v vn ủ rung ủt cng ủng ngha vi vic tỡm hiu c s ca vn
minh dõn tc ta trong lch s, bi l nn kinh t nc ta c bn l sn xut nụng
nghip. Trờn c s phõn tớch v tng hp cỏc ngun t liu cũn li cho ủn ngy
nay, chỳng ta ủó cú nhng thnh tu ủỏng k, nh ủú phỏc ho ủc mt bc tranh
khỏ ủy ủ cỏc mt v tỡnh hỡnh rung ủt Vit Nam thi k trung ủi.
Trong bc tranh chung ton cnh rung ủt, cỏi chi phi nht, chi phi ch
yu ủn tỡnh trng rung ủt phi k ủn cỏc chớnh sỏch v rung ủt m Nh nc
phong kin trung ng ban hnh. Vi truyn thng Nh nc tp quyn, cỏc bin
phỏp cai tr ỏp dng, ban hnh cú nh hng rt ln ủn bc tranh rung ủt.
Bi ging v Ch ủ rung ủt Vit Nam thi trung ủi ca thy tụi, ủó gi
cho tụi ý tng tỡm hiu sõu hn v Chớnh sỏch ca Nh nc phong kin Vit Nam
ton din hn.
KI L
ủi vi vn ủ rung ủt. Cựng lt li s sỏch, chỳng ta s cú cỏi nhỡn khỏch quan
1
Bắc đã xâm nhập trong đời sống nhân dân các cơng xã. Trước sự xâm lược của
ngoại bang, nhân dân tập trung, co cụm lại như một phản ứng tất yếu, hình thành
thế ứng xử của làng xã trước Nhà nước. Điều này đã làm chững lại q trình phân
hố của làng xã. Ruộng đất cơng thời kỳ này vẫn được giữ ngun, bảo lưu, chưa bị
biến thành ruộng đất tư. Đó là cơ sở kinh tế giúp duy trì sự cố kết cộng đồng.
Người nơng dân trong làng xã cùng nhau cày cấy, lao động, tham gia cơng việc trị
thuỷ và cùng hưởng thành quả mà chưa bị Nhà nước can thiệp. Cùng với những
biến chuyển về kinh tế, trong xã hội hình thành lớp hào trưởng địa phương, có thế
2
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
lc kinh t ngy cng m rng dự b chớnh quyn ủụ h chốn ộp, khng ch. Do s
bt lc ca chớnh quyn ủụ h trong vic kim soỏt lng xó ngi Vit, h vn gi
vai trũ quan trng ủa phng. Rung ủt cụng xó bt ủu chu s chi phi ca
OBO
OKS
.CO
M
tng lp ny, t hu hoỏ din ra.
S chuyn bin xó hi v kt cu giai cp cu u Lc c cũn chu tỏc ủng
bi chớnh sỏch ca cỏc triu ủi phng Bc, chi phi ngy cng sõu vo t chc
ca xó hi c truyn ngi Vit. in hỡnh l vic nh ng cho kờ khai s h,
ủnh thu cỏc loi tụ, dung, ủiu v sau ủú ủi li l phộp lng thu, cho phộp cỏc
chớnh quyn ủụ h cp ủot rung ủt ca dõn ta lm rung cụng cho chớnh quyn
Bên trên, chế độ đơ hộ của các triều đại phương Bắc với những thiết chế,
quan chế, quan chức của nó ngày càng đầy đủ và trở nên khá quen thuộc. Đến thế
xu thế tất yếu.
OBO
OKS
.CO
M
kỷ X, khi nước ta giành được độc lập hồn tồn, phong kiến hố đã trở thành một
Đất nước ta qua các triều Ngơ - Đinh – Tiền Lê, nhà nước phong kiến chưa
có chính sách ruộng đất cụ thể. Các triều đại đều cố gắng thực thi quyền sở hữu
ruộng đất Nhà nước, vừa để khẳng định quyền lực, vừa để nắm lấy thần dân thu tơ
thuế. Các quan hệ ruộng đất tồn tại thời Bắc thuộc và đầu thế kỷ X vẫn tiếp tục duy
trì theo quan niệm “ đất vua chùa làng ”.
Dưới thời họ Khúc, chính quyền dân tộc đầu tiên đã có thể ban hành chính
sách “qn bình thuế” và “tha bỏ lực dịch” để khẳng định quyền chi phối của mình
đối với tồn bộ ruộng đất trong nước. Ý thức về quyền lực tập trung của Nhà nước
qn chủ dần dẫn đến sự hình thành quan niệm về quyền sở hữu tối cao của Nhà
nước đối với tồn bộ ruộng đất trong nước. Đinh Bộ Lĩnh sau khi lên ngơi hồng đế
đã phong ấp hay phong hộ nơng dân cho các tướng lĩnh có cơng như Trần Lãm,
Nguyễn Tấn, Phạm Phổ…Đến nhà Tiền Lê cũng thực hiện việc phong ấp cho các
hồng tử và giao cho họ cai quản các địa phương của mình. Một số quan chức cao
cấp như Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ Lý Cơng Uẩn cũng được phong ấp ở Đằng
Châu. Vua Lê Hồn còn sử dụng một số vùng đã tịch thu được của các sứ qn
đểlàm ruộng tịch điền, phục vụ nghi lễ, khuyến khích sản xuất nơng nghiệp và lấy
KI L
Phải ñến thời Lý, nhà nước mới bắt ñầu có chính sách cụ thẻ trong vấn ñề
ruộng ñất.
- Đối với ruộng ñất công làng xã
Làng xã hình thành sớm ở nước ta, nhưng khái niệm làng, chạ nảy sinh từ xa
xưa ñược duy trì cho ñến các thời kỳ sau này. Theo sử cũ chúng ta biết rằng thế kỷ
X bên cạnh giáp vẫn còn hương, thôn, ñộng, sách, trang trại. Công cuộc khẩn
hoang mở rộng diện tích canh tác càng khẩn trương thì số làng xã lập ra càng
nhiều. Trên ñà phát triển của chế ñộ chính trị, triều Lý và Trần ngày càng nắm chắc
hơn các làng xã - ñơn vị kinh tế, hành chính của quốc gia. Việc củng cố quyền
thống trị của Nhà nước Trung ương ñối với các làng xã và việc nắm số ñinh trong
KI L
nước không chỉ liên quan ñến yêu cầu chính trị, quân sự. Thông thường các làng cổ
truyền ñều có bộ phận ruộng công và dân ñinh là những người ñược hưởng, họ phải
chịu mọi nghĩa vụ, sưu dịch ñối với Nhà nước. Sự phát triển của xã hội ñòi hỏi Nhà
nước phải nắm ñược tổng diện tích ruộng ñất trong nước. Sử cũ cho ta thông tin về
vấn ñề này: Năm 1092 nhà Lý “ñịnh số ruộng thu tô mỗi mẫu 3 thăng ñể cấp lương
cho quân”. Không một nguồn tư liệu ñương thời nào nói ñến khái niệm “ñiền bạ”.
Mãi ñến năm 1398 chủ trương này mới ñược ñặt ra. Vấn ñề ở ñây là nếu không có
ñiền bạ thì nhà Trần làm cách nào ñể nắm ñược số ruộng ñất cụ thể ñể ñánh thuế
5
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
theo đúng chế độ, phong thưởng hay ban cấp cho những người có cơng, cung nữ,
Thần tích, gia phả, chúng ta mới bắt gặp khái niệm thực ấp thi hành trong đời Trần.
Bên cạnh chính sách ban thưởng thực ấp, nhà Lý còn thực hiện hình thức ban
thưởng khác là ban thực ấp kèm thật phong. Trong bia Càn Ni sơn Hương Nghiêm
tự bi minh dựng cuối năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 5 (1125) ở Phủ Lý (Đơng Sơn Thanh Hố) và Hồng Việt thái phó lưu qn mộ chí dựng năm Thiên Thuận thứ 3
(1130) thì Thái Lưu Khánh Đàm được ban “thực ấp 6700 hộ (mộ chí ghi 6000
gia) ăn thật phong 300 hộ”. Hay tri châu Hà Hưng Tơng có thực ấp 1900 hộ và thật
phong 900 hộ, hoặc Lý Bất Nhiễm tước hầu, có thực ấp 7500 hộ, thật phong 1500
6
THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN
hộ… Hình thức này là ñặc trưng của thời Lý, sang thời Trần không còn nữa. Vậy
thực chất của nó là gì? Trước hết ñó là hình thức ñánh giá công lao và ñóng góp
của người ñược ban cấp ñối với nhà Lý. Chức, hàm, tước càng cao thì số lượng ban
OBO
OKS
.CO
M
cấp càng nhiều. Lý Thường Kiệt và sau ông là Đỗ Anh Vũ có chức hàm gần giống
nhau và ñều ñược ban tước là Việt Quốc Công thì số lượng thực ấp và thật phong
tính theo hộ như nhau: thực ấp 1 vạn hộ, thật phong 4 nghìn hộ.
Theo nhiều nhà sử học, phần thực ấp (số lượng hộ ñược ăn) là chỉ có danh
mà không có thật. Tức là người ñược ban cấp trên danh nghĩa ñược nhận một số
lượng thực ấp phù hợp và xứng ñáng với quan chức và ñóng ghóp của người ñó.
Nhưng do thực ấp của triều ñình không ñủ ñể thực hiện việc ban cấp theo ñúng số
lượng ñược ghi. Cho nên nhà Lý ñã một mặt ñánh giá công lao của người ñược ban
thực ấp, mặt khác lại quy ñịnh cụ thể số hộ mà họ ñược thật sự phong thưởng.
OKS
.CO
M
rung ủt t hu ca nhõn dõn.
Mt hỡnh thc ban thng na l thỏc ủao ủin. Ti liu ghi v thỏc ủao ủin
sm nht l Vit ủin u linh (ủu th k XIV) ủc i Vit s ký ton th chộp
li: Trong khong niờn hiu Thiờn Cm Thỏnh V (1014 1046) theo Thỏnh
Tụng ủi ủỏnh min Nam Khi thng trn tr v ủnh cụng, Phng Hiu núi:
Thn khụng mun thng tc, xin cho ủng trờn nỳi Bng Sn nộm ủao la ủi
xa, ủao ri xung ch no trong ủt cụng (nguyờn vn l quan ủa) thỡ xin ban cho
lm sn nghip. Vua nghe theo. Phng Hiu lờn nỳi, nộm ủao xa ủn hn 10 dm,
ủao ri xung hng a Mi. Vua bốn ly rung y ban cho, tha thúc thu cho
rung nộm ủao y. Vỡ vy ngi Chõu i gi (rung) thng cụng l (rung) nộm
ủao.
Nh vy thi nh Lý, Nh nc ủó ly rung cụng lng xó phong thng cho
nhng ngi cú cụng mt cỏch quy mụ. S rung ny theo Lý T Xuyờn v Phan
Huy Chỳ, ủc bin thnh rung t, nhng theo cỏc ngun s liu khỏc thỡ ch l
rung th lc (ngha l Nh nc vn gi quyn s hu). n nh Trn hỡnh thc
thỏc ủao khụng cũn ủc ủ cp ủn na.
n ủi Trn, hỡnh thc phong cp ủỏng lu ý l thỏi p. Thỏi p v ủin
KI L
trang ủu l nhng rung ủt ca tng lp quý tc quan liờu ủi Trn, nhng tớnh
cht v ủc ủim li khỏc nhau. Thỏi p l rung ủt do vua ban cp cho cỏc quý
tc triu Trn cú cụng, quy mụ tng ủi nh, ch 1 2 xó. Trờn danh ngha, rung
thng bng rung ủt m ủu cho vic s dng rung ủt lm bng lc cho cỏc
quan li. Ch ủ s hu v rung ủt ln thờm mt bc vo quyn chim hu ca
lng xó.
- i vi rung ủt t
Nh nc phong kin Vit Nam trung ủi khuyn khớch v tụn trng hỡnh
thc ny.
Vo thi Lý, ch ủ s hu rung ủt t nhõn ủó ph bin v phỏt trin. Hin
KI L
tng mua bỏn, kin tng v cỳng tng rung ủt ủó xut hin nhiu ni v Nh
nc ủó ban hnh nhiu ủiu lut cụng nhn quyn t hu ny. Vua Anh Tụng ủó
quy ủnh phộp chuc rung v nhn rung, rung cm ủ trong 20 nm ủc
chuc, tranh nhau rung ủt trong vũng 5 nm hay 10 nm thỡ ủc quyn kin. Cú
rung vn hoang m ngi khỏc cy cy thỡ tranh nhn li khụng quỏ 1 nm, ai
lm trỏi b pht 80 trng. Rung ủó bỏn ủon cú kh c thỡ khụng ủc chuc, ai
trỏi cng b 80 trng. Tranh nhn rung ao m dựng binh khớ ủỏnh t thng cng
b 80 trng, x ti ủ v ủem rung ao tr cho ngi b t thng. Nh vy nh
9
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Lý ủó chp nhn nguyờn tc rung chim gi lõu nm thỡ thnh t hu, thm chớ
to ủiu kin cho bn cng ho, ủa ch ủa phng cp chim rung vn b
hoang ca nhõn dõn lao ủng.
phi quy ủnh rừ v vic ủim ch lờn cỏc giy t, vn kh mua bỏn rung ủt, ca
ci ca t nhõn. S phỏt trin mnh m cu ch ủ s hu t nhõn v rung ủt
buc nh Trn phi cụng nhn v bo v nú. Nm 1254, nh Trn thc hin mt
ch trng cha tng cú t trc ti nay l bỏn rung quan (quan ủin) cho dõn
mua lm rung t, mi mt din l 5 quan. Cú l ủõy l ủũi hi ca t hu rung
10
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
đất, nhưng việc làm của triều đình đã mở rộng cửa cho ruộng đất tư hữu và sự thay
đổi của các chủ sở hữu. Tiền tệ thâm nhập mạnh mẽ vào ruộng đất, ruộng đất trở
thành hàng hố qua bán, trao đổi tạo ra cho xã hội một tầng lớp đặc biệt là địa chủ
OBO
OKS
.CO
M
thường hay địa chủ thứ dân và tầng lớp tiểu nơng tư hữu nhỏ phổ biến trong xã hội.
Năm 1248, nhà Trần tiến hành đắp đê trong cả nước. Để bảo vệ quyền lợi tư
hữu ruộng đất của dân, chính quyền đã hạ lệnh cho các quan địa phương nếu đắp
vào ruộng dân thì đo đạc mà đền bù bằng tiền. Việc mua bán ruộng đất cơng khai,
hợp pháp lại đựơc nhà nước ủng hộ bằng pháp lệnh năm 1254 làm cho sở hữu địa
chủ phát triển mạnh thêm. Nhưng chính sự mua bán ruộng đất cũng làm cho tính
chất sở hữu trong thành phần kinh tế này ln dao động, khơng tập trung, khơng ổn
định như thái ấp, điền trang. Lệnh bán ruộng cơng làm ruộng tư năm 1254 cũng tạo
điều kiện cho gia đình tiểu nơng mua thêm ruộng đất. Những năm mất mùa đói
kém là lúc mà ruộng đất chuyển từ dân nghèo vào địa chủ. Cuối mùa xn 1292,
tình trạng mua bán ruộng đất lại dồn dập hơn. Triều đình phải ra lệnh quy định thể
mà một trong những vấn đề then chốt là tìm cách nắm chắc quyền quản lý ruộng
đất, nhằm hình thành quyền sở hữu tối cao về ruộng đất trên thực tế (tức là bao
gồm cả quyền tịch thu hay sung cơng ruộng đất tư nhân trong những trường hợp
cần thiết). Q trình này bắt đầu từ thời Lý khi xu hướng thống nhất quốc gia giành
được ưu thế hồn tồn. Năm 1092 vua Lý Nhân Tơng ra lệnh cho cả nước lập sổ
điền bạ để thu tơ. Đây là mốc mở đầu q trình can thiệp vào quản lý tồn bộ đất
đai trong cả nước.
Q trình phát triển tự nhiên của của sở hữu tư nhân, sự phát triển của ruộng
tư là hiện tượng có tính quy luật. Đến nhà Trần, nhà nước có những chính sách
khuyến khích thì sự phát triển đó đặc biệt được đẩy mạnh: 1256 Nhà nước bán
quan điền; 1266 vua xuống chiếu cho phép vương hầu, cơngchúa, phò mã, cung tần
chiêu tập dân phiêu tán để khai khẩn ruộng hoang, lập ra điền trang. Sở hữu tư nhân
phát triển mạnh mẽ. Ruộng đất tư hữu phát triển khơng chỉ trên vùng đất mới khai
hoang mà còn qua cả con đường chuyển hố từ ruộng cơng sang ruộng tư, tức là
bao gồm cả q trình tư hữu hố ruộng đất cơng. Rõ ràng ở đây tồn tại một hiện
tượng nghịch lý: Nhà nước ra sức củng cố quyền lực của chính quyền trung ương,
đồng thời có những tác động thuận chiều cho sở hữu tư nhân dưới mọi hình thức
KI L
phát triển mạnh. Sở hữu làng xã ngày càng bị thu hẹp và chịu sự chi phối của thế
lực địa phương. Sở hữu phong kiến lớn ngày càng đóng vai trò quan trọng trong
quan hệ ruộng đất.
Sở hữu tư nhân phát triển khơng những đụng chạm đến diện tích đất cơng mà
còn kéo theo những chuyển biến về cấu trúc xã hội. Xã hội tồn tại những mâu thuẫn
cần giải quyết, đòi hỏi phải có một sự cải cách.
Tháng 7 năm 1397, Hồ Q Ly ban hành chính sách hạn chế ruộng đứng tên
kiểu “thân dân” chuyển sang hình thức chun chế.
Theo phép hạn danh điền thì quyền lợi của đại vương và trưởng cơng chúa
khơng bị đụng chạm đến. Loại đối tượng thứ hai được miễn trừ là các sở hữu tư
KI L
nhân có 10 mẫu ruộng trở xuống, nghiã là tuỵêt đại địa chủ và tồn bộ nơng dân có
sở hữu ruộng tư - tầng lớp đại diện cho hình thức kinh thế tiến bộ lúc đó - khơng bị
chính sách hạn điền động chạm đến. Đối tượng bị chĩa mũi nhọn là các chủ sở hữu
có hơn 10 mẫu ruộng mà địa vị xã hội khơng phải đại vương hay cơng chúa, chủ
yếu là các chủ điền trang. Mục đích là nhằm xố bỏ loại hình kinh tế điền trang.
Có thể nghĩ rằng chính sách hạn danh điền của Hồ Q Ly khơng được thực
hiện một cách rộng khắp và triệt để. Năm 1399, nhân vụ mưu sát Hồ Q Ly bị bại
lộ, một số tướng sối của nhà Trần cùng hơn 370 “tòng phạm” bị giết, gia tài điền
13
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
sản của họ bị tịch thu. Tổng diện tích ruộng đất thuộc sở hữu Nhà nước tănglên
đáng kể và còn sung cơng một lượng lớn nơ tỳ.
Năm 1401, Hồ Q Ly ban hành phép hạn nơ: “chiếu theo phẩm cấp mà
OBO
OKS
.CO
M
được ni nhiều hay ít khác nhau. Số thừa ra nộp lên nhà vua”. Đây là biện pháp
xóm. Năm 1428, nhà Lê hạ lệnh làm sổ ruộng sổ hộ, ra lệnh cho các địa phương
14
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
thống kê số ruộng đất của các quan ty ngạch cũ, các thế gia triều trước…dâng nộp
lên vua. Nhà Lê đã khẳng định quyền sở hữu tối cao của mình với lãnh thổ quốc
gia, đã sung cơng được hàng loạt điền trang cuả các q tộc Trần, Hồ tuyệt tự, hàng
OBO
OKS
.CO
M
loạt thửa ruộng tư của các địa chủ, nhân dân bị chết trong chiến tranh, hàng loạt
ruộng đất tư của bọn Việt gian bán nước và qn xâm lược. Trên cơ sở đó nhà Lê
ban hành các chính sách ruộng đất rộng rãi và thống nhất nhằm giải quyết các vấn
đề mâu thuẫn đang xảy ra trong xã hội.
- Phương thức phong thưởng ruộng đất
Nhà Lê phong thưởng ruộng đất cho các cơng thần. Trên tấm bia Quốc triều
tả mệnh cơng thần, Lê Chính ngay trong buổi đầu gặp Lê Lợi, nhờ có cơng lớn, đã
được phong Lân hổ vệ tướng qn, tước quan nội hầu, ban thưởng 100 mẫu quan
điền. Cách phong thưởng đó được nhà Lê biến thành chính sách cụ thể cho tướng sĩ
sau khi đất nước được hồn tồn giải phóng.
Ruộng đất phong thưởng nói chung là ruộng của các họ tuyệt tự trong chiến
tranh, ruộng bỏ hố, đất hoang có thể khai khẩn được. Nhà nước khơng lấy ruộng
M
tc, quan li t hong thỏi t cho ủn tũng t phm ủu ủc cp hng nm mt s
tin nht ủnh nh: Hong thỏi t 500 quan, Thõn vng (Hong t) 200 quan, T
thõn vng (con ủu ca hong t) 140 quan Rung ủt dựng ủ ban cp lm lc
ủin l rung cụng lng xó. Ngoi ra Nh nc cũn quy ủnh rừ: rung ủt th
nghip ủc truyn li cho con chỏu, hng lc ủi ủi. n nm 1473 Lờ Thỏnh
Tụng cũn ban hnh ch ủ cp ủt kinh thnh cho cỏc cụng thn, quan li. Ln
ủu tiờn trong lch s nh nc trung ng ban hnh mt quy ch ủy ủ v vic
cp rung lc cho cỏc quý tc, quan li, trong ủú ủc bit u hu ủi vi cỏc hong
t, cụng chỳa. H khụng nhng ủc cp hng trm mu rung th nghip ch
khụng phi 2 3 chc mu nh thi Trn.
Ch ủ lc ủin ca nh Lờ ủó gúp phn cng c v phỏt trin ch ủ s hu
t nhõn v rung ủt cng nh gúp phn xỏc lp nhng quan h sn xut ủa ch, tỏ
ủin v ch ủ búc lt ủa tụ. Ch ủ lc ủin l mt chuyn bin quan trng ca
ch ủ bng lc cho quan li trc ủõy cp bng h cú thu - phự hp vi bc
phỏt trin mi ca ch ủ s hu t nhõn ln v rung ủt v ca nhng quan h
sn xut trong quỏ kh. Nú tin thờm mt bc quan trng vo ch ủ chim hu
rung cụng ca lng xó, khng ủnh tớnh cht phong kin ca ch ủ s hu nh
KI L
nc v rung ủt.
- Chớnh sỏch ủi vi rung cụng lng xó
Sau chin tranh, Nh nc trung ng ủó nm trong tay mt s rung khỏ
ln, nu khụng khụi phc sn xut, s rung cụng khụng th to ủiu kin gii
quyt cỏc vn ủ kinh t, chớnh tr ln ca xó hi. Trong sut quỏ trỡnh xõy dng
Nh nc, vua Lờ s dng rung ủt cụng ủ ban cp, phong thng cho cụng
gia đình sử dụng.
Chính sách qn điền Lê sơ là một bước trong q trình phong kiến hố làng
xã, chuyển từ nền kinh tế điền trang q tộc sang nền kinh tế tiểu nơng, là một
KI L
bước củng cố quyền sở hữu Nhà nước về ruộng đất cơng làng xã, góp phần trói
buộc nhân dân vào ruộng đất đất và làng xã, duy trì số dân đinh cần thiết phục vụ
đất nước. Làng xã trở thành một đơn vị kinh tế phụ thuộc Nhà nước, vừa cung cấp
thóc gạo, vừa cung cấp nhân lực lao dịch, binh dịch, cung cấp đất đai để Nhà nước
ban cho các viên chức của mình. Có thể khẳng định rằng, chính sách qn điền đã
góp phần quan trọng vào việc xác lập những quan hệ sản xuất phong kiến ở nơng
thơn nửa sau thế kỷ XV. Diện tích đất cơng đã bị thu hẹp đáng kể. Nó cũng là
ngun nhân đẩy nhân dân bỏ làng đi đến những vùng đất mới để khẩn hoang, lập
17
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
nên làng mới. Nhà nước cũng nhân tình trạng đó mà mộ dân khai thác đồn điền và
ban hành các chính sách khuyến khích khai hoang, sớm nắm lấy ruộng đất khai
pháp lý và trên thực tế.
OBO
OKS
.CO
M
hoang. Chế độ sở hữu Nhà nước về ruộng đất cơng làng xã được khẳng định về
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Ruộng đất khai khẩn một nửa là ruộng cơng của làng. Ruộng chiếm xạ có thể bị
Nhà nước cơng hữu hố. Nó có tác dụng khuyến khích dân nghèo khai khẩn đất
hoang hố, mở rộng diện tích canh tác và tăng thêm nguồn thu nhập cho đất nước.
OBO
OKS
.CO
M
Nhà Lê còn ban hành chính sách về vấn đề mua bán ruộng đất: khẳng định
lại lệ giữ đất và hạn chuộc ruộng trên 30 năm đối với người trong họ, 20 năm đối
với người ngồi họ. Năm 1466, nhà Lê quy định: “những văn tự cầm bán từ thời
Trần, Hồ đến thời giặc Ngơ đều khơng được chuộc, nếu là văn tự từ năm Thuận
Thiên thứ nhất trở đi thì cho chuộc”.
Tóm lại đến thế kỷ XV, bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu Nhà nước vẫn giữ
một vai trò quna trọng trong chế độ ruộng đất nói chung. Đó vẫn là cơ sở kinh tế
chủ yếu của Nhà nước trung ương tập quyền, Nhà nước đã bảo vệ nó, chống lại tư
hữu hóa, đồng thời tăng cường hơn nữa quyền chi phối của mình, thống nhất cách
sử dụng và phân phối ruộng đất cơng làng xã, mở rộng việc khẩn hoang trên cơ sở
điều hồ quyền lợi giữa Nhà nước và tư nhân. Thế kỷ XV cũng là thời điểm quan
trọng của sự phát triển chế độ tư hữu vốn đã được khuyến khích, thúc đẩy từ thế kỷ
XIII – XIV. Xu hướng ngày càng thu hẹp của bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu Nhà
nước từng bước phát triển mặc mọi cấm đốn, hạn chế của nhà nước. Bên cạnh đó,
còn có hàng loạt điều luật về mua bán ruộng đát, cho thấy sự phát triển của tư
tưởng pháp lý nhà Lê, đồng thời phản ánh sự phát triển của chế độ sở hữu tư nhân
về ruộng đất. Có thể thấy với sở hữu tư nhân, chính quyền nhà Lê tơn trọng quyền
l, giao cho ủa phng thng kờ s ủinh, s ủin ri tớnh toỏn tng s tin thu
phi np cho Nh nc theo tng xó. S lng ủú xỏc ủnh mt ln v hng nm
Nh nc theo th m thu, khụng cn bit ủn s thay ủi v dõn ủinh hay din tớch
ủt chu thu.
Nm 1694, trc tỡnh trng nhõn dõn ngy cng khú khn, rung cụng lng
xó b lng ủon, ph chỳa buc phi ra lnh cho cỏc xó thụn trong nc lm li s
rung ủt, ghi rừ biờn gii, nỳi song, ao h, rung ủt chung gi l tu tri b, nhm
ngn chn t chim cụng vi t. Trờn c s ủú nm 1771, ph chỳa ban hnh li
phộp quõn ủin (quõn ủin Vnh Thnh hay quõn ủin Trnh Cng). Ni dung ca
chớnh sỏch ny nhm hn ch ủi tng nhn rung, nhng ngi ủó ủc cp dõn
lc hay rung lc, nhng ngi cú rung t (ca v hoc chng) ủó ủ mc ủu
khụng ủc chia rung cụng lng xó, dõn ủinh ủn tui (18 tui) thỡ ủc chia
KI L
nhng quỏ 60 tui thỡ phi tr li cho lng xó, khu phn v cỏch chia theo quy ch
ca nh nc. iu ủc bit l trong trng hp quõn dch nng n, bc bỏch xó
dõn cú th cm bỏn rung khu phn v chuc li. Bng phộp quõn ủiốn, nh nc
Lờ Trnh c gng th hin quờn lc tp trung ca mỡnh song do tỡnh trng rung
cụng khụng cũn my nờn ý ngha tớch cc khụng ủỏng k. Nm 1740, khi phong
tro nụng dõn bt ủu rm r, nh nc Lờ Trnh d ủnh ban hnh phộp quõn
ủin mi san ủu giu nghốo, cõn bng phỳ dch nhng khụng thc hin ủc.
20
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Sự thu hẹp của ruộng đất cơng chứng tỏ ruộng đất tư hữu phát triển cao độ,
4. Thế kỷ XVI - XVIII ở Đàng Trong
Từ lúc còn là hai xứ Thuận Hố và Quảng Nam dưới thời Lê, ruộng đất ở
đây đã từng bước được khai khẩn để rồi vào thế kỷ XVI, tác giả Ơ Châu cận lục có
thể viết hàng trăm trang sách ca ngợi cảnh trù phú. Vốn là vùng đất xa trung ương,
lại có nhiều chướng ngại về địa lý, ngăn cách với Đàng Ngồi, đất Đàng Trong từ
trước khi Nguyễn Hồng vào trấn trị, chưa phải là đối tượng khai thác của giai cấp
thống trị. Các triều đại Lê – Trịnh khơng quan tâm đến việc đo đạc và xác định tính
21
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
cht cụng t. Theo l thu chung, hng nm chớnh quyn ủa phng ủc lnh sai
ngi ủi khỏm xột chiu s rung cy m thu thu, thm chớ cú lỳc ủnh trc
mt s thu no ủú. Nm 1669, ký lc Vừ Tha Phi tõu lờn chỳa Nguyn: thn
OBO
OKS
.CO
M
nghe binh v ti l chớnh sỏch ln ca nh nc,kho tng ủy thỡ ca dựng ủ ,ca
dựng ủ thỡ binh giỏp mnh . Nay dõn gian nhiu ngi chim canh rung lu m
khụng chu np thu, xin cho quan bao ủc nhng rung ủt thc canh lm rung
cụng ủ thu thu m cung cho quc dng. Chỳa Nguyn chp thun, sai nhúm vn
thn H Quang i chia nhau ủi ủo ủc nhng rung ủt ủang ủc cy cy cỏc
huyn, ủnh lm ủ thu thúc thu v xem l rung cụng, giao cho xó chia cho nhõn
dõn. Li quy ủnh t ủú v sau ai khai khn ủt hoang thnh rung, cho ủc xem
l rung t, gi l bn cht t ủin, xó dõn khụng ủc tranh chim, cho nờn
OBO
OKS
.CO
M
cày cấy và nộp thuế. Từ đó về sau, nếu ai khai khẩn thêm được bao nhiêu ruộng đất
ở các vùng đồi núi thì cho phép đặt lệ vĩnh viễn, dân xã khơng được tranh chiếm.
Như vậy chúa Nguyễn đã cơng hữu hố tồn bộ ruộng đất do nhân dân khai phá từ
mấy trăm năm trước, biến nó thành một loại ruộng cơng làng xã kiểu Đàng Ngồi.
Dân nghèo lưu vong vào phía Nam khẩn hoang ngày càng nhiều. Năm 1698 khi đặt
hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn, họ Nguyễn đã thu nhận thêm 4 vạn hộ dân cư ở
đây, còn cho phép các nhà giàu mộ dân phiêu tán. Bên cạnh bộ phận sở hữu nhỏ
của nơng dân tự canh còn hình thành cả một bộ phận sở hữu lớn về ruộng đất khá
đặc trưng của Đàng Trong. Ở thế kỷ XVIII, bên cạnh việc sát nhập các vùng đất
của Mạc Cửu (Hà Tiên) và Dương Ngạn Địch (Gia Định), chúa Nguyễn lại động
viên các nhà giàu ở Thuận Hố, Quảng Nam mộ người vào đây, bỏ vốn khẩn hoang
để lập làm ruộng tư.
Có thế thấy, bằng nhiều cách khác nhau, đến cuối thế kỷ XVIII, một phần
lớn đất Nam Bộ ngày nay đã được khai phá và biến thành một vùng đất trù phú.
Hình thức quan đồn điền, quan điền trang của chúa Nguyễn và các điền trang lớn,
tư nhân ở phía Nam đã làm cho chế độ ruộng đất ở Đàng Trong khác biệt so với
Đàng Ngồi.
KI L
5. Nửa đầu thế kỷ XIX (1802 – 1858)
Ở nửa đầu thế kỷ XIX, tình hình ruộng đất – tư liệu sản xuất chính của nơng
trí. Đến 1840, Minh Mạng sửa lại phép chia ruộng, cho tất cả mọi người đều được
hưởng một phần như nhau, riêng lão nhiêu, tàn tật được 1/2 phần, lương điền
củalính khơng thay đổi. Chế độ này khơng có tác dụng đáng kể vì làng nào làm
theo tục lệ làng ấy, dân nghèo vẫn khơng có ruộng đất. Chế độ qn điền cũng
được đưa vào Nam Kỳ cuối đời Minh Mạng nhưng khơng đựơc bao nhiêu.
Ban đầu Minh Mệnh khơng đồng ý đề nghị của Vũ Xn Cẩn “phàm ruộng
tư, định hạn là 5 mẫu, ngồi ra lấy làm ruộng cơng cả, chia cấp cho binh dân để làm
KI L
ruộng lương, ruộng khẩu phần”. Sau do thực tế u cầu phải ban lễ sung cơng một
nữa số rựơng đất tư, đem chia cho dân theo phép qn điền. Nhà Nguyễn tỏ ra bất
lực trong việc giải quyết vấn đề ruộng đất.
Một trong các cách mở rộng ruộng đất của nhà Nguyễn khá quen thuộc là lập
đồn điền khai khẩn và khuyến khích nhân dân khai hoang, phục hố… Các năm
1802, 1803, Gia Long đã nhiều lần hạ lệnh cho quan lại khuyến khích nhân dân,
qn sĩ phục hố, thế nhưng năm 1806, theo báo cáo của quan lại Bắc Thành, nhân
24
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
dân tiếp tục phiêu tán đến hơn 370 thơn xã; năm 1826 theo quan lại Bắc Thành 13
huyện trong hạt trấn Hải Dương, nhân dân vì đói phiêu tán đến 108 xã thơn.
Năm 1828, theo đề xuất của Tham tán qn vụ Bắc Thành là Nguyễn Cơng
OBO
OKS
.CO