ôn tâp phần văn học trung đại - NV9 - Pdf 27

ngữ văn9 –văn học trung đai. 1
ƠN TẬP NGỮ VĂN 9:
(PHẦN VĂN HỌC TRUNG ĐẠI)
Chuyện người con gái Nam Xương – Nguyễn Dữ
Câu 1: Giới thiệu sơ lược về Nguyễn Dữ và tác phẩm Truyền kì mạn lục.
TL: -Về tác giả:
+Nguyễn Dữ sống ở thế kỉ XVI,giai đoạn chế độ phong kiến đang từ đỉnh cao của sự phát triển cuối thế kỉ XV,bắt
đầu rơi vào tình trạng loạn ly suy yếu.
+Nguyễn Dữ là một dật só tiêu biểu,chỉ làm quan một năm rồi cáo quan về ở ẩn giữ cách sống thanh cao đến trọn
đời. Dùvậy,qua tác phẩm,ông vẫn tỏ ra quan tâm đến xã hội và con người.
-Về tác phẩm:
+Truyền kỳ mạn lục gồm hai mươi truyện viết bằng chữ HÁN,theo lối văn biền ngẫu có xen lẫn một số bài thơ.
+Nhân vật chính trong các truyện là phụ nữ có phẩm chất tốt đẹp,khao khát hạnh phúc lứa đôi nhưng gặp nhiều bất
hạnh,những trí thức phong kiến sốùng ngoài vòng cương toả của lễ giáo.
+Kết thúc mỗi tác phẩm có lời bình,bàn luận về ý nghóa câu chuyện (hiện nay chưa xác đònh được lời bình của tác
giả hay của người đời sau thêm vào).
+Truyền kì mạn lục được Vũ Khâm Lân đời hậu Lê khen là”Thiên cổ kì bút”,”Chuyện người con gái Nam xương”
là một trong hai mươi truyện trên.
Câu 2:Trình bày những hiểu biêt của em về giá trò nghệ thuật của những đoạn đôái thoại và những lời tự bạch
trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ?
TL:Giá trò nghệ thuật của hững đoạn đối thoại và những lời tự bạch trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của
Nguyễn Dữ.
Chuyện có nhiều lời thoại và tự bạch của nhân vật,được sắp xếp rất đúng chỗ làm cho câu chuyện trở nên sinh động
hơn,góp phần không nhỏ vào việc khắc hoạ quá trình tâm lí và tính cách nhân vật (lời của bà mẹ Trương Sinh là của
một người nhân hậu và từng trải; lời của Vũ Nương bao giờ cũng chân thật,dòu dàng,mềm mỏng có tình, có lý,ngay
cả trong lúc tức giận nhất,là lời của một người phụ nữ hiền thục,nếùt na,trong trắng,không có gì khuất tất;lời của bé
Đản hồn nhiên thật thà)
Câu 3:Tóm tắt “Chuyện người con gái Nam Xương”.
TL:Xưa có chàng Trương vừa cưới vợ xong đã đầu quân đi lính để lại người mẹ già và người vợ trẻ là Vũ Thò Thiết,
còn gọi là Vũ Nương,bụng mang dạ chửa. Mẹ Tương Sinh ốm chết Vũ Nương lo ma chay chu tất.Giặc tan,Trương Sinh
trở về nhà,nghe lời con trai bèn nghi vợ mình không chung thuỷ.Vũ Nương bò oan,thanh minh không được,bèn gieo

1-Phân tích những nét phẩm
chất tốt đẹp của Vũ nương:
+Vũ Nương vừa có nhan sắc
vừa có đức hạnh
+Trong đạo vợ chồng, Vũ
Nương là người vợ hết mực
thương chồng và thủy chung.
+Vũ Nương là người phụ nữ
đảm đang, hiếu thảo
2-Phân tích bi kịch (nỗi oan của
Vũ Nương):
-Nỗi oan
-Ý nghĩa cái chết của Vũ
Nương (giá trị hiện thực, giá
trị tố cáo)
I-
“Chuyện người con gái Nam Xương” rút trong tác phẩm “Truyền kì mạn lục”, áng
văn xuôi viết bằng chữ Hán của Nguyễn Dữ trong thế kỉ 16, một kiệt tác văn chương
cổ.Truyện kể lại một câu chuyện truyền kì có nhiều yếu tố hoang đường lưu truyền
trong dân gian về bi kịch gia đình.Qua nhân vật Vũ Nương( Vũ Thị Thiết), tác giả
đã ca ngợi vẻ đẹp của đức hạnh, của lòng vị tha và thể hiện số phận bi kịch của
người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
II-
-Số phận của Vũ Nương là một bi kịch thương tâm, Nguyễn Dữ đã dành sự đồng
cảm sâu sắc và lòng cảm phục đối với nàng.
+Vũ Nương vừa có nhan sắc vừa có đức hạnh: “tính tình thùy mị nết na, lại thêm
có tư dung tốt đẹp”.Nhờ vậy nên Trương Sinh, con nhà hào phú “mến vì dung hạnh”
đã xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về.
+Trong đạo vợ chồng, Vũ Nương là người vợ hết mực thương chồng và thủy
chung. Biết chồng có tính “đa nghi” nàng đã“ giữ gìn khuôn phép” không để xảy ra

nhẫn. Giấu biệt lời con nói, Trương Sinh đã mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi. Vợ
phân trần, không tin; hàng xóm khuyên can cũng chẳng ăn thua gì cả! Chính chồng
và con – những người thân yêu nhất của Vũ Nương đã xô đấy nàng đến bên bờ vực
thẳm. Thời chiến tranh loạn lạc, nàng đã trải qua những năm tháng cô đơn, giờ đây
đứng trước nỗi oan, nàng chỉ biết nuốt nước mắt vào lòng Vũ Nương chỉ có một
con đường để bảo toàn danh tiết : nhảy xuống sông Hoàng Giang tự tử. Lời nguyền
của nàng với trời và thần sông đã làm cho người đời xót xa đối với người con gái
“bạc mệnh duyên phận hẩm hiu”. Vũ Nương không phải làm “làm mồi cho cá
tôm”, “làm cơm cho diều quạ”, không bị người đời phỉ nhổ mà nang đã được các
nàng tiên trong cung nước thương tình vì nàng vô tội, rẽ một đường nước cho nàng
thoát chết. Và cũng chẳng bao lâu sau đó, Trương Sinh biết vợ mình chết oan chỉ vì
ngữ văn9 –văn học trung đai. 3
III- Kết luận :
-Giá trị của truyện
-Cảm nghĩ về người phụ nữ
trong xã hội cũ.
chuyện “chiếc bóng”. Nàng tuy được hầu hạ Linh Phi, nhưng hạnh phúc của nàng ở
trần thế bị tan vỡ “trâm gãy bình rơi”,quyền làm mẹ , làm vợ của nàng vĩnh viễn
khơng còn nữa. Đó là nỗi đau đớn nhất của ngườ phụ nữ.
Nguyễn Dữ đã ghi lại câu chuỵện cảm động thươg tâm này với tất cả tấm lòng nhân
đạo. Cái chết đau thương của Vũ Nương có giá trị tố cáo hiện thực sâu sắc. Nó lên
án chiến tranh phong kiến đã làm cho đơi lứa phải li biệt, người vợ trẻ sống vất vả
cơ đơn; lên án lễ giáo phong kiến khắt khe với tệ gia trưởng độc đốn, gây nên bi
kịch gia đình, làm tan vỡ hạnh phúc. Vì lẽ đó mà “Chuyện người con gái Nam
Xương” có giá trị nhân bản sâu sắc.
III- “Tryền kì mạn lục” là kiệt tác của nền văn học cổ Việt Nam, xứng đáng là “thiên
cổ kì bút”. Người đọc mãi mãi thương cảm Vũ Nương, thương cảm những người
phụ nữ tài hoa bạc mênh. “Chuyện người con gái Nam Xương” tố cáo hiện thực xã
hội phong kiến Việt Nam thế kỉ 16, nêu bật thân phận và hạnh phúc người phụ nữ
trong bi kịch gia đình. Gần 500 năm sau, “Chuyện người con gái Nam Xương” mà

phục Nguyễn Huệ vì đó là ý kiến sáng suốt. Nguyễn Huệ Đã thể hiện tính chất dân chủ của một vò tướng.
+Nguyễn Huệ là người hành động là người có hành động quyết đoán : nghe giặc chiếm Thăng Long, Bắc Bình Vương
giận lắm, đònh thân chinh cầm quân đi ngay. Trong vòng một tháng Bắc Bình Vương đã làm được bao nhiêu việc lớn:
tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế, đốc suất đại binh ra Bắc, gặp gỡ người cống só ở huyện La Sơn, tuyển mộ quân lính
và mở duyệt binh lớn ở Nghệ An, phủ dụ tướng só, đònh kế hoạch hành quân, đánh giặc và kế hoạch đối phó với nhà
Thanh sau chiến thắng.
ngữ văn9 –văn học trung đai. 4
+Nguyễn Huệ có trí sáng suốt, sâu xa, nhạy bén: Sáng suốt trong việc phân tích tình hình thời cuộc; đưa ra lời phủ dụ
quân lính được xem như là bài hòch ngắn, gọn có tác động kích thích lòng yêu nước; xét đoán và dùng người tài trí qua
việc xử trí các tướng só ở Tam Điệp; hiểu sở trường, sở đoản của tướng só, khen chê đúng người, đúng việc.
+Trong chiến đấu , Nguyễn Huệ đã thể hiện ý chí quyết thắng và tầm nhìn xa rộng( tầm nhìn chiến lược): Mới khởi
binh, đã dám chắc phương lược tiến đánh đã có tính sẵn, tính cả kế hoạch ngoại giao sau khi chiến thắng đối với một
nước lớn gấp mười nước mình.
+Xuất quân thần tốc :Ngày 25/12 ( tháng chạp) xuất quân từ Phú Xuân, ngày 29/12 (tháng chạp) đến Nghệ An vượt
350 km núi đèo, ngày 30/12 (tháng chạp) tuyển quân, duyệt binh ở Nghệ An và ra Tam Điệp (150km), đêm
30/12(tháng chạp) tiến ra Thăng Long đến ngày 5/1 (tháng giêng) ăn tết ở Thăng Long vượt dự tính 2 ngày . Hành
quân xa bằng chân (đi bộ), bằng cáng, võng liên tục như vậy nhưng quân lính vẫn chỉnh tề.
+Hình Quang Trung trong chiến trận thật lẫm liệt: Quang Trung thân chinh cầm quân thể hiện một tổng chỉ huy thật
sự qua việc họach đònh phương lược tiến đánh, tự mình thống lónh một mũi quân, cưỡi voi đi đốc thúc, xông pha tên
đạn, lãnh đạo đánh các trận thật đẹp,thắng áp đảo quân thù, tạo thế bất ngờ trong chiến đấu, công phá đồn Ngọc Hồi
một cách sáng tạo. Hình ảnh của vua nổi bật trong trận Ngọc Hồi: khói tỏa mù trời, cách gang tấc không thấy gì, nhà
vua cưỡi voi đi đốc thúc. Hình ảnh Quang Trung ngổi trên bành voi, chiến bào đỏ đã sạm đen vì khói súng, dẫn đầu
đoàn tượng binh vào Thăng Long quả thật lẫm liệt oai hùng hiếm có trong lòch sử.
+Hồi mười bốn là bức tranh sinh động về người anh hùng Nguyễn Huệ, vò vua văn võ song toàn chỉ huy tài tình cuộc
hành binh thần tốc tiêu diệt bọn xâm lược Mãn Thanh, làm thất bại âm mưu xâm lược của chúng.

TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU
Đê: Hãy viết một bài văn thuyết minh ngắn giới thiệu về nhà thơ Nguyễn Du và giá trị tác phẩm “truyện Kiều”.
Gợi ý bài làm: Nội dung cụ thể
I- Mở bài:

Bao giờ ngàn Hống hết cây
Sơng Lam hết nước , họ này hết quan.
Cuộc đời của Nguyễn Du gắn bó với những biến cố lịch sử của giai đoạn
cuối thế kỷ XVIII đầu hế kỷ XIX . Đây là giai đoạn lịch sử đầy biến động với
hai đặc điểm nổi bật : chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng ,
bão táp phong trào nơng dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi, đỉnh cao là cuộc
khởi nghĩa Tây Sơn.
Trong hồn cảnh ấy, Nguyễn Du sống phiêu bạt nhiều năm trên đất Bắc
(1786-1796). “Ơng trải qua mười năm gió bụi”, có lúc ốm đau khơng có
thuốc, mái tóc sớm bạc. Năm 1802, Gia Long triệu Nguyễn Du ra làm quan.
Ơng được làm chánh sứ sang Trung Quốc (1913-1914). Năm 1820, ơng được
cử làm chánh sứ lần thứ hai, nhưng chưa kịp đi ,ơng đã mất.
Năng khiếu văn học bẩm sinh, vốn sống vơ cùng phong phú, kết hợp với
trái tim u thương vĩ đại đã tạo nên thiên tài Nguyễn Du
Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Du vơ cùng rạng rỡ, để lại nhiều thơ
ngữ văn9 –văn học trung đai. 5
b/ Thuyết minh về giá trị của truyện
Kiều:
-Nguồn gốc.
-Giá trị :
+Nội dung: hiện thực, nhân đạo.
+Nghệ thuật?
III- Kết bài :

Phát biểu chung về tác giả, tác
phẩm.
chữ Hán và chữ Nơm:
Về chữ Hán có 3 tập thơ : Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục, Thanh
Hiên thi tập.
Về chữ Nơm có Truyện Kiều, Văn chiêu hồn

vẻ đẹp con người. Để gợi lên vẻ đẹp duyên dáng, thanh cao, trong trắng của người thiếu nữ :
Mai cốt cách , tuyết tinh thần
Vẻ đẹp trang trọng, đoan trang của Thúy Vân được so sánh với hình tượng thiên nhiên, với những thứ cao đẹp trên
đời: trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc:
Vân xem trang trọng khác vời
Khn trăng dầy dặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Gợi tả vẻ đẹp của Thúy Kiều, tác giả vẫn dùng những hình tượng ước lệ:
Làn thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm , liễu hờn kém xanh
Hình ảnh ước lệ “làn thu thủy” – làn nước mùa thu gợn sóng gợi lên thật sống động vẻ đẹp của đôi mắt trong sáng,
long lanh, linh hoạt,…Còn hình ảnh ước lệ “nét xuân sơn” – nét núi mùa xuân lại gợi lên đôi mày thanh tú trên giương
mặt trẻ trung.
Cái tài của Nguyễn Du là tuy sử dụng bút pháp ước lệ nhưng chân dung hai chò em Thúy Vân, Thúy Kiều hiện lên
thật sinh động, đa dạng , “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”.
Khi miêu tả chân dung nhân vật là chân dung mang tính cách số phận. Vẻ đẹp của Thúy Vân tạo sự hòa hợp,
êm đềm với xung quanh, “mây thua”, “tuyết nhường” nên nàng sẽ có cuộc đời bình lặng, suôn sẻ . Còn vẻ đẹp của
ngữ văn9 –văn học trung đai. 6
Thúy Kiều làm cho tạo hóa phải ghen ghét, các vẻ đẹp khác phải đố kò – “hoa ghen”, “liễu hờn” – nên số phận nang
phải éo le đau khổ.
-Sự tinh tế của tác giả là khi miêu tả nhân vật Thúy Kiều, tác giả miêu tả chân dung Thúy Vân trước để làm
nền nổi bật lên chân dung Thúy Kiều. Có thể coi đây là thủ pháp nghệ thuậït đòn bẩy. Nguyễn Du chỉ dành bốn câu
để gợi tả Vân, trong khi đó dành tới mười hai câu thơ để cực tả vẻ đẹp của Kiều. Vẻ đẹp của Vân chủ yếu là ngoại
hình, còn vẻ đẹp của Kiều là nhan sắc , tài năng , tâm hồn.
Thúy Vân, Thúy Kiều là những nhân vật chính diện nên khi miêu tả tác giả chủ yếu tác giả dùng bút pháp ước lệ. Vì
vẻ đẹp của hai chò em Kiều là vẻ đẹp lí tưởng nên Nguyễn Du đã dùng những khuôn mẫu, ước lệ để diễn tả vẻ đẹp
vượt ra ngoài, vượt lên trên khuôn mẫu của tuyệt sắc giai nhân.
2-Em có nhận xét gì về cách sử dụng từ ngữ của Nguyễn Du trong việc miêu tả ngoại hình hai chò em Thuý Kiều
,cách miêu tả ấùy đã dự báo số phận của hai nhân vật như thế nào?

gợi tả mùa xn theo cách riêng. Trước hết hình ảnh “con én đưa thoi”là hình ảnh ẩn dụ nhân hóa vừa gợi thời gian vừa
gợi khơng gian, Hình ảnh chim én bay liệng trong bầu trời xn ất nhanh như chiếc thoi chạy đi chạy lại trên khung dệt
khơng những nêu lên nét đặc trưng của mùa xn (mùa xn chim én về) mà còn gợi thời gian trơi đi rất nhanh (như thoi
đưa), ngày xn , ngày vui trơi rất nhanh. Cảm giác nuối tiêc thời gian thống hiện ở câu thơ “Thiều quang chín chục đã
ngồi sáu mươi” khi tác giả tả ánh sáng đẹp của mùa xn đã trải qua hơn sáu mươi ngày, đã hết tháng hai sang tháng ba.
Những số từ “chín chục, ngồi sáu mươi” cùng với từ “đã” nói lên điều ấy. Trong tháng cuối cùng của mùa xn chim én
vẫn rộn ràng bay liệng giữa bầu trời trong sáng.
Hai câu thơ tiếp theo khơng hồn tồn là sáng tạo của Nguyễn Du. Ơng đã tiếp thu và đổi mới từ hai câu thơ cổ
Trung Quốc :
Phương thảo thiên liên bích
Lê chi sổ điểm hoa
( cỏ non liền với trời xanh, tên cành lê có mấy bơng hoa)
ngữ văn9 –văn học trung đai. 7
So với hai câu thơ xưa, rõ ràng hai câu thơ của Nguyễn Du trở thành một bức họa tuyệt đẹp về mùa xn:
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bơng hoa.
Gam màu làm nền cho bức tranh xn là thảm cỏ xanh non trải rộng tới chân trời . Trên cái nền xanh dịu mát đó điểm
xuyết một vài bơng hoa lê trắng. Câu thơ cổ Trung Quốc chỉ nói cành lê điểm vài bơng hoa mà khơng nói tới màu sắc của
hoa lê. Nguyễn Du chỉ thêm một chữ “trắng” cho hoa lê mà bức tranh xn đã khác . Trong câu thơ của Nguyễn Du , chữ
trắng đã thành điểm nhấn, làm nổi bậc thần sắc của hoa lê, của bức tranh. Màu xanh của cỏ non và sắc trắng của hoa lê
làm cho màu sắc có sự hài hòa tới mức tuyệt diệu. Tất cả đều gợi lên vẻ đẹp riêng của mùa xn: “cỏ non” mới mẻ, tinh
khiết, giàu sức sống; “xanh tận chân trời” khống đạt trong trẻo; “trắng điểm một vài bơng hoa” thanh khiết. Chữ “điểm”
làm cho cảnh vật trở nên sinh động, có hồn chứ khơng tĩnh tại.
Màu trắng –xanh hài hòa gợi cảm giác mênh mơng mà khơng quạnh vắng, trong sáng mà tẻ trung, nhẹ nhàng mà
thanh khiết. Đúng là một bức họa tuyệt tác về cảnh ngày xn trong sáng.
2- Hãy phân tích sáu câu cuối trong đoạn trích “Cảnh ngày xn”?
Sáu câu cuối trong đoạn thơ “Cảnh ngày xn” ghi lại cảnh chị em Thúy Kiều đi chơi xn đang dần bước trở về
nhà. Mặt trời đã “tà tà” gác núi. Ngày hội ngày vui đã trơi qua nhanh:
Tà tà bóng ngã về tây
Chị em thơ thẩn dan tay ra về

-ngôn ngữ độc thoại :thường là lời nói thầm bên trong, nhân vật tự nói với chính
mình.
-ngôn ngữ đối thoại là lời nhân vật được bộc lộ ra bên ngoài, đối thoại với nhân
vật khác.
*Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình: là mượn cảnh vật để gửi gắm(ngụ) tâm trạng. Cảnh ở đây không đơn thuần là bức
tranh thiên nhiên mà còn là bức tranh tâm trạng. Cảnh ở đây là phương tiện miêu tả còn tâm trạng là mục đích
miêu tả.
(so sánh với đoạn “Cảnh ngày xuân” – đơn thuần tả cảnh; còn “Kiều ở lầu Ngưng Bích” –tả cảnh ngụ tình).
ngữ văn9 –văn học trung đai. 8
Câu hỏi:
1- Nghệ thuật tả cảnh và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình giống và khác nhau như thế nào?
2-
Phân tích những điểm thành công trong nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du ở đoạn trích “Cảnh
ngày xuân” và tả cảnh ngụ tình trong tám câu cuối đoạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích”?
Trả lời:
1- Nghệ thuật tả cảnh và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình:
+Giống nhau: ở tả cảnh
+Khác nhau :ở ngụ tình
-Nghệ thuật tả cảnh đơn thuần thì đối tượng, mục đích miêu tả là thiên nhiên, tác giả tực tiếp miêu tả cảnh vật.
-Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình là mượn cảnh vật để gửi gắm (ngụ) tâm trạng. Cảnh khi ấy không đơn thuần là bức
tranh thiên nhiên mà còn là bức tranh tâm trạng. Cảnh là phương tiện miêu tả còn tâm trạng là mục đích miêu tả.
Đoạn “Cảnh ngày xuân” là tả cảnh còn đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là tả cảnh ngụ tình.
2- Phân tích:
a/ Đoạn “ Cảnh ngày xuân”
-Giới thệu đoạn thơ: “Cảnh ngày xuân” là đoạn thơ trích trong phần đầu của “truyện Kiều” – Nguyễn Du có
những điểm thành công trong nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du
-Phân tích:
+Đoạn thơ có kết cấu theo trình tự thời gian, rất phù hợp với cuộc du xuân của chò em Thúy Kiều:
*Bốn câu đầu gợi tả khung cảnh ngày xuân.
*Tám câu tiếp theo gợi tả khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh.

ngữ văn9 –văn học trung đai. 9
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
+Khi nhớ người yêu, xót xa cho duyên phận thì:
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
+Khi buồn cho cảnh ngộ của mình:
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
+Lúc Kiều trong tâm trạng lo âu, dự cảm về tương lai hiểm nguy đón đợi phía trước thì hiện ra cảnh tượng hãi
hùng:
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
m ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Cảnh lầu Ngưng Bích được nhìn qua con mắt và tâm trạng của Kiều: cảnh từ xa đến gần,màu sắc từ nhạt đến đậm, âm
thanh từ tónh đến động, nỗi buồn Kiều từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ.
“Gió cuốn” , sóng “ầm ầm”kêu quanh ghế ngồi” là cảnh hãi hùng nhất, báo hiệu số phận của Kiều sau
đó:mắc lừa Sở Khanh để rồi dấn thân vào đời “thanh lâu”.
-Điệp ngữ “buồn trông” mở đầu câu thơ sáu chữ,tạo âm hưởng trầm buồn. Là điệp khúc của cái nhìn với
cảnh, cũng là điệp khúc của tâm trạng, một tâm trạng nặng nề và kéo dài.
Có thể nói dưới ngọn bút của Nguyễn Du, hình tượng thiên nhiên cùng một lúc đảm nhận hai chức năng: thể
hiện ngoại cảnh và thể hiện tâm cảnh. Ở chức năng thứ hai, hình tượng thiên nhiên là phương tiện nghệ thuật đặc sắc
để Nguyễn Du miêu tả nội tâm và khắc họa tính cách nhân vật.
3- Câu hỏi tích hợp: Phân biệt nghóa các từ: man mác, tan tác và giải thích cụm từ “hoa trôi man mác” là trôi
thế nào? Tại sao nói từ man mác là từ tả tâm trạng Kiều chứ không phải là hình dáng hoa?
(man mác:(cảnh vật, màu sắc )chiếm cả một khoảng không bao la, như trải ra trong không gian vắng lặng, gợi tâm
trạng cô đơn – có tâm trạng lâng lâng, đượm buồn – tan tác : rời rã , tả tơi mỗi nơi một mảnh – hoa trôi man mác : trôi
trong một không gian rộng vắng lặng – man mác từ tả tâm trạng buồn , cô đơn chứ không phải tả hình dáng hoa).
Đoạn Mã Giám Sinh mua Kiều (Trích truyện Kiều – Nguyễn Du)
*Nét nội dung , nghệ thuật cơ bản của đoạn trích:

Nộâi dung: Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du trên cả hai phương diện: vừa lên án những thế lực xấu

tên buôn người họ Mã. Sự đả kích ấy càng sâu cay hơn khi một người “trạc ngoại tứ tuần” lại tỉa tót công phu, lại tô
vẽ cho mình ra dáng trẻ.
-Nguyễn Du đã rất nhanh tay ghi lại (quay lướt) cái hành động:
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng
“Ghế trên” là ghế ở vò trí quan trọng, dành cho bậc cao niên , bậc huynh trưởng , bậc đáng kính .Thế mà, Mã vừa vào
nhà đả nhảy “tót” lên ngồi , hắn đã quên rằng mình là kẻ đi hỏi vợ, bản chất con buôn của hắn đã bộc lộ, hắn cho
rằng mình là kẻ bề trên , kẻ có tiền , muốn làm gì chẳng đươc. “Tót” là hành động rất nhanh nhẹn .Khác với “tót vời”
là tuyệt vời. Ngồi tót là một hành động hết sức bất nhã của Mã Giám Sinh. Mã vô tình hay cố ý? Đó là bản chất thói
quen hay do sơ suất? Theo dõi Mã từ đầu, biết nguồn gốc của Mã, chúng ta dễ đoán rằng đây là hành động theo thói
quen của y, thói quen của kẻ hạ lưu, vô học, cậy mình có tiền chẳng coi ai ra gì. Hành động “ngồi tót” là quá bất ngờ,
quá nhanh,”ống kính” không nhanh, không nhạy thì làm sao có thể ghi lại được.
-Nhàthơ cũng đã rất nhanh ghi lại cách nói năng cộc lốc của Mã ( cũng có thể là của mụ mối):
Hỏi tên, rằng: “Mã Giám Sinh”,
Hỏi quê, rằng: “Huyện Lâm Thanh cũng gần”.
Câu trả lời nhát gừng, không có chủ ngữ, không thèm thưa gửi chỉ có thể là lời của kẻ vô học hoặc hợm
của , cậy tiền, của kẻ sợ nói nhiều lộ cái bòp bợm giả dối.
Với cách giới thiệu lai lòch , tông tích cũng như qua việc miêu tả ngoại hình , cử chỉ , ngôn ngữ của Mã Giám
Sinh, nhà thơ đã lột trần bộ mặt hợm hónh, khoe của, bất lòch sự của một tên “buôn người” bòp bợm ,gian ngoa.
- Về bản chất , Mã Giám Sinh là điển hình của bản chất con buôn lưu manh với đặc tính giả dối, bất nhân và
vì tiền Bản chất bất nhân , vì tiền của Mã Giám Sinh bộc lộ qua cảnh mua bán Thúy Kiều.
+Mã bất nhân trong tâm lí lạnh lùng vô cảm, xem Kiều như đồ vật:
Mối càng vén tóc bắt tay
……….
Đắn đo cân sắt cân tài
p cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ
Nếu là lễ “vấn danh” thì làm gì có chuyện “vén tóc bắt tay” “đắn đo cân ép thử ”. Cảnh trên là cảnh của kẻ đi
mua hàng “người” cân nhắc để tính lời lãi. Dưới con mắt của Mã Giám Sinh, Kiều tài sắc lúc này chỉ là một món
hàng không hơn không kém, đẻ hắn kiếm chác.Mã đã gật gù tán thưởng món lời:”Mặn nồng một vẻ một ưa”, chẳng
khác gì cư chỉ đê tiện “lẩm nhẩm gật đầu” của Sở Khanh sau này. Khi đã ưa, đã vừa ý món hàng, Mã mới tùy cơ dặt
dìu, lựa lời nói khách sáo văn hoa. Y trở về giọng điệu của chàng trai đi hỏi vợ:


Đề: Nhận xét nghệ thuật tả người của Nguyễn Du qua hai đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” và “Mã Giám Sinh mua
Kiều” (Trích truyện Kiều)
Gợi ý bài làm

I- Giới thiệu truyện Kiều ,nêu nét đặc sắc nghệ thuật tả người (Truyện Kiều là kiệt tác của Nguyễn Du , khơng những có
giá trị về nội dung ,Truyện Kiều còn là kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các phương diện ngơn ngữ, thể
loại. Đặc biệt là nghệ thuật tả người , nhất là miêu tả và khắc họa tính cách, tâm lý nhân vật. ¸nêu tên hai đoạn trích theo đề
bài (qua hai đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” và Mã Giám Sinh mua Kiều” ta cũng cảm nhận được tài năng tả người cua
Nguyễn Du)
II-
a/ Nhân vật trong truyện Kiều được chia làm hai tuyến : -Chính diện ( Thúy Kiều , Thúy Vân , Kim Trọng, Từ Hải )-
phản diện (Mã Giám Sinh, Tú bà, Hoạn Thư, Sơ Khanh )
b/ Cách miêu tả đối với nhân vật chính diện ( Trong đoạn “Chị em Thúy Kiều” ):
+Cách giới thiệu của tác giả đầy trân trọng và ưu ái. Khi giới thiệu chị em Thúy Kiều:
Đầu lòng hai ả Tố nga
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân
+Khi miêu tả nhân vật chính diện thường là những con người lý tưởng , nên tác giả dùng bút pháp ước lệ , tượng
trưng:Nghóa là sử dụng những qui ước trong biểu hiện nghệ thuật như dùng hình tượng thiên nhiên
đẹp: trăng , hoa , ngọc, tuyết,….để nói về vẻ đẹp con người. Để gợi lên vẻ đẹp duyên dáng, thanh cao,
trong trắng của người thiếu nữ :
Mai cốt cách , tuyết tinh thần
Vẻ đẹp trang trọng, đoan trang của Thúy Vân được so sánh với hình tượng thiên nhiên, với những thứ
cao đẹp trên đời: trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc:
Vân xem trang trọng khác vời
Khn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Gợi tả vẻ đẹp của Thúy Kiều, tác giả vẫn dùng những hình tượng ước lệ:
Làn thu thủy, nét xuân sơn

Vân. Một vể đẹp đến độ “hoa ghen”, “liễu hờn”. Điều đó chứng tỏ nhan sắc Thuý Kiều đã vượt ra ngoài
khuôn khổ, ngoài tưởng tượng ,ngoài qui luật tự nhiên. Thiên nhiên ,tạo hoá có sự ganh ghét , đố kò ,
báo hiệu một sự trả thù sau này của trời đất (thiên nhiên) đối với số phậncủa Kiều .Hai từ ghen hờn
đã báo trước cuộc đời Kiều chắc sẽ trải qua nhiều tai ương , bất hạnh.
Trong miêu tả, Nguyễn Du đã dự cảm về thân phận mỗi người trong tương lai : Thuý Vân thì
êm đềm phẳng lặêng, còn tương lai Thuý Kiều đầy sóng gió bất trắc.
Thúy Kiều là một nhân vật tuyệt đẹp trong truyện Kiều, Nguyễn Du đã miêu tả Thúy Kiều bằng những vần thơ lục
bát đẹp nhất. Ơng đã dành cho nhân vật bao tình cảm u mến, trân trọng sâu sắc. Sự kết hợp tài tình bút pháp ước lệ
tượng trưng, sử dụng các biện pháp tu từ, nhất là ẩn dụ , so sánh, một ngơn ngữ thơ tinh luyện, hàm súc, hình tượng và gợi
cảm để vẽ nên bức chân dung mỹ nhân bằng thơ sáng giá nhất trong nền văn học cổ nước nhà. Thúy Kiều hiện lên với bao
phẩm chất tốt đẹp, đậm đà bản sắc dân tộc.
c/ Đối với nhân vật phản diện :
+ Cách giới thiệu đầy khinh ghét :
Hỏi tên rằng:”Mã Giám Sinh”
Hỏi q rằng :”Huyện Lâm Thanh cũng gần”
Nhà thơ cũng đã rất nhanh ghi lại cách nói năng cộc lốc của Mã ( cũng có thể là của mụ mối).Câu
trả lời nhát gừng, không có chủ ngữ, không thèm thưa gửi chỉ có thể là lời của kẻ vô học hoặc hợm
của , cậy tiền, của kẻ sợ nói nhiều lộ cái bòp bợm giả dối.
Với cách giới thiệu lai lòch , tông tích cũng như qua việc miêu tả ngoại hình , cử chỉ , ngôn ngữ
của Mã Giám Sinh, nhà thơ đã lột trần bộ mặt hợm hónh, khoe của, bất lòch sự của một tên “buôn
người” bòp bợm ,gian ngoa.
+ Dùng bút pháp tả thực :
Khi miêu tả Mã giám Sinh tác giả dùng các từ : nhẵn nhụi, bảnh bao ,xơn xao, cò kè
Quá niên trạc ngoại tứ tuần
ngữ văn9 –văn học trung đai. 13
Mày râu nhẵn nhụi , áo quần bảnh bao
Hắn đã ngoài bốn mươi tuổi tuổi đứng đắn , tuổi làm cha , làm ông mà đi hỏi vợ là hơi lạ ( nhưng ở
đây là vợ bé, vợ lẽ -thiếp hay nàng hầu). Cái điều khiến ta nghi ngờ chính là cái “mày râu nhẵn nhụi,
áo quần bảnh bao” của hắn. Có cái gì đó làm dáng, làm đỏm quá đáng , kệch cỡm, khoe khoang lộ liễu
không hợp với lứa tuổi .Ngoài ra, “mày râu nhẵn nhụi”, phải chăng Nguyễn Du muốn nói hắn là đàn

tượng Mã Giám Sinh, kẻ buôn ngươiø từ ngoại hình, đến tính cách, Mã giám Sinh đã trở thành một
điển hình bất hủ cho sự đê tiện, tàn ác.
Qua nhân vật Mã Giám Sinh ,ta càng thấy rõ bút pháp tả thực trong nghệ thuật tả người của Nguyễn Du. Nét nào
cũng sắc sảo tạo nên tính cách xấu xa, đồi bại của nhân vật Mã Giám Sinh. Chi tiết nghệ thuật nào cũng sống , đằng sau
nét vẽ là thái độ khinh bi của nhà thơ đối với con người bạc ác tinh ma này! Bức chân dung phản diện Mã Giám Sinh có
giá trị tố cáo hiện thực đặc sắc, lên án bọn bn thịt bán người vơ nhân đạo, đạo dức giả trong xã hội phong kiến suy tàn.
d/ Nhận xét chung:
- Khi miêu tả ngoại hình nhân vật : Nguyễn Du đã tạo nên những diện mạo đặc sắc. Đạt được kết quả ấy là do Nguyễn
Du miêu tả từ cách phục sức, hình dung diện mạo, thái độ cử chi, đặc biệt là lời ăn tiếng nói riêng biệt của từng nhân
vật , từng loại người. Khi miêu tả những nhân vật chính diện, Nguyễn Du có sử dụng thi liệu, ngơn ngữ cơng thức ,
ước lệ có sẵn nhưng đối với những nhân vật phản diện, Nguyễn Du đã lấy chất liệu sinh động từ hiện thực cuộc sống.
Miêu tả nội tâm: Nguyễn Du lấy bản chất nhân vật làm yếu tố trung tâm khi xây dựng nhân vật. Ngoại hình của nhân vật
bao giờ cũng dựa trên bản chất con người. Nàng Kiều xinh đẹp, dun dáng cũng là nàng Kiều thơng minh, trong trắng
giàu tình cảm. Mã Giám Sinh một tên bn người bịp bợm, tàn nhẫn thì lời lẽ cộc lốc , dối trá, cử chỉ thơ lỗ ỷ mình có
tiền, trả giá thì “cò kè” Khác với một số truyện Nơm khác (như Lục Vân Tiên ) thường thiên về miêu tả hành động và
ngữ văn9 –văn học trung đai. 14
sự việc, Nguyễn Du rất quan tâm đến việc tả tình khi xây dựng nhân vật. Với cái nhìn sắc sảo và ngòi bút tài tình, Nguyễn
Du đã khắc họa được những nét tâm lý, những tính cách rất chân thực và sinh động.
III- Kết hợp đúng mức những yếu tố nghệ thuật cổ truyền và tài năng sáng tạo của một nghệ sĩ thiên tài khi miêu tả nhân
vật, Nguyễn Du đã tạo ra những nhân vật sống , đã trở thành những điển hình bất hủ của cuộc sống xã hội Việt Nam.
Đề tổng hợp: Qua việc tìm hiểu cốt truyện và các đoạn trích trong sách giáo khoa NV9, tập một,em hãy phân tích nhân vật
Thúy Kiều để làm nổi bật giá trị nhân đạo của truyện Kiều.
Gợi ý làm bài

Gợi ý:

*Phải xác định giá trị nhân đạo của Truyện Kiều là gì?
+ Tiếng nói thương cảm sâu sắc trước số phận bi kịch
+Là tiếng nói khẳng định , ca ngợi con người
+Đề cao những khát vọng chân chính của con người.

trước số phận bi kịch, tiếng nói khẳng định, ngợi ca con người và những khát
vọng chân chính của con người. Tiếng nói nhân đạo ấy toát lên từ hình tượng
Thúy Kiều.
II-
1- Trước hết,Truyện Kiều là tiếng nói cảm thương sâu sắc trước số phận bi
kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Nhân vật Thúy Kiều là hiện
thân những bi kịch của người phụ nữ. Đời Kiều là “tấm gương oan khổ”, chịu
đủ những bi kịch. Tuy nhiên, hai bi kịch lớn nhất của Kiều là bi kịch tình yêu bị
tan vỡ và bi kịch bị chà đạp về nhân phẩm.
+ Mối tình Kim - Kiều là một mối tình của tình yêu lý tưởng. Đó là mối
tình giữa “Người quốc sắc kẻ thiên tài”, nhưng cuối cùng “Giữa đường đứt
gánh tương tư”, “ nước chảy hoa trôi lỡ làng”. Tình yêu tan vỡ không bao
giờ hàn gắn được, “màn đoàn viên” có hậu về cơ bản cũng chỉ là “một cung
gió thảm mưa sầu”.
+Kiều đau đớn cùng cực vì thình yêu tan vỡ và nhất là giá trị , phẩm
chất trong sạch của nàng bị xúc phạm. Khi mối tình đầu đẹp đẽ vừa chớm nở
thì cũng chính ngay sau đó Kiều phải trao duyên lại cho em , đành từ bỏ Kim
Trọng để bán mình chuộc cha cứu gia đình (bị vu oan giá họa để làm tiền của
bọn quan lại). Nàng trở thành món hàng để kẻ buôn người họ Mã “Cò kè bớt
một thêm hai”, thất thân với tên buôn người bịp bợm , tàn ác này, để rồi phải :
Thanh lâu hai lược, thanh y hai lần.
Và Kiều đã tìm mọi cách để thoát khỏi cuộc sống nhục nhã đau đớn ấy. Khi
biết bị lừa vào lầu xanh ,nàng tự vận nhưng không thành, theo Sở Khanh để
thoát khỏi chốn thanh lâu, lại bị đánh đập hành hạ và phải vào lầu xanh lần thứ
nhất. Biểu hiện nỗi đau xót của Kiều là:
Thân lươn bao quản lấm đầu
Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa.
Có nỗi đau nào lớn hơn khi con người trọng nhân phẩm, luôn ý thức về nhân
phẩm mà cuối cùng tuyên bố từ bỏ nhân phẩm, “xin chừa”?
Lấy Thúc Sinh ,chấp nhận làm vợ lẻ để khỏi phải làm gái lầu xanh thì rơi vào

2- Thúy Kiều không chỉ xuất hiện với tư cách là một nạn nhân đau khổ mà còn
là hiện thân của vẻ đẹp, nhan sắc, tài hoa, tâm hồn.
+ Sắc và tài của Kiều đạt tới mức lý tưởng. Thể hiện vẻ đẹp, tài năng của
Kiều , Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp ước lệ của văn học cổ có phần lý tưởng
hóa để trân trọng một vẻ đẹp “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” . Đẹp
đến độ “nghiêng nước nghiêng thành” . Và tài “Sắc đành đòi một tài đành họa
hai” . Kiều thông minh , đa tài - cầm, kỳ, thi, họa.
+Cái thông minh tài hoa của Kiều cũng chính là sự biểu hiện phong phú
của một trái tim nồng nàn yêu đương, sôi nổi, một tấm lòng giàu vị tha.
Nàng dám yêu thương sôi nổi của một cô gái sống cách đây mấy trăm năm, khi
quan hệ chân chính giữa nam nữ thanh niên còn bị ngăn cấm bỡi muôn vàn luật
lệ khắt khe của chế độ phong kiến . Chỉ mới gặp gỡ, nàng đã để trái tim rung
động trước hình ảnh một chàng trai xa lạ, với những ước mơ thầm kín nhưng
vô cùng tha thiết:
Người đâu gặp gỡ làm chi,
Trăm năm biết có duyên gì hay không!
Mối tình vượt lễ giáo phong kiến cũng là một mối tình rất trong sạch, thủy
chung. Kiều chính là người phụ nữ ngay thẳng trong sạch. Yêu đương sôi nổi
nhưng nàng cũng biết giữ những bước đi quá trớn có hại cho tình yêu.
+Tâm hồn đẹp đẽ của người con gái họ Vương còn thể hiện ở tấm lòng vị
tha nhân hậu. Nàng hy sinh tình yêu để cứu gia đình, cha mẹ. Khi bị giam
lỏng ở lầu Ngưng Bích của mụ Tú Bà, nàng như quên mình ,nghĩ về người
khác. Kiều nhớ tới cha mẹ với những tình cảm chân thực. Nàng tưởng bóng
dáng tội nghiệp “tựa cửa hôm mai” của người đã sinh dưỡng nàng. Kiều day
dứt không nguôi vì nỗi không chăm sóc được cha mẹ già : “Quạt nồng ấp lạnh
những ai đó giờ”.Thúy Kiều “tưởng” Kim Trọng “rày trông mai chờ”, day dứt
vì như mình đã phụ bạc người yêu “tấm son gọt rửa bao giờ cho phai” . Kiều
còn là người chí nghĩa chí tình “Ơn ai một chút chẳng quên”. Khi có điều kiện,
hậu tạ những người đã cưu mang mình, nàng thấy những công ơn đó không gì
có thể đền đáp nổi:

TRUYỆN LỤC VÂN TIÊN – Nguyễn Đình Chiểu
1- Truyện Lục Vân Tiên được kết cấu như thế nào? Nhân vật được miêu tả những yếu tố nào? Nhận xét về ngôn ngữ
trong đoạn “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga”?
TL:-Truyện Lục Vân Tiên được kết cấu theo kiểu thông thường của các loại truyện đời xưa. Đó là kiểu kết cấu truyền
thống của loại truyện phương Đông, nghóa là theo chương hồi, xoay theo diễn biến cuộc đời các nhân vật chính.
Truyện viết ra nhằm mục đích trực tiếp truyền dạy đạo lí làm người.
-Nhân vật được miêu tả chủ yếu qua hành động , cử chỉ, lời nói. Do mục đích sáng tác ban đầu là để đọc truyền
miệng, kể thơ , vì thế tác giả ít chú ý khắc họa chân dung ngoại hình, cũng ít đi sâu vào diễn biến nội tâm, giống như
truyện cổ dân gian .Hai nhân vật chính trong đoạn trích được giới thiệu bằng vài nét ước lệ còn chủ yếu được đặt trong
những mối quan hệ xă hội, trong những tình huống xung đột của đời sống, rồi bằng hành động, cử chỉ, lời nói của
mình tự bộc lộ tính cách.
-Ngôn ngữ của tác giả mộc mạc, bình dò gần với lời nói thông thường, mang màu sắc điạ phương Nam Bộ. Nó có
phần thiếu trau chuốt, uyển chuyển nhưng phù hợp với ngôn ngữ kể, rất tự nhiên, dễ đi vào quần chúng. Ngôn ngữ đa
dạng, phù hợp với diễn biến trình tự tính cách nhân vật.
2- Phân tích hình ảnh Lục Vân Tiên trong đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga”.
*Nội dung phân tích cần làm nổi rõ các ý sau:
+Hình ảnh Lục Vân Tiên được khắc họa qua mô típ ở truyện nôm truyền thống: một chàng trai tài giỏi, cứu một cô gái
thoát khỏi hiểm nghèo, từ ân nghóa đến tình yêu.
+Lục Vân Tiên là một nhân vật lí tưởng của tác phẩm. Đây là một chàng trai vừa rời trường học bước vào đời, lòng
đày hăm hở muốn lập công danh, mong thi thố tài năng cứu người giúp đời. Tnhf huống đánh cướp là thử thách đầu
tiên, là cơ hội hành động cho chàng.
+Hành động đánh cướp, trước hết bộc lộ tính cách anh hùng , tài năng và tấm lòng vò nghóa của Vân Tiên. Vẻ đẹp của
Lục Vân Tiên là vẻ đẹp riêng của người dũng tướng. Hành động của Vân Tiên chứng tỏ cái đức của con người “vò
nghóa vong thân, cái tài của bậc anh hùng và sức mạnh bênh vực kẻ yếu chiến thắng nhiều thế lực bạo tàn.”
+Thái độ cư xử với Kiều Nguyệt Nga sau khi đánh cướp lại bộc lộ tư cách con người chính trực, hào hiệp , trọng nghĩa
khinh tài, cũng rất từ tâm, nhân hậu.
* Phân tích cụ thể:
A- Mở bài: Giới thiệu đoạn trích , giới thiệu nhân vật và nêu khái quát dặc điểm nhân vật:
“Truyện Lục Vân Tiên” là tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Đình Chiểu sáng tác vào giai đoạn trước khi thực dân Pháp
xâm lược nước ta . Trong đó, Nguyễn Đình Chiểu trong đã xây dựng Lục Vân Tiên là một nhân vật lí tưởng, nhân vật

+Hành động đánh cướp, trước hết bộc lộ tính cách anh hùng , tài năng và tấm lòng vò nghóa của Vân Tiên. Vẻ đẹp
của Lục Vân Tiên là vẻ đẹp riêng của người dũng tướng. Hành động của Vân Tiên chứng tỏ cái đức của con người
“vò nghóa vong thân, cái tài của bậc anh hùng và sức mạnh bênh vực kẻ yếu chiến thắng nhiều thế lực bạo tàn.”
-Thái độ cư xử với Kiều Nguyệt Nga sau khi đánh cướp lại bộc lộ tư cách con người chính trực, hào hiệp , trọng
nghiã khinh tài, cũng rất từ tâm, nhân hậu.
+Thấy hai cô gái còn chưa hết hãi hùng, Vân Tiên “động lòng” tìm cách an ủi họ “Ta đã trừ dòng lâu la” và ân cần
hỏi han.
+Khi nghe họ nói muốn được lạy tạ ơn , Vân Tiên vội gạt ngay:
Khoan khoan ngồi đó chớ ra
Nàng là phận gái ta là phận trai
đây có phần câu nệ lễõ giáo (nam nữ thụ thụ bất thân), nhưng chủ yếu là do đức khiêm nhường của Vân Tiên:
Làm ơn há dễ trông người trả ơn
Chàng không muốn nhận cái lạy tạ trả ơn của hai cô gái.
+ Vân Tiên từ chối lời mời về thăm nhà để cha nàng đền đáp công ơn, chàng cho rằng làm ơn không cần trả ơn.
Dường như đối với Lục Vân Tiên, làm việc nghóa là bổn phận, một lẽ tự nhiên, con người trọng nghóa khinh tài ấy
không coi đó là công trạng. Đó là cách cư xử mang tinh thần nghóa hiệp của các bậc anh hùng hảo hán:
Nhớ câu kiến nghóa bất vi
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.
C – Kết bài:
Qua nghệ thuật đặc trưng khắc họa tính cách nhân vật bằng ngôn ngữ kể mang tính dân gian, ta cảm nhận
phẩm chất nghiã hiệp của Lục Vân Tiên. Với những nét tính cách đó , hình ảnh Lục Vân Tiên là một hình ảnh đẹp,
hình ảnh lí tưởng mà Nguyễn Đình Chiểu gởi gắm niềm tin và ước vọng của mình.
ngữ văn9 –văn học trung đai. 18
Đoạn trích: LỤC VÂN TIÊN GẶP NẠN
Câu hỏi:

Chứng minh hai nhân vật Trònh Hâm và ông Ngư (trong đoạn trích “ Lục Vân Tiên gặp nạn” là hai nhân vật đối
lập như nước với lửa?
Trả lời:


cuộc thi thơ phú hắn kém tài. Đó chính là xuất phát từ tính đố kò, ghen ghét tài năng, không muốn người khác hơn
mình:
Kiệm, Hâm là đứa so đo
Thấy Tiên dường ấy âu lo trong lòng.
Khoa này Tiên ắt đầu công
Hâm dầu có đậu cũng không xong rồi.
Thế nhưng nay Vân Tiên đã mù, đã bỏ thi còn hắn thì đã đỗ cử nhân. Vân Tiên hoàn toàn vô hại đối với bước
đường công danh của hắn. Vậy tại sao hắn vẫn tìm cấch giết hại? Chỉ có thể nói đó là loại người độc ác từ trong bản
chất, từ trong máu thòt, loại tiểu nhân đắc chí. Mối oán thù nhân một câu chuyện văn chương trong tâm đòa đứa tiểu
nhân đã dẫn đến những chuyện độc ác không ngờ mà người bình thường thật khó hình dung tưởng tượng.
* Chỉ với tám dòng thơ mà Nguyễn Đình Chiểu đã dựng lại một hành động tội ác, một âm mưu đê hèn của
một loại người trong xã hội. Tàn nhẫn và xảo quyệt xuất phát từ tính đố kò nhỏ nhen, lại cũng có chút ít trình độ văn
hóa đã khiến Trònh Hâm trở thành nhân vật khá tiêu biểu cho cái ác trong truyện Lục Vân Tiên.
-Đối lập với tính ích kỉ ,nhỏ nhen đến thành độc ác của Trònh Hâm là tấm lòng bao dung nhân ái, hào hiệp của
ông Ngư: không những cứu sống Vân Tiên mà ông còn sẵn lòng cưu mang chàng:
ngữ văn9 –văn học trung đai. 19
Ngư rằng : người ở cùng ta,
Hôm mai hẩm hút với già cho vui.
Từ “hẩm hút” thật Nam Bộ, thật ân cần vừa nói lên cuộc sống nghèo khổ vừa bộc lộ tấm lòng nghóa khí của người dân
lao động sẵn sàng cưu mang,giúp đỡ người bất hạnh ,cơ nhỡ . Ông cũng không hề tính toán đến cái ơn cứu mạng mà
Vân Tiên chẳng thể báo đáp:
Dốc lòng nhân nghóa, há chờ trả ơn
-Trònh Hâm chỉ lo đến công danh cá nhân còn ông Ngư lại mơ ước một cuộc sống tự do ngoài vòng danh lợi. Một cuộc
sống hoàn toàn xa lạ với những toan tính nhỏ nhen, ích kỉ, mưu danh , trục lợi, sẵn sàng chà đạp lên cả đạo đức, nhân
nghóa,…
+Trònh Hâm và ông Ngư là hai nhân vật đối lập nhau như lửa với nước trong “Truyện Lục Vân Tiên”. Trònh
Hâm với lòng ghen ghét, đố kò đã biến hắn thành một kẻ độc ác, bất nhân, bất nghóa. Còn ông Ngư hiện lên giữa đời,
sống trong sạch, thanh thản, khinh ghét sự đen bạc, tráo trở, sự bạo ngược hung tàn, và bao giờ cũng có mặt đúng lúc
để cứu giúp người hoạn nạn với tấm lòng trọng nghóa “ Xin tròn nhân ngãi còn hơn bạc vàng”.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status