1
Phần Mở Đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài.
Phường Tân An nằm trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh ĐăkLăk là
một trong những phường khá nhộn nhịp tấp nập vì tại đây gần siêu thị Coopmart là
trung tâm mua bán,chợ Tân An, bến xe tỉnh, điểm giao các tuyến đường đi liên
tỉnh…Trong những năm gần đây phường đã có những bước phát triển đáng kể
.Như vậy khi kinh tế phát triển tiêu dùng tăng cũng kéo theo những vấn đề xung
quanh nó như an ninh chính trị môi trường…Trong đó vấn đề nổi cộm lên ở đây là
là vấn đề rác thải sinh hoạt mà đặc biệt tại khu vực chợ Tân An. Qua thực tế khảo
sát tại chợ Tân An cho thấy quang cảnh chợ giống như bãi chiến trường rác có dọn
thì người bán hàng chất thành đống ngay tại chỗ còn không thì vẫn để nguyên thế.
Có người cho rằng họ đã nộp tiền chợ thì có người phải dọn mà rác tại chợ thì tới
chiều mới được dọn và thu gom lại để chuyển đến nơi khác. Do vậy, trong khoảng
thời gian từ cuối giờ sáng cho tới chiều thì đủ thứ mùi bốc lên khó chịu ,mùi hôi
thối ,bẩn thỉu bốc lên từ cống rãnh ,từ mặt đất nhờn nhợt nước và đủ thứ rác rưởi từ
thực phẩm sống chín. Rác thải không những ảnh hưởng tới môi trường , ảnh hưởng
tới mĩ quan của thành phố mà còn ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân sống tại
khu vực chợ.
1
2
Nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm rác là do người dân ý thức chưa cao thiếu
phương tiện thu gom rác đặc biệt là công tác quản lí còn chậm. Nếu tình trạng ô
nhiễm cứ kéo dài trầm trọng điều khó tránh khỏi là nguồn tài nguyên nước bị ô
nhiễm ,kéo theo bệnh truyền nhiễm cũng như cuộc sống của người dân xung quanh
chợ cũng bi ảnh hưởng.
Ô nhiễm môi trường từ rác thải sinh hoạt không phải là một đề tài mới được
nêu ra để gây sự chú ý cho xã hội, mà nó đã là một vấn đề rất nghiêm trọng cần
được sự quan tâm của cả cộng đồng. Không cần các phương tiện kỹ thuật để đo
lường hay các nhà chuyên môn mà ngay cả người dân cũng nhận thấy được tình
trạng ô nhiễm đang ngày càng trầm trọng hơn. Từ những thực trạng về rác trên địa
- Đối tượng nội dung nghiên cứu:
Nghiên cứu về thực trạng rác thải trên địa bàn chợ Tân An ( nguồn phát sinh ,thành
phần khối lượng rác ) và thực trạng quản lí rác tại đây, từ đó đưa ra những giải
pháp khả thi để quản lý hiệu quả nguồn rác thải của chợ.
- Phạm vi không gian nghiên cứu:
Địa bàn chợ Tân An ( thuộc phường Tân An)
Các số liệu thực tế tại ban quản lí chợ.
- Phạm vi thời gian nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu được thực hiện từ 16/12/2012 đến 13/01/2013.
- Phạm vi thời gian lấy số liệu nghiên cứu:
Lấy số liệu nghiên cứu từ năm 2010 đến năm 2012.
4. Câu hỏi nghiên cứu
- Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường tại khu chợ Tân An ?
- Rác thải tác động như thế nào đến cuộc sống và cảnh quan của khu chợ Tân An ?
- Giải pháp nào là bền vững để quản lý rác thải tại khu chợ Tân An ?
5. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp.
4
5
+ Thu thập tổng hợp tài tiệu có liên quan như: hiện trạng rác thải ,công tác thu gom
thông qua cơ quan quản lí của phường Tân An.
+ Các số liệu thông qua ban quản lí chợ.
+ Tìm hiểu qua sách báo mạng internet…
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp .
+ Phương pháp khảo sát thực tế để thấy được tình hình chung về rác thải tại khu
vực chợ Tân An.
+ Ghi nhận một số vấn đề tồn tại trong công tác quản lí và gom rác tại khu vực chợ
Tân An.
5
6
1.1.4. Xử lý chất thải
7
8
Xử lý chất thải : Là dùng các biện pháp kỹ thuật để xử lý các chất thải và không
làm ảnh hưởng tới môi trường. Tái tạo ra các sản phẩm có lợi cho xã hội nhằm phát
huy hiệu quả kinh tế.
1.2. Nguồn phát sinh, phân loại và thành phần rác thải
1.2.1. Nguồn gốc rác thải
Rác thải phát sinh từ các nguồn chủ yếu: hộ gia đình( nhà ở riêng biệt, khu tập thể,
chung cư, ), các trung tâm thương mại (chợ, văn phòng, khách sạn, trạm xăng dầu,
ga ra…), cơ quan( trường học, bệnh viện, các cơ quan hành chính ), các công
trường xây dựng, dịch vụ công cộng ( sửa đường, các công trình xây dựng trường
học, cảnh quan, bãi biển, công viên )
Rác thải
Cơ quan trường họcNơi vui chơi, giải trí Nhà dân, khu dân cư
Bệnh viện, cơ sở y tế Chợ, bến xe, nhà ga
Chính quyền, địa
phương
Giao thông, xây
dựng
Khu công nghiệp,
nhà máy, xí nghiệp
8
9
Sơ đồ 1: Các nguồn phát sinh chất thải rắn tại Việt Nam
( Nguồn: tailieu.vn)
1.2.2. Thành phần rác thải
* Thành phần cơ học: thành phần chất thải sinh hoạt có thể bao gồm:
• Các chất dễ phân hủy sinh học: thực phẩm thừa, cuống, lá rau, lá cây, xác động
vật chết, vỏ trái cây…
- Chất thải xây dựng: là các phế thải như đất đá, gạch ngói, bê tông vỡ, vôi vữa, đồ
gỗ, nhựa, kim loại do các hoạt động xây dựng tạo ra.
- Chất thải nông nghiệp: sinh ra do các hoạt động nông nghiệp như trồng trọt, chăn
nuôi, chế biến nông sản trước và sau thu hoạch.
10
11
* Phân loại theo mức độ nguy hại
- Chất thải nguy hại: là chất thải dễ gây phản ứng, dễ cháy nổ, ăn mòn, nhiễm
khuẩn độc hại, chứa chất phóng xạ, các kim loại nặng. các chất thải này tiềm ẩn
nhiều khả năng gây sự cố rủi ro, nhiễm độc, đe dọa sức khỏe con người và sự phát
triển của động thực vật, đồng thời là nguồn lan truyền gây ô nhiễm môi trường đất,
nước và không khí.
- Chất thải không nguy hại: là các chất thải không chứa các chất và các hợp chất
có các tính chất nguy hại. Thường là các chất thải phát sinh trong sinh hoạt gia
đình, đô thị…
* Phân loại theo thành phần:
- Chất thải vô cơ: là các chất thải có nguồn gốc vô cơ như tro, bụi, xỉ, vật liệu xây
dựng như gạch, vữa, thủy tinh, gốm sứ, một số loại phân bón, đồ dùng thải bỏ gia
đình.
- Chất thải hữu cơ: là các chất thải có nguồn gốc hữu cơ như thực phẩm thừa, chất
thải từ lò giết mổ, chăn nuôi cho đến các dung môi, nhựa, dầu mỡ và các loại
thuốc bảo vệ thực vật.
- Phân loại theo trạng thái chất thải: phân loại theo các trạng thái rắn, lỏng, khí.
11
12
- Chất thải ở trạng thái rắn bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải từ các cơ sở chế
tạo máy, xây dựng ( kim loại, da, chất hóa sơn, nhựa, thủy tinh, vật liệu xây
dựng )
- Chất thải ở trạng thái lỏng phân bùn từ các cống rãnh, bể phốt, nước thải từ nhà
máy lọc dầu, rượu bia, nước từ nhà máy sản xuất giấy, dệt, nhuộm và vệ sinh công
gom vẫn chưa được tiến hành chặt chẽ.
1.3.3. Ảnh hưởng của rác thải tới môi trường
13
14
* Ô nhiễm nước
Theo thói quen nhiều người thường đổ rác tại bờ sông, hồ, ao, cống rãnh. Lượng
rác này sau khi bị phân hủy sẽ tác động trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng nước
mặt, nước ngầm trong khu vực. rác có thể bị cuốn theo nước mưa xuống ao, hồ,
sông, ngòi, kênh rạch, sẽ làm nguồn nước mặt ở đây bị nhiễm bẩn.
Mặt khác lâu dần những đống rác này sẽ làm diện tích ao hồ, giảm khả năng tự làm
sạch của nước gây cản trở các dòng chảy, tắc cống rãnh thoát nước. hậu quả của
hiện tượng này là nước trong các ao hồ bị hủy diệt, việc ô nhiễm các nguồn nước
mặt này cũng là một trong các nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy, tả, lỵ, trực khuẩn
thương hàn, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng.
Nước rò rỉ trong bãi rác đi vào nguồn nước ngầm gây ô nhiễm nguồn nước ngầm,
như ô nhiễm kim loại nặng, nồng độ nitrogen, phospho cao, chảy vào sông hồ gây ô
nhiễm nguồn nước mặt.
*Ô nhiễm không khí
Nguồn rác thải từ các hộ gia đình thường là các loại thực phẩm chiếm tỷ lệ cao
trong toàn bộ khối lượng rác thải ra. Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và mưa nhiều ở
nước ta là điều kiện thuận lợi cho các thành phần hữu cơ phân hủy, thúc đẩy nhanh
14
15
quá trình lên men, thối rữa và tạo nên mùi khó chịu cho con người. Các chất thải
khí phát ra từ các quá trình này thường là H2S, NH3, CH4, SO2, CO2.
* Ô nhiễm đất
Thành phần rác thải có chứa nhiều chất độc, do đó khi rác thải được đưa vào môi
trường thì các chất độc xâm nhập vào đất sẽ tiêu diệt nhiều loài sinh vật có ích cho
đất như: giun, vi sinh vật, nhiều loài động vật không xương sống, ếch nhái… làm
cho môi trường đất bị giảm tính đa dạng sinh học và phát sinh nhiều sâu bọ phá
Rác thải làng nghề Tấn/năm 774.000 1.023.000
Tổng cộng Tấn/năm 15.459.900 27.868.000
Phát sinh rác thải sinh hoạt
bình quân tại khu vực đô thị
Kg/người/ngày 0,7 1,45
Phát sinh rác thải sinh hoạt Kg/người/ngày 0,3 0,4
16
17
bình quân tại khu vực nông
thôn
(Nguồn: tailieu.vn)
Trên phạm vi toàn quốc, từ năm 2003 đến năm 2008, lượng rác thải phát sinh
trung bình từ 150-200%, rác thải sinh hoạt đô thị tăng lên 200%, rác thải công
nghiệp tăng 181% và còn tiếp tục gia tăng trong thời gian tới. Dự báo của bộ tài
nguyên và môi trường đến năm 2015, khối lượng rác thải phát sinh ước tính
khoảng 44 triệu tấn/năm, đặc biệt là rác thải đô thị và công nghiệp.
Tổng lượng rác thải sinh hoạt ở các đô thị phát sinh trên toàn quốc khoảng 35.000
tấn/ngày, rác thải sinh hoạt ở khu vực nông thôn khoảng 24.900 tấn/ngày. Tại hầu
hết các đô thị, khối lượng rác thải sinh hoạt chiếm 60-70% tổng lượng rác thải đô
thị( một số đô thị tỷ lệ này còn lên tới 90%). Cũng theo kết quả nghiên cứu đã chỉ
ra trong báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2008 cho thấy tổng hợp
lượng phát sinh rác thải sinh hoạt từ đô thị có xu hướng tăng đều, trung bình 10-
16% mỗi năm.
1.4.2. Hiện trạng thu gom, vận chuyển rác thải
Công tác thu gom và vận chuyển rác thải đô thị vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu
khi mà lượng rác thải phát sinh không ngừng tăng lên, tỷ lệ thu gom trung bình
không tăng tương ứng, đây là nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm môi trường
17
18
nước mặt, không khí, đất, cảnh quan đô thị và tác động xấu đến sức khỏe cộng
1.4.4. Một số công nghệ xử lý chất thải được áp dụng tại Việt Nam
1.4.4.1. Xử lý rác bằng phương pháp đốt
Đốt rác là giai đoạn xử lý cuối cùng cho một số loại rác nhất định không thể xử lý
bằng các phương pháp khác. Đây là một giai đoạn oxy hóa nhiệt độ cao với sự có
19
20
mặt của oxy trong không khí, trong đó các loại rác độc hại được chuyển hóa thành
khí và các chất thải rắn khác không cháy. Các chất khí được làm sạch hoặc không
được làm sạch thoát ra ngoài không khí.
Việc xử lý bằng phương pháp đốt có ý nghĩa quan trọng là làm giảm tới mức nhỏ
nhất chất thải cho khâu xử lý cuối cùng, nếu xử dụng công nghệ tiên tiến còn có ý
nghĩa cao bảo vệ môi trường. Đây là phương pháp xử lý rác tốn kém nhất so với
phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh thì chi phí để đốt một tấn rác cao hơn khoảng
10 lần.
Công nghệ đốt rác thường áp dụng ở các thành phố phát triển vì phải có một nền
kinh tế đủ mạnh để bao cấp cho việc thu đốt rác sinh hoạt như là một dịch vụ phúc
lợi xã hội toàn dân. Tuy nhiên đốt rác sinh hoạt bao gồm nhiều chất khác nhau
sinh khói độc và dễ sinh đioxin nếu việc xử lý khói không tốt ( phần xử lý khói là
phần đắt nhất trong công nghệ đốt rác).
1.4.4.2. Xử lý chất thải bằng công nghệ ép kiện
Phương pháp ép kiện được thực hiện trên cơ sở toàn bộ rác thải tập trung thu gom
vào nhà máy. Rác được phân loại bằng phương pháp thủ công trên băng tải, các
chất trơ và các chất có thể tận dụng được như kim loại, nilon, giấy, thủy tinh,
nhựa… được thu hồi để tái chế. Những chất còn lại sẽ được băng tải chuyền qua
20
21
hệ thống ép nén rác bằng thủy lực với mục đích làm giảm tối đa thể tích khối rác
và tạo thành các kiện với tỷ số nén cao.
Các kiện rác đã nén ép này được sử dụng vào việc đắp các bờ chắn hoặc san lấp
những vùng đất trũng sau khi được phủ lên các lớp đất cát. Trên diện tích này có
chuyền công n ghệ này là có thể xử lý rác tươi trực tiếp mà không qua phân loại và
chôn lấp. Rác được xử lý theo quy trình công nghiệp hoàn toàn có thể kiểm soát
mức độ thổi khí, nhiệt độ, độ ẩm nên khả năng phân giải của vi sinh vật ổn định,
nhanh chóng. Ngoài ra do trực tiếp nhập rác từ xe ép rác thu gom từ trong dàn vào
22
23
thẳng hệ thống xử lý rác của nhà máy nên hạn chế được nước rỉ từ bãi rác xuống
tầng nước ngầm, thu hồi các thành phần hữu cơ trong rác tái chế thành phân hữu
cơ vi sinh (compost), giảm thiểu tối đa chất thải rắn phần chôn lấp và thu hồi các
thành phần vô cơ có trong rác. Đặc biệt công nghệ này có thể tái chế nilon, nhựa,
kim loại, thủy tinh. Do vận hành khép kín nên giải quyết được vấn đề mùi hôi và
rác thải, đồng thời giảm thiểu nước rỉ rác, cải thiện tình trạng ô nhiễm không khí
và ô nhiễm nguồn nước. Rác thải sinh hoạt sau khi xử lý sẽ cho ra loại rác sạch
không có vi sinh vật gây bệnh, thân thiện với môi trường và có thể dùng làm phân
bón vi sinh hữu cơ để cải tạo đất nông nghiệp.
1.4.4.6. Quản lý rác thải theo phương thức 3R
Trong quản lý và xử lý chất thải rắn hiện nay, vấn đề được quan tâm nhất là
phương thức quản lý đồng bộ chất thải rắn 3R (Reduce – Giảm thiểu, Reuse – Tái
sử dụng, Recycle – Tái chế) để giảm thiểu lượng chất thải rắn phải chôn lấp.
Phương thức 3R được coi là giải pháp để ngăn ngừa các vấn đề suy thoái môi
trường, tiết kiệm nguồn tài nguyên, tiết kiệm chi phí thu gom và xử lý rác thải,
giảm thiểu quỹ đất cần cho chôn lấp.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện 3R ở Việt Nam vẫn tồn tại một số khó khăn
như sau:
- Reduce – Giảm thiểu: giảm thiểu là công việc khó khăn nhất vì lý do công nghệ,
23
24
tổ chức sản xuất và nhân lực còn chưa phù hợp, việc giảm thiểu chất thải trong các
hoạt động sản xuất, dịch vụ, tiêu dùng đến nay vẫn chưa được chú trọng.
- Reuse – Tái sử dụng: mới bắt đầu áp dụng, đang tiếp tục nghiên cứu để định ra