LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này em xin chân thành cảm ơn:
Cô giáo hướng dẫn ThS. Vũ Trinh Vương đã tận tình chỉ bảo em trong suốt
thời gian thực tập và viết báo cáo.
Ban lãnh đạo, các cô chú, anh chị công tác tại UBND Xã Hòa Thắng, thành
phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã nhiệt tình giúp đỡ trong suốt thời gian thực
tập tại địa bàn xã.
Các hộ gia đình tại địa bàn đã nhiệt tình cung cấp thông tin cho quá trình
điều tra, thu thập số liệu.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới quý thầy cô của bộ môn Kinh tế, khoa Kinh tế
đã giúp em có thêm kiến thức, tạo điều kiện để em được đi thực tập cuối khóa đợt
này.
Vì kiến thức và kinh nghiệm còn nhiều hạn chế nên đề tài mà em thực hiện
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý và chỉ bảo
của các thầy cô.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn.
Buôn Ma Thuột, ngày 29 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Thủy
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN......................................................................................................i
MỤC LỤC...........................................................................................................ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT..........................................................................v
DANH MỤC BẢNG..........................................................................................vi
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ.....................................................................................1
1.1. Lý do chọn đề tài
1
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu..................................................................................14
3.2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
14
3.2.1 Điều kiện tự nhiên....................................................................................14
3.2.2 Tài nguyên................................................................................................16
3.2.3. Điều kiện kinh tế - xã hội........................................................................17
3.2.4. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của xã Hòa Thắng ......................21
3.2.5. Đánh giá tổng quan về đặc điểm của địa bàn nghiên cứu......................24
3.3. Phương pháp nghiên cứu
25
3.3.1. Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu................................................25
3.3.2. Phương pháp thu thập số liệu và thông tin.............................................26
3.3.3. Phương pháp xử lí số liệu và thông tin...................................................27
3.3.4. Phương pháp phân tích............................................................................27
3.3.5. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu..................................................................28
PHẦN BỐN: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU........................................................31
4.1 Tình hình sản xuất cà phê của các hộ
31
4.1.1 Đặc điểm của các hộ được điều tra..........................................................31
4.1.2 Tình hình sử dụng đất trồng cà phê của nông hộ....................................33
4.1.3 Tình hình sử dụng lao động của nông hộ................................................35
4.1.4 Tình hình sử dụng vốn của nông hộ........................................................36
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Nghĩa
1. BQ
: Bình quân
2. BQC
: Bình quân chung
3. BVTV
: Bảo vệ thực vật
4.CPSX
: Chi phí sản xuất
5. ĐVT
: Đơn vị tính
6. HQKT
: Hiệu quả kinh tế
1.1. Lý do chọn đề tài
Tây Nguyên là vùng chuyên canh tập trung có qui mô lớn về sản xuất cà phê
của Việt Nam, ngay từ những năm cuối của thập niên 90, sản lượng cà phê nhân
của vùng Tây Nguyên chiếm trên dưới 70% sản lượng của cả nước, bởi Tây
Nguyên với đặc điểm thổ nhưỡng đất đỏ bazan ở độ cao khoảng 500 m đến 600 m
so với mặt biển, là vùng đất rất phù hợp với những cây công nghiệp như cà phê, ca
cao, hồ tiêu phát triển. Cây cà phê đã góp phần khai thác tiềm năng đất đai, lao
động và khí hậu ở cao nguyên và miền núi, tạo việc làm, và là nguồn thu nhập
chính cho hàng triệu nông dân ở đây.
Đắk Lắk là một tỉnh thuộc Tây Nguyên có vị trí kinh tế - xã hội chiến lược
đồng thời có diện tích đất đỏ Bazan lớn (311,000 ha) với điều kiện sinh thái khá
thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, trong đó cà phê là
cây trồng chủ lực có diện tích lớn và phát triển nhanh trên địa bàn tỉnh. Đến nay
diện tích cà phê trên địa bàn tỉnh là hơn 200.000 ha, trong đó diện tích cà phê cho
thu hoạch hơn 190.00 ha, sản lượng niên vụ 2013-2014 đạt 350,000 tấn. [7]
Cà phê đưa lại cuộc sống ấm no cho hàng vạn người dân các dân tộc, trong đó
có các nông hộ trồng cà phê tại xã Hòa Thắng, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh
Đắk Lắk. Vai trò, vị thế, tác dụng của ngành không thể có được nếu không có sự
góp sức của các nông hộ trồng cà phê trên địa bàn tỉnh nói chung và các nông hộ
tại xã Hòa Thắng nói riêng. Tuy nhiên cây cà phê trong quá trình sản xuất cần
lượng vốn đầu tư khá lớn cùng với các biện pháp kỹ thuật thâm canh cao. Song
trong quá trình sản xuất kinh doanh, cây cà phê còn nhiều tiềm năng chưa được
các nông hộ khai thác hết, do còn một số hạn chế nhất định về thông tin thị trường,
tập tục canh tác…nếu khắc phục được những hạn chế đó thì hiệu quả kinh tế mà
cây cà phê mang lại cho các nông hộ sẽ cao hơn.
Nhận thức được những vấn đề nêu trên cùng với những kiến thức đã được học,
tôi quyết định chọn đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất cà phê của nông
cà phê vối (Robusta) chiếm 95% tổng diện tích cà phê của cả nước và là nước xuất
khẩu cà phê thứ 2 trên thế giới sau Brazil, cà phê cũng là mặt hàng nông sản xuất
khẩu nhiều thứ 2 của Việt Nam sau lúa gạo.[6]
Cà phê là loại cây thích nghi với điều kiện khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ thích ứng
từ 24oC đến 30oC. Lượng mưa để cây sinh trưởng phát triển tốt là từ 1500mm đến
2000mm. Độ ẩm thích hợp là khoảng 80%, ưa ánh sáng dồi dào. Đất trồng cà phê
phải có tầng sâu tối thiểu 70 cm. Cây cà phê yêu cầu phải có thời gian khô hạn từ
2 đến 3 tháng sau thu hoạch để phân hóa mầm hoa, khi hoa nở thời tiết phải khô
ráo không có sương mù.
Cà phê là loại cây có giá trị kinh tế cao, là một trong 3 đồ uống quan trọng của
nhân dân thế giới. Ngoài ra cà phê còn là nguyên liệu dùng trong nhiều ngành
công nghiệp thực phẩm như bánh, kẹo,…hiện nay cà phê là một trong những mặt
hàng xuất khẩu hàng đầu của thế giới, hoạt động mậu dịch cà phê chỉ xếp sau dầu
mỏ.
2.1.2 Điều kiện sống của cây cà phê
Ở mỗi loài, mỗi giống đều có biên độ thích nghi và khả năng thích nghi với
điều kiện nhiệt độ khác nhau. Mỗi giống đều có những đặc tính thực vật sinh vật
và khả năng thích nghi với yêu cầu ngoại cảnh đặc biệt là cường độ ánh sáng và
nhiệt độ khác nhau. Cây cà phê là cây trồng có biên độ thích nghi với nhiệt độ khá
rộng, nó có khả năng trồng ở độ dốc lớn và ở vùng cao sẽ tốt hơn. Đất đai và khí
hậu là hai nhân tố ảnh hưởng lớn đến điều kiện sinh trưởng và phát triển của cây
cà phê, đất để trông cà phê phải có tầng sâu tối thiểu là 70cm ngoài tầng sâu, độ
tơi xốp của đất cũng là một yêu cầu hết sức quan trọng đối với cây cà phê.
2.1.3 Khái niệm, đặc điểm, các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất cà phê
- Khái niệm:
Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt
động kinh tế của con người. Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay
để trao đổi trong thương mại. Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính
ngày càng đa dạng phong phú, đòi hỏi về số lượng và chất lượng cà phê hàng hoá
ngày càng cao.
+ Vốn và sử dụng vốn: Muốn nâng cao trình độ sản xuất cà phê hàng hoá thì
phải có vốn đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Tốc độ sản xuất cà phê hàng
hoá tuỳ thuộc vào mức thu nhập và khả năng tích luỹ của các nông hộ cũng như sự
đầu tư của nhà nước thông qua hệ thống tài chính tín dụng.
+ Áp dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ: Đây là một nhân tố trực tiếp làm
thay đổi trạng thái sản xuất cà phê, nâng cao khối lượng và chất lượng sản phẩm
cà phê.
+ Hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước: Đây là nhân tố quan trọng
ảnh hưởng đến quá trình sản xuất cà phê hàng hoá. Nếu không có sự can thiệp của
nhà nước trong nên kinh tế thị trường thì quá trình sản xuất cà phê hàng hoá tự
phát khó tránh khỏi những rủi ro dẫn đến lãng phí cho nền kinh tế, gây thiệt hại
đối với người sản xuất cũng như người tiêu dùng. Do đó cần có chính sách kinh tế
vĩ mô của Nhà nước để định hướng và tác động đúng hướng thúc đẩy nâng cao sản
xuất cà phê hàng hoá.
2.1.4 Khái niệm hộ, nông hộ, kinh tế hộ [3]
- Khái niệm hộ:
Là những người cùng sống chung trong một mái nhà, cùng ăn chung một mâm
cơm và cùng ngân quỹ (Weberster-1990).
Là những người có chung huyết thống, có quan hệ mật thiết lẫn nhau trong quá
trình tạo ra của cải vật chất, tạo ra sản phẩm để tồn tại cho bản thân và cho gia
đình trong cộng đồng ( Raul-1989).
Là đơn vị kinh tế cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, tiêu
dùng và các hoạt động kinh tế khác (Martin-1998).
Có nhiều khái niệm khác nhau về hộ nhưng có chung đặc điểm sau:
+ Chung sống dưới một mái nhà.
+ Chung nguồn thu nhập.
kết quả sản xuất với mức độ tăng trưởng chi phí của nền sản xuất xã hội.
HQKT =
Trong đó: : Là phần tăng thêm của kết quả sản xuất
: Là phần tăng thêm của chi phí sản xuất.
Từ các quan điểm trên ta thấy nếu chỉ đánh giá HQKT ở khía cạnh lợi nhuận
thuần túy (kết quả sản xuất kinh doanh trừ chi phí) thì chưa xác định được năng
suất lao động xã hội và so sánh khả năng cung cấp sản phẩm cho xã hội của những
nhà sản xuất có hiệu số giữa kết quả sản xuất kinh doanh và chi phí sản xuất như
nhau. Tuy nhiên, nếu tập trung vào các chỉ tiêu tỷ số giữa kết quả sản xuất với chi
phí thì lại chưa toàn diện, nó là số tương đối và chỉ tiêu này chưa phân tích được
sự tác động, ảnh hưởng của các yếu tố nguồn lực. hai cơ sở đạt được tỷ số trên là
như nhau, nhưng ở những không gian, thời gian, điều kiện khác nhau thì sự tác
động của nguồn lực tự nhiên là khác nhau và như vậy hiệu quả kinh tế cũng không
giống nhau.
Vì vậy, khi xem xét HQKT chúng ta phải xem xét trên tất cả các góc độ để có
cái nhìn toàn diện, chính xác, tùy theo mục đích và yêu cầu nghiên cứu.
Trong điều kiện hiện nay, khi mà môi trường sinh thái đang bị tác động một
cách thô bạo, nhiều thiên tai nghiêm trọng vẫn thường xuyên xảy ra trên khắp thế
giới. Thì hiệu quả không chỉ đơn thuần là HQKT mà nó phải thỏa mãn các vẫn đề
tiết kiệm thời gian, tài nguyên trong sản xuất, mang lại lợi ích trong xã hội và phải
bảo vệ được môi trường sinh thái. Nghĩa là tính hiệu quả phải hài hòa các lợi ích
về kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái đảm bảo tính bền vững.
Như vậy khái niệm về HQKT có thể được hiểu như sau:
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế thể hện mỗi tương quan giữa kết quả
và chi phí. Mỗi tương quan ấy có thể là phép trừ, phép chia của các yếu tố đại diện
cho kết quả và chi phí. HQKT phản ánh trình độ khai thác các yếu tố đầu tư các
yếu tố về giá của đầu vào và giá của đầu ra. Hay nói cách khác HQPB là việc sử
dụng các yếu tố đầu vào theo những tỉ lệ nhằm đạt lợi nhuận tối đa khi biết cụ thể
các giá trị đầu vào.
Hiệu quả kinh tế: Là phạm trù kinh tế mà trong đó đạt cả HQKth và
HQPB. Điều đó là hai yếu tố hiện vật và giá trị đều được tính đến khi xem xét việc
sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình sản xuất cà phê trên thế giới
Trên thế giới hiện nay có 75 nước trồng cà phê với diện tích trên 10 triệu hecta
và sản lượng hàng năm biến động trên dưới 6 triệu tấn. Năng suất bình quân chưa
vượt quá 6 tạ nhân/ha. Trong đó ở châu Phi có 28 nước năng suất bình quân không
vượt quá 4 tạ nhân/ha. Nam Mỹ đạt dưới 6 tạ nhân/ha. Bốn nước có diện tích cà
phê lớn nhất đó là: Brazil trên 3 triệu hecta chiếm 25% sản lượng cà phê thế giới,
Côte D'voire (Châu Phi), Indonesia (Châu Á) mỗi nước khoảng 1 triệu hecta và
Côlômbia có gần 1 triệu hecta với sản lượng hàng năm đạt trên dưới 700 ngàn tấn.
Do áp dụng một số tiến bộ kỹ thuật mới như giống mới và mật độ trồng dày nên
đã có hàng chục nước đưa năng suất bình quân đạt trên 1 tấn/ha. Điển hình có
Costa Rica ở Trung Mỹ với diện tích cà phê chè là 85,000 ha nhưng đã đạt năng
suất bình quân trên 1,400 kg/ha. [6]
Do sự xuất hiện và gây tác hại của bệnh gỉ sắt cà phê tại nhiều nước Trung và
Nam Mỹ đã gây thêm những khó khăn và tốn kém cho nghề trồng cà phê ở khu
vực này. Cà phê chè hiện nay vẫn chiếm 70% sản lượng của thế giới. Diện tích cà
phê chè được trồng tập trung chủ yếu ở Trung và Nam Mỹ, một số nước ở Đông
Phi như: Kenya, Cameroon, Ethiopie, Tanzania và một phần ở châu Á như:
Indonesia, Ấn Độ, Philippin. [6]
Thị trường cà phê trên thế giới trong những năm vừa qua thường chao đảo,
không ổn định nhất là về giá cả. Tổ chức cà phê thế giới (ICO) do không còn giữ
được hạn ngạch xuất nhập khẩu, giá cả trôi nổi trên thị trường tự do cho nên có
và kém chất lượng cần được thay thế trong 5 năm tới, số lượng cây cà phê nói trên
chiếm khoảng 25% diện tích gieo trồng.
Trong vài năm gần đây, sức tiêu thụ cà phê của người dân Việt Nam tăng lên
đáng kể. trong mùa vụ 2011-2012, sức tiêu thụ cà phê nội địa đạt 1.3 triệu bao
tương đương với 80,000 tấn hạt cà phê xanh. Mùa vụ 2012-2013 con số này vào
khoảng 1.5 triệu bao tương đương 90,000 tấn hạt cà phê xanh, chiếm khoảng 7%
tổng sản lượng. rất nhiều quán, nhãn hiệu cà phê đã được hình thành bao gồm cả
phong cách phương tây và phong cách Việt. Mức tiêu thụ cà phê của người dân
Việt Nam tăng lên khoảng 0.92 kg/1 người/1 năm. Tuy nhiên, con số này vẫn
được coi là thấp so với các nước sản xuất cà phê khác.
2.2.3 Tình hình sản xuất cà phê ở Đắk Lắk
Hiện nay Đắk Lắk có trên 184,000 ha cà phê (trong đó có trên 173,000 ha cà
phê kinh doanh) với sản lượng đạt trên 400,000 tấn cà phê nhân xô, chiếm 36.4%
sản lượng cà phê cả nước. Cùng với việc tăng nhanh về diện tích, việc áp dụng các
biện pháp kỹ thuật thâm canh như: chọn giống, bón phân, tưới nước, tạo tán...đã
làm năng suất và sản lượng cà phê tăng mạnh. Những năm trước 1990, năng suất
bình quân 1 ha cà phê kinh doanh chỉ đạt 0.8 – 0.9 tấn nhân, đến năm 1994 năng
suất bình quân đạt 1.85 tấn/ha, hiện nay bình quân đạt 2.5 – 2.8 tấn/ha. Cá biệt ở
một số vùng sản xuất đã cho năng suất bình quân đạt 3.5 - 4 tấn/ha, vườn cà phê
một số hộ gia đình đạt trên 5 tấn/ha. [7]
Là tỉnh có nền kinh tế nông nghiệp hàng hóa, sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi
khá lớn về sản lượng, đa dạng về chủng loại, với nguồn nguyên liệu dồi dào và rất
tốt cho ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Đặc biệt là tỉnh được thiên phú
cho thừa hưởng 311,000 ha đất đỏ bazan màu mỡ, rất thích hợp cho cây cà phê
phát triển. Cây cà phê đã thực sự tạo ra hiệu quả kinh tế, xã hội rất quan trọng và
to lớn cho người dân Đắk Lắk.
Hiện nay, cà phê là sản phẩm chủ lực của tỉnh. Năm 2012, kim ngạch xuất
khẩu của tỉnh đạt trên 620 triệu USD, trong đó cà phê chiếm 85% giá trị xuất khẩu
nước.
PHẦN BA: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các nông hộ trồng cà phê thời kỳ kinh doanh tại xã Hòa Thắng, thành phố
Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăklăk.
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
3.1.2.1 Phạm vi không gian
Do hạn chế về khả năng và thời gian nghiên cứu nên đề tài chỉ tập trung phản
ánh tình hình sản xuất cà phê tại thôn 4, 5 và buôn KomLeo đại diện cho hình thức
sản xuất cà phê theo hộ.
3.1.2.2 Phạm vi thời gian
Nghiên cứu tình hình sản xuất cà phê của nông hộ trên địa bàn xã Hòa Thắng
năm 2014.
3.1.2.3 Phạm vi nội dung
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến hoạt động sản xuất và hiệu
quả kinh tế của cây cà phê trên địa bàn nghiên cứu.
- Đánh giá hiệu quả sản xuất cà phê thời kỳ kinh doanh của các nông hộ và tìm
hiểu, phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của sản xuất cà phê
trên địa bàn xã.
- Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất cà phê thời kỳ kinh
doanh của các nông hộ trồng cà phê tại xã.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho các nông hộ
trồng cà phê tại xã.
3.2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu [8]
3.2.1 Điều kiện tự nhiên
3.2.1.1 Vị trí địa lý
Địa hình xã tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình từ 400m - 425m, có độ dốc
từ 1.5 – 2.50, tương đối thuận lợi cho bố trí sử dụng đất nông nghiệp và phát triển
cơ sở hạ tầng; Khu vực phía Tây Nam gồm các quả đồi có độ cao và độ dốc lớn. Nhìn
chung thảm thực vật của xã khá phong phú về chủng loại, cây cối xanh tốt quanh năm.
3.2.2 Tài nguyên
3.2.2.1 Tài nguyên đất
Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng tỉnh Đắk Lăk năm 1978 và kết quả điều tra
bổ sung chuyển đổi tên loại đất theo hệ thống phân loại của FAO – Unessco năm
1995, trên địa bàn của xã Hoà Thắng, Thành phố Buôn Ma Thuột có các loại đất
chính sau:
Đất nâu đỏ trên đá Bazan: Là nhóm đất có độ phì cao, độ dày tầng đất thường
lớn hơn 100 cm, kết cấu dạng viên hạt, độ xốp cao, thành phần cơ giới nặng, khả
năng giữ nước và giữ màu tốt, thích hợp cho cây trồng dài ngày.
Đất nâu vàng trên đá Bazan: Có thành phần cơ giới, đất có kết cấu viên hạt, tơi
xốp, thích hợp với nhiều loại cây công nghiệp hàng năm và lâu năm.
Đất đỏ vàng trên đá phiến sét: Phân bố ở địa hình ít dốc, thành phần cơ giới
nặng, tầng đất dầy trên 100 cm, giữ nước tốt, thích hợp với cây trồng lâu năm.
Đất nâu tím trên đá Bazan: Được hình thành từ sản phẩm phong hóa đá Bazan
dạng lỗ hổng hoặc bọc, đất có màu nâu tím, tầng đất dày, thích hợp trồng cây hàng
năm và lâu năm.
Đất đen trên sản phẩm đá Bazan: Có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình,
giàu mùn và dạng nước, phân bố ở nơi có địa hình thấp, thích hợp trồng cây hàng
năm.
Đất dốc tụ thung lũng: Phân bố ở địa hình thấp, thành phần cơ giới nhẹ, tầng
đất dày, giàu mùn, thích hợp trồng cây hàng năm.
3.2.2.2 Tài nguyên nước
Tài nguyên nước trên địa bàn của xã khá phong phú; Nguồn tài nguyên nước mặt
bao gồm nước mưa tự nhiên, nước mưa trong hồ chứa, đập và các khe suối. Điạ bàn còn
có 1 hồ đập lớn (hồ EaChư Cap), là nơi chứa nước với trữ lượng lớn cung cấp nước với
nhiên (%)
cơ học
số TB(%)
(%)
2009
2010
2011
2012
2013
2014
15,327
1.08
15,509
1.24
15,844
0.39
15,878
0.4
16,073
1.00
16,140
1.0
Tỷ lệ dân số tăng TB GĐ 2009-2014(%)
0.4
1.59
Tổng dân số toàn xã ( người)
Dân số trong độ tuổi lao động
Tỷ lệ % so dân số
LĐ làm việc trong các ngành nghề ( người)
Tỷ lệ % so LĐ trong độ tuổi
Phân theo giới tính
Nam
Tỷ lệ % so LĐ trong độ tuổi
Nữ
Tỷ lệ % so LĐ trong độ tuổi
Hiện trạng
16,140
9,644
59.75
8,786
55.33%
4,659
48.3
4,417
45.8
2.
Phân theo dân tộc
2.1
Dân tộc thiểu số
Thành phần lao động khác (lđ chưa có việc làm, học
sinh, nội trợ…)(người)
7,987
50.3%
102
0.64%
681
4.29%
108
Tỷ lệ % so LĐ làm việc
0.68%
(Nguồn: UBND xã Hòa Thắng)
Thu nhập bình quân tính cho toàn xã là 1.2 triệu đồng/người/tháng, đối với lao
động trong các ngành nghề thì mức thu nhập bình quân là 3.6 triệu
đồng/người/tháng. Tuy nhiên lao động làm việc trong các ngành nghề khác nhau
thì có mức thu nhập khác nhau, với lao động làm dịch vụ, thương mại, HCSN thu
nhập bình quân là 5 triệuđồng/người/tháng, lao động CN, TCN, XD là 4 triệu
đồng/người/tháng và 1.8 triệu đồng/người/tháng với lao động làm việc trong các
ngành nghề nông, lâm nghiệp, thuỷ sản.
3.2.3.2. Tình hình phân bổ và sử dụng đất trên địa bàn xã
Bảng 3.3: Hiện trạng sử dụng đất xã Hoà Thắng năm 2014.
Diện tích
Tỷ lệ
Stt
Loại đất
3.1
3
Đất vườn trồng cây cn lâu năm
Đất lâm nghiệp
Đất rừng sản xuất
Đất rừng phòng hộ
Đất nuôi trồng thuỷ sản
4
II
1
2
2.1
2.1.1
2.1.2
2.1.3
Đất nông nghiệp khác
Đất phi nông nghiệp
Đất ở tại nông thôn
Đất chuyên dùng
Đất có mục đích công cộng
Đất giáo dục
Đất cây xanh – tdtt
Giao thông - hạ tầng kỹ thuật
+ Đất giao thông đối nội
340.87
0.05
18.12
5.65
2.1.4
2.1.5
2.2
2.3
2.4
2.5
3
4
5
III
+ Đất giao thông đối ngoại (ql 27)
+ Đất sân bay
+ Đập thuỷ lợi, ao hồ
Đất chợ
Đất y tế
Đất quốc phòng
Đất an ninh
Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp
Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp
Đất tôn giáo, tín ngưỡng
đất nghĩa trang
Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng
Đất chưa sử dụng
TỔNG CỘNG
3.2.4. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của xã Hòa Thắng [1]
3.2.4.1 Về kinh tế
a. Thực trạng sản xuất nông nghiệp
Về trồng trọt: Năm 2014 xã có diện tích cà phê là 1,811.05 ha sản lượng đạt
khoảng 4,395 tấn/năm. Thâm canh cây lúa nước 340.5 ha sản lượng đạt 2,281.4
tấn/năm. Và rau màu các loại là 910.8 ha sản lượng đạt 7.789 tấn/năm, ngoài ra
còn khoảng 105 ha xen kẻ các loại cây như: tiêu, điều, bơ, mít..... và các loại cây
ăn quả khác ha sản lượng đạt 210 tấn/năm. Chính quyền địa phương đã quan tâm
tới việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đã giảm dần diện tích cây điều và một số cây
cho năng xuất và hiệu quả kinh tế thấp, hình thành vùng cây công nghiệp, cây ăn
quả có giá trị kinh tế cao như cà phê, tiêu, bơ, mít nghệ, .... Cây hàng năm tập
trung vào cây lương thực như các loại đậu, lúa, bắp sản lượng hàng năm ước tính
đạt trên 10,000 tấn, góp phần ổn định lương thực đáp ứng nhu cầu của nhân dân
trên địa bàn xã. Năng xuất và chất lượng một số cây chủ lực tăng như cây cà phê,
năng xuất tăng 5 tạ/ha; cây lúa năng xuất tăng 1.5 tấn/ha; cây tiêu năng xuất tăng
1.9 tạ/ha.
Về chăn nuôi: tính đến cuối năm 2014, giá trị chăn nuôi chiếm khoảng 15%
trong cơ cấu ngành nông nghiệp, ngành chăn nuôi phát triển cả về số lượng, chất
lượng và quy mô tổng đàn Toàn xã có 5 trang trại và nhiều gia trại chăn nuôi heo,
với tổng đàn heo khoảng 8,367 con sản lượng đạt 292.76 tấn/năm. Chăn nuôi trâu,
bò, với tổng đàn khoảng 1.580 con sản lượng đạt 1,413.94 tấn/năm.Về đàn gia
cầm có khoảng 46,150 con sản lượng đạt 34,62 tấn/năm., trong đó có trang trại
nuôi đến hơn 3,000 con gà đẻ. Ngoài ra còn có chăn nuôi dê, với tổng
đàn khoảng 726 con sản lượng đạt 7.26 tấn/năm. Nuôi trồng thủy sản khoảng 70
ha sản lượng đạt 840 tấn/năm. Công tác tiêm phòng và phòng chống dịch bệnh
được chủ động thực hiện tốt. Hàng năm tỷ lệ tiêm phòng đạt hơn 90%; khử trùng
tiêu độc, vệ sinh môi trường kịp thời đã góp phần hạn chế dịch bệnh lây lan. Phần