1
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Ô nhiễm rác thải sinh hoạt đang tác động tiêu cực, đe doạ chất lượng sống ở các
đô thị Việt Nam. Quá trình đô thị hoá nhanh chóng ở Việt Nam gây sức ép về suy
giảm môi trường sống do không kiểm soát được lượng chất thải phát sinh, đặc biệt
là chất thải rắn sinh hoạt. Trong khi đó, việc xử lý rác thải sinh hoạt hiện nay tại
các đô thị vẫn chủ yếu theo công nghệ chôn lấp lạc hậu
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội là một trong những trường Đại học có
khuôn viên rộng tại Hà Nội. Rác thải cũng đang là vấn đề nan giải, nó đã gây ra
không ít những ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ của người dân cũng như chất lượng
môi trường sống. Trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội có diện tích cũng như số lượng
sinh viên khá lớn. Nhà trường đã xây dựng 10 khu kí túc xá phục vụ nhu cầu ăn ở
sinh hoạt cho khoảng 3000- 4000 sinh viên. Mỗi ngày một lượng khá lớn rác thải
sinh hoạt được thải ra từ các khu KTX này, nó chưa được phân loại và được tập
trung tại các bãi rác trong trường gây mùi khó chịu, gây mất mỹ quan cũng như tốn
một diện tích đất của trường. Các bãi rác này tiềm ẩn nguy cơ gây bệnh cho cán bộ,
sinh viên trong trường và người dân khu vực xung quanh.
Phạm Thị Xuyên
2
Vì vậy cần có các giải pháp nhằm khắc phục và nâng cao hiệu quả công tác
quản lý chất thải rắn sinh hoạt khu vực ký túc xá. Xuất phát từ những nguyên nhân
trên chúng tôi đã chọn đề tài “Tìm hiểu thực trạng xử lý rác thải tại trường đại
học Nông nghiệp Hà Nội”.
1.2. Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu.
1.2.1. Mục tiêu
- Xác định tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ khu ký túc xá
lưu học sinh.
- Xác định thành phần chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ khu ký túc xá lưu
học sinh.
+ Từ các khu dân cư
+ Từ các trung tâm thương mại
+ Từ các viện nghiên cứu, cơ quan, trường học, các công trình công cộng
+ Từ các dịch vụ đô thị, sân bay
+ Từ các trạm xử lý nước thải và từ các ống thoát nước của thành phố
+ Từ các khu công nghiệp
Bảng 1: Các loại chất thải đặc trưng từ nguồn thải sinh hoạt
Nguồn thải Thành phần chât thải
Khu dân cư và thương mại Chất thải thực phẩm
Giâý
Carton
Phạm Thị Xuyên
5
Nhựa
Vải
Cao su
Rác vườn
Gỗ
Các loại khác: tã lót, khăn vệ sinh,…
Nhôm, kim loại chưa sắt.
Chất thải đặc biệt Chất thải thể tích lớn
Đồ điện gia dụng
Hàng hóa
Rác vườn thu gom riêng
Pin
Dầu
Lốp xe
Chất thải nguy hại
Chất thải từ viện nghiên cứu, công sở Giống như trình bày trong mục chất
thải khu dân cư và khu thương mại
7
2.1.4. Phân loại rác thải sinh hoạt.
2.1.4. Phân loại rác thải sinh hoạt.
Ngày nay, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trong từng lĩnh vực thực tế đã góp phầngiảm
thiểu chi phí cho các công đoạn thừa trong các quá trình xử lý. Việc phân chia rác
thải rắn theo công nghệ quản lý xử lý là một bước tiến quan trọng, giúp hiệu quả
của quy trình xử lý tăng lên, giảm thiểu lượng ô nhiễm. Dưới đây là bảng phân loại
rác thải sinh hoạt.
Bảng 3: Phân loại rác thải sinh hoạt
Loại Nguồn gốc Ví dụ
1. Rác hữu cơ - Các vật liệu làm từ giấy
- Có nguồn gốc từ sợi
- Các chất thải ra từ đồ ăn
thực phẩm
- Các vật liệu và sản phẩm
được chế tạo từ gỗ, tre và
rơm…
- Các vật liệu và sản phẩm
được chế tạo từ chất dẻo
- Các vật liệu và sản phẩm
được chế tạo từ da và cao
su
- Các túi giấy, các mảnh
bìa, giấy vệ sinh…
- Vải, len, bì tải, bì
nilon…
- Các cọng rau, vỏ quả,
thân cây, lõi ngô…
- Đồ dùng bằng gỗ như
bàn, ghế, thang, giường,
thủy tinh, bóng đèn…
- Vỏ trai, xương, gạch, đá,
sỏi…
3. Rác hỗn hợp Tất cả các loại vật liệu
khác không phân loại ở
phần 1 và 2 đều thuộc loại
Đá cuội, cát, đất, tóc…
Phạm Thị Xuyên
9
này. Loại này có thể được
phân chia thành 2 phần:
kích thước lớn hơn 5 mm
và nhỏ hơn 5 mm
2.2. Thực trạng rác thải sinh hoạt trên Thế giới và Việt Nam.
2.2.1. Trên thế giới
Nạn ô nhiễm môi trường có thể thấy ở mọi nơi trên thế giới, từ Mexico, Nga,
Mỹ cho tới Trung Quốc, Ấn Độ… Tình trạng ô nhiễm ở một vài thành phố tại
những quốc gia này xuất phát từ nhiều lý do khác nhau. Trong đó ý thức con người
giữ một vai trò khá quan trọng, Mumbai một trong những thành phố đông đúc nhất
và bẩn thỉu nhất trên trái đất. Mỗi ngày, người dân ở nơi đây quẳng ra hàng tấn rác.
Bắc Kinh có dân số 17,6 triệu người, thải ra khoảng 18.400 tấn rác mỗi ngày,
khoảng 90% rác thải được đổ tại 13 bãi rác đặt rải rác quanh thành phố. Còn người
dân Hoa Kỳ đã loại bỏ mỗi năm 16.000.000.000 tã, 1.600.000.000 bút,
2.000.000.000 lưỡi dao cạo, 220.000.000 lốp xe. Với một lượng rác thải như thế thì
không lâu trái đất của chúng ta sẽ chìm trong biển rác, chính vì thế những công
nghệ xử lý rác hiện đại nhất thế giới đã ra đời. Hiện tại Mỹ đã có những công nghệ
tái chế và tái sử dụng khá hiện đại như: công nghệ tái chế tivi analog, công nghệ
CDW, công nghệ
Phạm Thị Xuyên
10
thải sinh hoạt đô thị là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%). Các đô thị khu vực
miền núi Tây Bắc Bộ có lượng phát sinh rác thải sinh hoạt đô thị thấp nhất chỉ có
69.350 tấn/năm (chiếm 1,07% ), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây
Nguyên, tổng lượng phát sinh rác thải sinh hoạt đô thị là 237.350 tấn/năm (chiếm
3,68%) .
Việt Nam có gần 400 trường đại học, cao đẳng và hầu hết các trường đều có kí
túc xá cho sinh viên ở trọ. Số sinh viên ở trọ dao động từ 500 – 4000 sinh
viên. Như vậy nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt từ các khu KTX sinh viên
của các trường đại học, cao đẳng là rất lớn.
Phạm Thị Xuyên
12
2.3. Thực trạng quản lý và tái chế chất thải rắn (CTR).
2.3.1. Trên thế giới:
Ước tính hàng năm lượng chất thải được thu gom trên thế giới từ 2,5 đến 4 tỷ
tấn (ngoại trừ các lĩnh vực xây dựng và tháo dỡ, khai thác mỏ và nông nghiệp).
Năm 2004, tổng lượng chất thải đô thị được thu gom trên toàn thế giới ước tính là
1,2 tỷ tấn. Con số này thực tế chỉ gồm các nước OECD và các khu đô thị mới nổi
và các nước đang phát triển.
Bảng 4: Thu gom chất thải rắn đô thị trên toàn thế giới năm 2004 (triệu tấn)
Quốc gia Khối lượng
Các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD 620
Cộng đồng các quốc gia độc lập (trừ các nước ở biển Ban tích) 65
Châu Á (trừ các nước thuộc OECD) 300
Trung Mỹ 30
Nam Mỹ 86
Bắc Phi & Trung Đông 50
Châu Phi cận Sahara 53
Tổng số: 1.204
Theo Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA)
Hiện nay, chất thải được tái chế bằng nhiều cách vừa biến thành năng lượng
(kg/người/năm)
150 - 250 250- 550 350 - 750
Tỷ lệ thu gom % < 70 70- 95 > 95
Các quy định về
chất thải
Không có Chiến
lược môi trường
quốc gia
Các quy định hầu
như không có
Không có số liệu
Chiến lược môi
trường quốc gia
Cơ quan môi trường
quốc gia
Luật môi trường
Một vài số liệu
Chiến lược môi
trường quốc gia
Cơ quan môi trường
quốc gia
Các quy định chặt
chẽ và cụ thể
Phạm Thị Xuyên
14
thống kê thống kê Nhiều số liệu
thống kê
Thành phần chất
thải đô thị (%)
• Chất thải thực
Bắt đầu thu gom
có chọn lọc
Tái chế có tổ chức
5%
Thu gom có chọn
lọc
Thiêu đốt
Tái chế >20%
Theo Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA)
Biến chất thải thành năng lượng: là nhiệm vụ của họat động triển khai sử
dụng tài nguyên tái tạo, giảm các khí nhà kính và phát triển thị trường cácbon.
Phạm Thị Xuyên
15
Thiêu đốt chất thải có thu hồi năng lượng bao gồm xử lý chất thải để sản xuất năng
lượng cung cấp cho các nhà máy và nhà ở. Năng lượng sản xuất ra nhiều hơn năng
lượng được sử dụng để vận hành lò đốt.
Hiện nay, có hơn 600 lò đốt chất thải thu hồi năng lượng ở 35 nước. Các
thiết bị này xử lý 170 triệu tấn chất thải đô thị. Đó là nguồn năng lượng tương
đương với 220 triệu thùng dầu hay 600.000 thùng/ngày. Các bãi chôn lấp hiện đại
nhất cho phép sản xuất khí biogas thông qua việc lên men chất thải, có thể tái sử
dụng dưới dạng điện năng. Ở Hoa Kỳ có 340 trong số 2975 bãi chôn lấp thu hồi khí
biogas và xử lý chất thải có liên quan đến vấn đề giảm các khí nhà kính.
Tiết kiệm tài nguyên: Tiết kiệm tài nguyên là một trong những lợi ích chủ
yếu của họat động thu hồi và tái chế chất thải. Lợi ích nữa của tái chế là giảm các
ảnh hưởng liên quan đến việc sử dụng và chuyển đổi các nguyên liệu thô.
Bảng 6: Những nguyên liệu chính được thu hồi và xử lý để tái sử dụng, bao gồm:
Nguyên
liệu
Đức Pháp Anh Italia Tây Ban
Nha
chế; xử lý và tiêu huỷ.
Công tác quản lý chất thải rắn ở Việt Nam hiện nay còn chưa tiếp cận được
với phương thức quản lý tổng hợp trên quy mô lớn, chưa áp dụng đồng bộ các giải
pháp giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế (3R) để giảm tỷ lệ chất thải phải chôn lấp.
Hoạt động giảm thiểu phát sinh CTR, một trong những giải pháp quan trọng và
hiệu quả nhất trong quản lý chất thải, còn chưa được chú trọng. Chưa có các hoạt
Phạm Thị Xuyên
17
động giảm thiểu CTR sinh hoạt. Ở quy mô công nghiệp, số cơ sở áp dụng sản xuất
còn rất ít, khoảng 300/400.000 doanh nghiệp. Hoạt động phân loại tại nguồn chưa
được áp dụng rộng rãi, chỉ mới được thí điểm trên qui mô nhỏ ở một số thành phố
lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh. Tỷ lệ thu gom chất thải ở các vùng đô thị trung
bình đạt khoảng 80-82%, thấp nhất là đô thị loại IV (65%), ở Hà Nội cao hơn
(90%); ở các điểm dân cư nông thôn ~ 40-55%. Khoảng 60% khu vực ở nông thôn
chưa có dịch vụ thu gom chất thải, chủ yêu dựa vào tư nhân hoặc cộng đồng địa
phương. Tỷ lệ thu gom, vận chuyển CTR tuy đã tăng dần song vẫn còn ở mức thấp,
chủ yếu phục vụ cho các khu vực đô thị, chưa vươn tới các khu vực nông thôn. Xã
hội hóa công tác thu gom, vận chuyển CTR tuy đã được phát triển nhưng chưa rộng
và chưa sâu, chủ yếu được hình thành ở các đô thị lớn. Năng lực trang thiết bị thu
gom, vận chuyển còn thiếu và yếu, dẫn tới tình trạng tại một số đô thị đã thực hiện
phân loại CTR tại nguồn nhưng khi thu gom, vận chuyển lại đem đổ chung làm
giảm hiệu quả của việc phân loại. Tái sử dụng và tái chế chất thải mới chỉ được
thực hiện một cách phi chính thức, ở qui mô tiểu thủ công nghiệp, phát triển một
cách tự phát, không đồng bộ, thiếu định hướng và chủ yếu là do khu vực tư nhân
kiểm soát. Công nghệ xử lý CTR chủ yếu vẫn là chôn lấp ở các bãi lộ thiên không
đạt tiêu chuẩn môi trường với 82/98 bãi chôn lấp trên toàn quốc không hợp vệ sinh.
Các lò đốt rác chủ yếu dành cho ngành y tế và chỉ đáp ứng được 50% tổng lượng
Phạm Thị Xuyên
18
chất thải y tế nguy hại. Việc phục hồi môi trường đối với các cơ sở xử lý CTR còn
hiệu quả kinh tế đối với nhiều cơ sở sản xuất”. (Trịnh Thị Thanh và Nguyễn Thị
Hà, 2000).
2.4.2. Kiểm toán chất thải rắn trên thế giới
Từ năm 1980, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu và ứng dụng về KTCT. Quy
trình KTCT đối với từng ngành đã được lập, nhiều tài liệu, sách về KTCT đã được
xuất bản.
Ở Ôxtrâylia, KTCT trong các ngành công nghiệp đã được giới thiệu như là
một công cụ hỗ trợ cho việc quản lý chất thải, bên cạnh các công cụ khác như sản
xuất sạch hơn và đánh giá vòng đời sản phẩm. Cục Các ngành công nghiệp cơ bản,
Phạm Thị Xuyên
20
Công viên, Nước và Môi trường của bang Tasmania, Ôxtrâylia đã khuyến cáo các
doanh nghiệp nên sử dụng KTCT, với các nội dung như xác định các nguồn thải, số
lượng và các loại chất thải được tạo ra; Xác định nguyên nhân làm gia tăng chất
thải; Thiết lập các mục tiêu/giải pháp và thứ tự ưu tiên cho việc giảm phát sinh chất
thải.
Một số ngành công nghiệp đặc thù gây tổn hại tới môi trường như khai thác
mỏ, sản xuất hóa chất thì được khuyến khích tuân thủ theo các Quy chế về Thực
hành quản lý môi trường tốt nhất (BPEM), được chính quyền Ôxtrâylia thiết kế
riêng cho mỗi ngành. Ví dụ, đối với ngành khai thác mỏ đã được Cục Bảo vệ môi
trường Úc ban hành quy chế năm 1995, trong đó bao gồm quy định về KTCT và
nộp báo cáo kiểm toán hàng năm.
Tại Canada, theo quy định Ontario 102/94 của Bộ Môi trường và Năng lượng,
các cơ sở sản xuất bắt buộc thực hiện KTCT. Quy định này nêu rõ, các cơ sở giáo
dục, bệnh viện, nhà nghỉ, khách sạn, cơ sở sản xuất, các tòa nhà công sở, nhà hàng
và các cơ sở kinh doanh phải thực hiện chương trình giảm thiểu chất thải, bao gồm
4 bước trong đó có thực hiện KTCT. Thời gian một báo cáo KTCT phải được lưu
trữ dưới dạng file ít nhất 5 năm và phải chỉ ra được loại vật liệu hoặc sản phẩm nào
được doanh nghiệp sử dụng là vật liệu hoặc sản phẩm tái chế. Bên cạnh đó, Canada
rất chú trọng tới việc xem xét quy trình sản xuất của doanh nghiệp như là một
sản xuất sạch hơn (ISO 14000) còn thấp là do Nhà nước chưa có những chính sách
cụ thể để trực tiếp hoặc gián tiếp bắt buộc các doanh nghiệp phải thực hiện. Ngoài
ra, nhận thức và hiểu biết về KTCT và các lợi ích mà nó mang lại cũng chưa cao.
Các quy trình KTCT chưa được nghiên cứu, xây dựng cho các ngành công nghiệp
như ở một số nước trên thế giới. Các sổ tay hướng dẫn kỳ thuật về KTCT chưa
được ban hành và phổ biến rộng rãi trong cộng đồng doanh nghiệp. Bên cạnh đó, ở
nước ta cũng chưa có các nghiên cứu đề xuất chính sách khuyến khích áp dụng
KTCT trong quản lý môi trường.
Từ năm 2009, Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và môi trường đã
được Bộ Tài nguyên và Môi trường giao tổ chức triển khai thực hiện Dự án "Áp
dụng thử nghiệm KTCT trong quản lý môi trường ngành công nghiệp Việt Nam ",
thực hiện trong 3 năm (2Ỏ09 - 2012). Dự kiến, Dự án sẽ nghiên cứu, xây dựng sổ
Phạm Thị Xuyên
23
tay KTCT cho ngành công nghiệp nói chung và 10 ngành công nghiệp nói riêng,
đồng thời hướng tới xây dựng chính sách yêu cầu các doanh nghiệp phải triển khai
KTCT, sử dụng KTCT như một công cụ kiểm soát ô nhiễm trong thời gian tới.
PHẦN III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ khu KTX sinh viên trường đại học
Nông nghiệp Hà Nội.
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Tầng 1- KTX lưu học sinh- trường đại học Nông nghiệp Hà Nội.
- Tiến hành trong vòng 1 tuần từ 26/09/2011 đến 02/10/2011
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Kiểm toán chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ tầng 1 KTX lưu học sinh
nhằm xác định tổng khối lượng rác thải và thành phần rác thải phát sinh.
- Tìm hiểu và đánh giá hiệu quả công tác quản lý rác thải tại KTX lưu học
15h30 họp mở đầu, phân công nhiệm vụ cho mỗi kiểm toán viên.
16h bắt đầu đặt túi thu gom rác, mỗi phòng ở 1túi nilon vừa, phòng bếp
1 túi nilon lớn .
+ Các ngày tiếp theo (26/09- 02/10) đúng 16h đến thu túi rác, đem đi
phân loại và xác định khối lượng rác, tiếp tục đặt túi mới, thực hiện trong vòng
một tuần.
3.3.4 Phương pháp phân tích
- Phân loại rác thải sinh hoạt theo bảng tiêu chuẩn phân loại rác đã chuẩn bị
trước khi tiến hành kiểm toán (có bảng kèm theo).
- Cách phân loại rác:
+ Thu rác ở các thùng rác ở phòng ở và phòng bếp
+ Do lượng rác ở các phòng ở là rất ít, rấ khó có thể định lượng được. Do đó
chúng tôi gộp chung rác phòng ở và phòng bếp. Đổ rác ra bạt lớn, tiến hành
phân loại theo bảng tiêu chuẩn phân loại rác.
- Sau khi phân loại tiến hành xác định khối lượng mỗi loại rác thải bằng cân 5
kg và ghi vào trong biểu mẫu ( có bảng kèm theo).
3.3.5 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
Phân tích số liệu và xử lý thống kê bằng Excel.
Phạm Thị Xuyên