Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất trong Trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội - Pdf 27

PHẦN MỞ ĐẦU
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa,
nhân tố con người là yếu tố then chốt, là tiền đề cần thiết cho sự phát triển bền
vững, sự hưng thịnh của mỗi quốc gia. Đây là vấn đề luôn được Đảng và Nhà
nước đặc biệt quan tâm, đầu tư thích đáng, nhất là trong lĩnh vực giáo dục, coi “
giáo dục là quốc sách hàng đầu”.
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh
của Đất nước, Đảng và nhà nước ta càng trú trọng hơn công tác GDTC cho học
sinh, sinh viên lớp người kế tiếp truyền thống cha ông, những chủ nhân tương
lai của Đất nước. Xem đó là tiền đề quan trọng trong sự nghiêp xây dựng, bảo
vệ Tổ quốc và khẳng định cần phải có chính sách chăm sóc, giáo dục, đào tạo
thế hệ trẻ Việt Nam nhằm phát triển hài hoà về thể chất, tinh thần, tư duy trí tuệ
và đạo đức con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa.
Sức khoẻ là vốn quý của con người, là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá
của mỗi quốc gia, là sản phẩm phản ánh một cách khách quan thành tựu khoa
học tự nhiên, xã hội, khoa học thể dục thể thao…Để có được sức khoẻ và duy trì
được sức khoẻ, thể lực tốt thì việc tập luyện thể dục thể thao một cách thường
xuyên liên tục và hợp lý là hết sức cần thiết.
Ngay sau khi Cách mạng Tháng tám thành công, mặc dù Đất nước có
muôn vàn công việc cần phải chăm lo, lãnh đạo thế nhưng Bác Hồ rất quan tâm
đến sức khoẻ dân tộc, coi đó như một nguồn lực để cách mạng thành công. Thể
hiện điều đó Bác đã viết bài “ Sức khoẻ và thể dục”, đăng trên báo trên báo Cứu
Quốc ngày 27 tháng 03 năm 1946 với tựa đề: “ Lời kêu gọi toàn dân tập thể
dục”.
Trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Năm năm 1992 đã
quy định. “ Chế độ giáo giáo dục thể chất bắt buộc trong các trường học”. Chỉ
thị 36CT/TW ngày 21 tháng 03 năm 1944 của Ban bí thư Trung ương Đảng xác
định cụ thể mục tiêu: “ Thực hiện giáo dục thể chất trong tất cả các trường học,
1
làm cho việc tập luyện thể dục thể thao thành nếp sống hàng ngày cho hầu hết
học sinh, sinh viên”.

nhu cầu, sở thích của sinh viên, phù hợp với đặc điểm cơ sở vật chất và đội ngũ
giáo viên hiện có của nhà trường.
Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội là một trường đào tạo đa
ngành nghề, nên chương trình môn học của sinh viên có sự khác biệt với các
trường Cao đẳng và Đại học khác. Thực tiễn đó đòi hỏi phải có những nghiên
cứu vận dụng cho phù hợp với đặc điểm nhà trường.
Xuất phát từ những lý do trên, được sự quan tâm giúp đỡ, ủng hộ của Ban
giám hiệu trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội và sự chỉ đạo
hướng dẫn tận tình của các thầy cô giáo trường Đại học TDTT Bắc Ninh, tôi
mạnh dạn tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất
trong Trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội ”.
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở đánh giá thực trạng tình hình tổ chức và thực hiện công tác
GDTC cho sinh viên, xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến công tác GDTC, sự
phát triển năng lực thể chất của sinh viên trường Đại học Kinh doanh và Công
nghệ Hà Nội, đề tài đề xuất giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng công
tác GDTC cho sinh viên trong nhà trường.
Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu 1 : Nghiên cứu thực trạng công tác GDTC của trường Đại học
Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội.
Mục tiêu 2: Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng và đánh giá hiệu quả giải
pháp nâng cao chất lượng công tác GDTC trong trường Đại học Kinh doanh và
Công nghệ Hà Nội.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Quan điểm của Đảng, nhà nước về công tác GDTC
GDTC trong nhà trường là một bộ phận quan trọng không thể tách rời
trong hệ thống giáo dục quốc dân là cơ sở của phong trào thể dục thể thao quần

đầu”. Muốn xây dựng đất nước giầu mạnh, văn minh không những chỉ có con
người phát triển cao về trí tuệ, trong sáng về đạo đức lối sống mà cần có con
người cường tráng về thể chất, chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm
của toàn xã hội, của tất cả các cấp các ngành, các đoàn thể.
Đảng và Nhà nước ta đã xác định công tác GDTC là một chế độ bắt buộc
không thể tách rời trong hệ thống giáo dục quốc dân, điều đó thể hiện trong điều
41 và điều 43 hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
[29], trong chương III Pháp lệnh TDTT [52], Luật giáo dục [41], Luật TDTT
được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ký ban hành số
22/2006/LCTN đã xác định quyền và trách nhiệm của Nhà nước đối với GDTC
và thể thao trong nhà trường ( Điều 21).
Ngay sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, trong kỳ họp đầu tiên Ban
chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa VIII ra nghị quyết số 02
ngày 24 tháng 12 năm 1996 về “ Định hướng phát triển giáo dục và đào tạo
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2010”. Đó là
một trong các minh chứng xác định Đảng rất chú ý đến giáo dục đào tạo, khoa
học - công nghệ là khâu đột phá, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.
Tại báo cáo chính trị Đại hội IX của Đảng (2001) và Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội 2001-2010 đã chỉ rõ các quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục
nước nhà; Đó là:
- Giáo dục là quốc sách hàng đầu, điều đó có ý nghĩa là sự nghiệp giáo
dục và chính sách giáo dục của Đảng và Nhà có tầm quan trọng hàng đầu.
- Xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại
theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa.
5
- Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến
bộ khoa học - công nghệ, củng cố an ninh quốc phòng.
- Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X năm 2008 đã đề ra “ Chiến lược phát
triển nâng cao tầm vóc và thể lực người Việt Nam”, tiếp tục đặt ra vấn đề GDTC
và hoạt động thể thao trong các trường học nhằm tăng cường sức khỏe, phát

ương Đảng ( khóa VII) giao trách nhiệm cho Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục
TDTT thường xuyên phối hợp chỉ đạo công tác GDTC, cải tiến chương trình
giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên thể dục cho trường
học các cấp, tạo những điều kiện cần thiết như cơ sở vật chất để thực hiện chế
độ giáo dục thể chất bắt buộc ở tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện
TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên, qua đó phát
hiện và tuyển chọn được nhiều tài năng thể thao cho Quốc gia [18].
GDTC trong các trường Đại học, Cao đẳng là bộ phận hữu cơ của mục
tiêu giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện mục tiêu “nâng cao dân trí, bồi
dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài” cho đất nước. Đồng thời là một mặt giáo dục
toàn diện cho thế hệ trẻ nhằm đào tạo lớp người mới có năng lực, phẩm chất, có
sức khỏe, lớp người “ phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong
phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức [18] để đáp ứng nhu cầu đổi mới sự phát
triển kinh tế xã hội của đất nước. Đó là mục tiêu của Đảng và nhà nước Việt
Nam, là ước nguyện của Bác Hồ đối với thế hệ trẻ Việt Nam.
Những năm qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đặc biệt quan tâm đến công tác
GDTC trong các trường đại học thể hiện qua việc thường xuyên ban hành các
nội dung chương trình môn học thể dục trong các trường với các quy định về nội
và ngoại khóa, luôn cải tiến chương trình cho phù hợp với điều kiện và hoàn
cảnh của đất nước, thường xuyên tổ chức các giải phong trào để động viên và
khích lệ tham gia tập luyện.
Định hướng về công tác giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ trong
những năm tới Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã khẳng định. Giáo dục đào
tạo cùng với khoa học và công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu.
7
Chuẩn bị tốt hành trang cho thế hệ trẻ đi vào thế kỷ XXI. Muốn xây dựng đất
nước giầu mạnh, văn minh phải có con người phát triển toàn diện, không chỉ
phát triển về trí tuệ, trong sáng về đạo đức lối sống mà phải là con người phát
triển về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội, của tất cả các ngành, các đoàn
thể, trong đó có giáo dục – đào tạo y tế và thể dục thể thao.

Thủ tướng chính phủ đã có chỉ thị 113/TTg về xây dựng quy hoạch phát triển
ngành TDTT. Trong đó đã nêu: “ Ngành TDTT phải xây dựng định hướng phát
triển có tính chiến lược, trong đó quy định rõ các môn thể thao và hình thức hoạt
động mang tính phổ cập đối với mọi đối tượng, lứa tuổi, tạo thành phong trào
tập luyện rộng rãi của quần chúng: Khoẻ để xây dựng và bảo vệ tổ quốc”. Bộ
giáo dục và đào tạo cần đặc biệt coi trọng GDTC trong nhà trường. Cải tiến nội
dung giảng dạy nội khoá, ngoại khoá, quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể
cho học sinh ở các cấp học, quy chế bắt buộc ở các nhà trường, nhất là các
trường đại học phải có sân bãi, phòng tập TDTT hợp lý, có định biên và có kế
hoạch tích cực đào tạo đội ngũ giáo viên thể dục thể thao đáp ứng nhu cầu ở tất
cả các cấp học” [17].
Để giáo dục thể chất và TDTT học đường thực sự có vị trí quan trọng
trong việc góp phần đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, hoàn thiện về nhân
cách, trí tuệ và thể chất để có được sức khoẻ phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, giữ vững và tăng cường an ninh quốc phòng, đồng
thời xây dựng nhà trường thành những cơ sở có phong trào TDTT quần chúng
của học sinh, sinh viên. Quán triệt sâu sắc nội dung của các nghị quyết, chỉ thị
của Đảng, hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và
các văn bản pháp lệnh của chính phủ về công tác TDTT trong tình hình mới,
đồng thời khắc phục tình trạng giảm sút sức khoẻ thể lực của học sinh, sinh viên
hiện nay, hai ngành giáo dục đào tạo và TDTT đã thống nhất những nội dung
biện pháp và nhất trí chỉ đạo nhằm đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác
GDTC của học sinh, sinh viên: “ Hai ngành nhất trí xây dựng chương trình mục
tiêu cải tiến nâng cao chất lượng công tác GDTC, sức khoẻ, bồi dưỡng năng
9
khiếu thể thao cho học sinh, sinh viên”. Kiến nghị với nhà Nước phê duyệt
thành chương trình quốc gia và được đầu tư kinh phí thích đáng” [98].
Với nội dung chỉ đạo giữa hai ngành là chỉ đạo các cấp học giảng dạy
TDTT nội khoá theo chương trình, kế hoạch, có nề nếp, và đảm bảo việc thực
hiện nghiêm túc các quy phạm đáng giá quá trình dạy học thể dục, quy chế giáo

học các môn thể thao đã khẳng định: “ Nhà trường phải có kế hoạch hướng dẫn
học sinh, sinh viên tự tập luyện thường xuyên, tổ chức thi kiểm tra tiêu chuẩn và
rèn luyện thể thao từng lứa tuổi và chỉ tiêu phát triển thể lực cho học sinh, sinh
viên theo quy định của chương trình GDTC”.
Do vậy, Bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành chương trình GDTC trong
trường Đại học, Cao đẳng: “ Chương trình GDTC trong các trường Đại học, Cao
đẳng nhằm giải quyết nhiệm vụ giáo dục: Trang bị kiến thức, kỹ năng và rèn
luyện thể lực của sinh viên, giáo dục đạo đức Xã hội Chủ nghĩa, cung cấp cho
sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và phương pháp tập luyện
TDTT, góp phần duy trì và cung cấp sức khoẻ cho sinh viên” [8].
Thực hiện tốt công tác GDTC cho học sinh các cấp từ mầm non đến đại
học trong hệ thống giáo dục quốc dân (công lập và ngoài công lập) là việc làm
đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược con người chuẩn bị hành trang
cho thế hệ trẻ bước vào thế kỷ 21. Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu của
mọi người nói chung và là mục tiêu của mỗi Quốc gia cần đạt được trong quá
trình giáo dục học sinh; là vốn quý để tạo ra tài sản trí tuệ và vật chất cho xã hội.
Vì vậy, chăm lo về thể chất cho học sinh trong nhà trường là trách nhiệm của
toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các đoàn thể trong đó Bộ Giáo dục và Đào
tạo, Uỷ ban TDTT và Bộ Y tế là những bộ phận thường trực.
Để thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã ban hành Thông tư số 11/TT- GDĐT ngày 01 tháng 08 năm 1994 về việc “
Hướng dẫn thực hiện chỉ thị số 36/CT-TW về công tác TDTT trong giai đoạn
mới của ngành Giáo dục và Đào tạo, nhận thức cơ chế quản lý, chế độ chính
11
sách và những điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất, kinh phí cho công tác GDTC”
và thông tư của Thủ Tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển
ngành TDTT nội khoá, ngoại khoá, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho học sinh,
sinh viên các cấp học, về điều tra cơ bản và quy hoạch đảm bảo cán bộ và cơ sở
vật chất, kinh phí cho công tác GDTC trong học sinh, sinh viên; Tăng cường
tuyên truyền sâu rộng tới đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, học sinh,

Để công tác GDTC đạt hiệu quả thì việc giảng dạy cần phải tuân thủ các
nguyên tắc chung vể GDTC, đó là: Nguyên tắc phát triển hợp lý con người toàn
diện và cân đối; nguyên tắc TDTT kết hợp và phục vụ cho lao động quốc phòng.
Các nguyên tắc về phương pháp GDTC, đó là: Nguyên tắc tự giác tích
cực; Nguyên tắc tăng dần các yêu cầu, nguyên tắc đối đãi cá biệt, nguyên tắc hệ
thống, nguyên tắc trực quan.
1.3.2. Bản chất và nội dung cơ bản của quá trình dạy học.
Quá trình đào tạo ở nhà ttrường phải là quá trình tổng thể hay còn giọ là
quá trình giáo dục theo nghĩa rộng. Quá trình sư phạm là quá trình tác động có
mục đích, có kế hoạch, tổ chức, các phương pháp, phương tiện có hướng dẫn
nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người, đáp ứng được yêu cầu của
xã hội, thực hiện có hiệu quả mục đích của giáo dục.
Quá trình sư phạm được chia thành hai quá trình sư phạm bộ phận ( dạy
học và giáo dục). Dạy học là nhằm trao đổi học vấn ( giáo dưỡng) và trang bị trí
thức, kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh, quá trình giáo dục chủ yếu là nhằm hình
thành lý tưởng, niềm tin đạo đức cho học sinh. Hai quá trình này có quan hệ mật
thiết với nhau và đều có mục đích đào tạo con người mới, những cán bộ tương
lai, vừa có tài, vừa có đức, sáng tạo trong công viêc. Vậy nên, trong giảng dạy
các phương pháp sử dụng phải căn cứ vào thực tế, mục đích, nhiệm vụ đào tạo.
Quá trình dạy học là bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể,. Dạy và học
là hai mặt không thể tách rời của quá trình dạy học, chúng phải thống nhất biện
chứng với nhau. Hoạt động của người thầy nhằm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức, điều
khiển, điều chỉnh quá trình nắm tri thức kỹ năng, kỹ xảo và nghiên cứu khoa học
13
của học sinh. Người thầy giáo dạy đại học phải là nhà sư phạm, nhà khoa học,
nhà hoạt động chính trị - xã hội.
Học là một hoạt động của học sinh, đây là quá trình mang tính tự giác,
tích cực, chủ động, sáng tạo, huy động mọi chức năng tâm sinh lý, cảm giác, tri
giác, tư duy, tưởng tượng, ngôn ngữ, tư duy, tình cảm, hành động thực tiễn xã
hội và nghiên cứu khoa học. Học tập của sinh viên đại học khác với học sinh

của sự phát triển chính là việc giải quyết tốt các mâu thuẫn nảy sinh đó. Vậy đâu
là động lực bên ngoài, đâu là động lực bên trong?
Động lực bên ngoài của dạy học bao gồm việc xác định vị trí ngành nghề
mà sinh viên lựa chọn, động cơ, thái độ học tập, việc tuyên truyền, đôn đốc,
kiểm tra, biểu dương, khen thưởng… của nhà trường, gia đình và xã hội. Trong
thực tiễn dạy học nhiều thầy cô giáo đã biết khai thác tốt yếu tố này để thúc đẩy
sinh viên tích cực học tập. Nhưng đây cũng chỉ là yếu tố bên ngoài quyết định
kết quả của quá trình dạy học.
Thực tế nguồn gốc sâu xa cho sự phát triển lại là sự biến đổi của các yếu
tố bên trong, những mâu thuẫn nội lại sảy sinh trong quá trình dạy học như: Mâu
thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, giữa trình độ và yêu cầu, giữa tri thức và
chức năng…, mới là động lực thực sự thúc đẩy quá trình dạy học.
Như vậy quá trình dạy ở Đại học là một quá trình liên tục giải quyết các
mâu thuẫn bên trong và bên ngoài để dẫn đường cho sinh viên đi từ cái biết ít
đến biết nhiều, từ chưa biết đến đã biết, từ biết chưa đầy đủ đến biết đầy đủ và
chính xác hơn… Nhiệm vụ của người thầy là phải biết, hiểu và vận dụng tối đa,
cân đối hài hoà các động lực, nhất là phải biết đến những yêu cầu khách quan
thành những mâu thuẫn nội của sinh viên, biến quá trình bị chỉ đạo thành tự chỉ
đạo bản thân, biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo, tự học tập, học xuốt đời
cho sinh viên.
1.3.3. Phương pháp đánh giá chất lượng GDTC đối với sinh viên
Giáo dục thể chất là một bộ phận, một khâu quan trọng trong việc giáo
dục toàn diện cho thế hệ trẻ Việt Nam. Xuất phát từ mục tiêu và nhiệm vụ cơ
15
bản của các mặt giáo dục chung đòi hỏi việc đánh giá chất lượng giáo dục được
xác định như lăng kính phản ánh mục tiêu, nhiệm vụ, chương trình đào tạo.
GDTC là một quá trình giáo dục mà đặc điểm đặc trưng là giảng dạy động
tác và giáo dục các phẩm chất thể lực, là một quá trình giáo dục có tổ chức, có
mục đích, có kế hoạch truyền thụ những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo … từ thế hệ
này sang thế hệ khác, là quá trình sư phạm với đầy đủ các đặc điểm của nó, nó

Trong nghiên cứu về khuynh hướng hiện đại của GDTC trong các trường
Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp nhiều tác giả đã đề cập tới các
vấn đề tăng cường chất lượng giáo dục, văn hoá thể chất trong khâu dạy học và
học thể dục thể thao bằng các giải pháp:
- Chú trọng về khâu giáo dục nhận thức, hiểu biết.
- Năng lực vận dụng vào thực tiễn hoạt động tự chăm lo sức khoẻ, rèn
luyện thân thể hàng ngày.
Trên cơ sở nhận định những khoa học lý luận GDTC, chỉ rõ tầm quan
trọng của việc giáo dục, các tác giả đã đề cập một cách có hệ thống những tri
thức cơ bản dựa theo chương trình GDTC đã được cải tiến nhằm giúp cho giáo
viên và học sinh, sinh viên trong việc dạy học cũng như đánh giá chất lượng thể
chất.
Kỹ năng thực hành:
Trong quá trình học tập, tập luyện các kỹ năng vận động cũng như kỹ xảo
cận động được hình thành là kết quả của quá trình tiếp thu các động tác.
Kỹ năng vận động thể hiện tiêu biểu bằng sự tiếp thu kỹ thuật động tác ở
mức độ phải tập chung ý thức cao vào các bộ phận tạo thành động tác và ở các
cách thức chưa ổn định khi giải quyết các nhiệm vụ vận động.
Khi tập luyện, động tác được lặp đi, lặp lại nhiều lần các bộ phận cấu
thành động tác đó ngày càng trở lên quen thuộc, các cơ chế phối hợp vận động
diễn ra được tự động hoá và kỹ năng vận động trở thành kỹ xảo. Vì vậy, “ kỹ
xảo vận động thể hiện tiêu biểu bằng sự tiếp thu kỹ thuật động tác ở mức độ điều
17
khiển động tác xảy ra một cách tự động và động tác tiến hành tới mức vững chắc
cao” [71].
Vì vậy, khả năng thực hành được hiểu như mức độ đánh giá nhất định (kỹ
năng hoặc kỹ xảo) việc thực hiện các động tác kỹ thuật. khả năng thực hành phụ
thuộc vào nhiều yếu tố. Trình độ của học sinh, sinh viên, điều kiện học tập,
trang thiết bị, dụng cụ, sân bãi. Chế độ học tập phong trào thể thao quần chúng
trong học sinh, sinh viên cũng như nhận thức của họ trong việc chuyển hoá các

Trung học chuyên nghiệp. Ngày 24 tháng 06 năm 1971, Bộ Đại học và Trung
học chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) ra Chỉ thị số 14/TD-QS về
việc thực hiện tiêu chuẩn thân thể theo lứa tuổi, giới tính và quy định sinh viên
tốt nghiệp Đại học phải đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cấp II.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển thể lực cho học sinh phù hợp với từng giai
đoạn của đất nước, Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp đã ban hành Quyết
định số 203/QĐ-TDTT ngày 23 tháng 01 năm 1989 và các văn bản pháp quy
khác về nội dung tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo năm học, giới tính cho học
sinh, sinh viên. Nội dung của tiêu chuẩn cho học sinh các trường trung học phổ
thông bao gồm: Yêu cầu học sinh phải đạt các nội dung tiêu chuẩn theo từng
năm học.
Căn cứ vào mục đích, yêu cầu của chương trình GDTC theo Quyết định
203/QĐ-TDTT ngày 23 tháng 01 năm 1989 của Bộ Đại học và Trung học
Chuyên nghiệp, việc đánh giá chất lượng GDTC cho học sinh, sinh viên phải
được tiến hành với các nội dung sau.
- Kiến thức lý luận GDTC được quy định theo chương trình.
- Kỹ năng thực hiện các môn thể thao.
- Thực hiên các chỉ tiêu thể lực theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo
năm học. Trong đó nội dung thực hiện các chỉ tiêu thể lực theo tiêu chuẩn rèn
luyện rèn luyện thân thể là một yêu cầu bắt buộc và quan trọng trong việc nâng
cao thể lực và chất lượng GDTC trong các trường học trên toàn quốc.
19
Để có cơ sở trong việc đánh giá thể lực cho học sinh, sinh viên, năm 2008
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 53/2008/QĐ-BDGĐT ngày
18 tháng 09 năm 2008 của Bộ Trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành Quy
định về việc đánh giá, xếp loại thể lực cho học sinh, sinh viên [64].
Nội dung và phương pháp đánh giá thể chất:
Thể chất của con người gồm thể trạng (tình trạng sức khoẻ và hình thái cơ
thể) và thể lực (thể hiện qua các tố chất thể lực cơ thể như: Sức mạnh, sức
nhanh, sức bên…) Bởi vậy theo các chuyên gia sức khoẻ và các nhà sinh lý thể

trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội như sau:
1. Kết quả phân loại sức khoẻ của y tế: Sức khoẻ loại I, loại II.
2. Về hình thái cơ thể: Kiểm tra chiều cao, cân nặng.
3. Các tố chất thể lực:
- Đánh giá sức nhanh: Chạy xuất phát cao 30m, chạy 100m.
- Đánh giá sức mạnh: Bật xa tại chỗ, lực bóp tay thuận.
- Sức bền: Chạy tuỳ sức 5’, chạy 1500m (nam), 800 (nữ).
- Khả năng phối hợp vận động: Ép dẻo gập thân, chạy con thoi 4x10m.
1.4. Một số nghiên cứu về các nội dung liên quan đến GDTC sinh
viên.
Công tác GDTC ảnh hưởng vô cùng to lớn tới năng lực thể chất của con
người. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ, công tác giáo
dục cho học sinh, sinh viên đã trở thành một khâu quan trọng, thu hút sự tập
chung chú ý của nhiều nhà khoa học TDTT. Đặc biệt cuối thế kỷ XX hàng ngàn
công trình nghiên cứu về nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện tổ chức
quản lý… Công tác giáo dục ở các cấp hình thành nên một hệ thống khá hoàn
chỉnh về cơ cấu, nội dung và hình thức GDTC.
Hiện nay công tác GDTC trong nhà trường ở hầu hết các nước đã trở
thành một môn học bắt buộc đối với học sinh, sinh viên.
Đối với nước ta, công tác GDTC cho sinh viên được Đảng, Nhà nước hết
sức quan tâm, điều đó thể hiện rõ trong chương III pháp lệnh thể dục thể thao;
21
trong hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ( điều 41 và điều
43) [29] và trong luật TDTT [41].
Song do điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam có sự khác biệt đáng kể so
với các nước trên thế giớ, do sự mới mẻ của công tác này ở Việt Nam, nên khi
triển khai công tác GDTC đã gặp không ít khó khăn bỡ ngỡ, đứng trước tình
hình đó, Đảng và Nhà nước mà trực tiếp là Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hoá
Thể thao và Du lịch đã có những chỉ đạo sát sao đối với công tác TDTT, nhất là
với thế hệ trẻ học sinh, sinh viên. Mặt khác, cũng từ thực tiễn đó đã cuốn hút

- Tác giả Nguyễn Quang Huy xây dựng chương trình môn học thể dục
phần tự chọn cho sinh viên trường mỏ địa chất (1998) [33].
- Tác giả Bùi Hoàng Phúc nghiên cứu cải tiến xây dựng chương trình môn
học tự chọn giai đoạn II của chương trình GDTC cho nữ sinh các trường Đại học
Sư phạm (1998) [54].
- Tác giả Trần Văn Tác nghiên cứu cải tiến chương trình GDTC cho sinh
viên các trường Đại học Nông – Lâm – Ngư nghiệp theo định hướng nghề
nghiệp ( 1998) [70].
3. Đánh giá hiện trạng thể chất sinh viên, người lao động và phương
pháp kiểm tra đánh giá: Các nghiên cứu đã tập chung vào nghiên cứu về thực
trạng và đặc điểm thể chất sinh viên và thể chất nhân dân, về các tố chất vận
động, phương pháp đánh giá thể lực cũng như kiểm tra đánh giá môn học GDTC
gồm có:
+ Đánh giá tổng thể :
- Tác giả Lưu Quang Hiệp, Nguyễn Thanh Nhàn: Đặc điểm thể chất của
học sinh phổ thông miền Bắc Việt Nam lứa tuổi 16 – 18 vào những năm cuối thế
kỷ XX ( 2000) [35].
- Tác giả Lê Văn Lẫm và cộng sự: Thực trạng thể chất sinh viên trước
thềm thế kỷ 21 ( 2000) [42].
23
- Tác giả Lê Văn Lẫm: Nghiên cứu đặc điểm phát triển thể lực của những
người trong độ tuổi lao động (2003) [43].
- Tác giả Trần Nguyên Đán: Xây dựng chỉ số đánh giá trình độ phát triển
thể lực cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Nhạc họa Trung ương (1999)
[26].
- Tác giả Hoàng Thị Đông: Nghiên cứu mối tương quan giữa trí tuệ với
kết quả học tập của sinh viên trường CĐSPTDTWI (2001) [28].
- Tác giả Hồ Đắc Sơn, Vũ Đức Thu: Nghiên cứu thực trạng thể lực của
sinh viên ĐHSP Hà Nội (2003) [67].
- Tác giả Hồ Đắc Sơn: Bảo đảm tính khách quan nguyên tắc cơ bản nhất

- Tác giả: Nguyễn Thị Uyên: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số bài tập
thể dục nghề nghiệp nhằm nâng cao khả năng học tập cho nữ sinh viên Đại học
Sư phạm (2000) [51].
- Tác giả: Phạm Hồng Phú: Kết quả thực nghiệm phương pháp thể dục
tổng hợp cổ truyền của trường Đại học Dân lập quản trị Kinh doanh (2000) [53].
- Tác giả Kiều Tất Vinh: Nghiên cứu hệ thống giải pháp cơ bản nhằm
nâng cao hiệu quả giảng dạy thực hành cho sinh viên trường đại học Sư phạm
TDTT Hà Tây (2004) [97].
Các công trình nghiên cứu về thực trạng, sự phát triển thể chất sinh
viên, thể chất nhân dân, người lao động. Về chương trình, các giải pháp,
phương pháp kiểm tra đánh giá… rất đa dạng, phong phú, với quy mô khác
nhau, nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực, địa bàn khác nhau tại nhiều trường Đại
học, Cao đẳng trên toàn quốc. Qua tham khảo một số công trình trên, đề tài đã
bổ sung thêm các kiến thức phục vụ cho quá trình nghiên cứu, tạo cơ sở lý
luận để đề tài hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu. Nhất là cách thức tiến
hành, các test đánh giá thể lực, các giải pháp … mà một số công trình khoa
học trước đây đã sử dụng.
25

Trích đoạn Phương pháp kiểm tr ay học. Kết quả đánh giá của cán bộ quản lý, giáo viên TDTT về yêu cầu, nhiệm vụ vàthực trạng công tác GDTC của nhà trường. Thực trạng chương trình GDTC và hoạt động thể thao cho sinh viên trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội. Tổ chức hoạt động giảng dạy và hoạt động thể thao phong trào. Thực trạng phân loại sức khoẻ của sinh viên trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status