MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 1
2.1.1. Giai đoạn thăm dò 1988 – 1993 8
CHƯƠNG 3. TRIỂN VỌNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA
NHẬT BẢN TẠI VIỆT NAM 32
NĂM LÀ, CHUYỂN DẦN THU HÚT FDI HƯỚNG VÀO ĐÀO TẠO, PHÁT
TRIỂN VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC CÓ KỸ NĂNG, CÓ TAY NGHỀ
CAO. PHẤN ĐẤU TRÊN 75 % LAO ĐỘNG CÓ TAY NGHỀ CAO VÀ ĐÃ
QUA ĐÀO TẠO 38
KẾT LUẬN 39
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới và hội nhập kinh tế quốc tế
diễn ra ngày càng sâu rộng, đã và đang mang lại những cơ hội tốt cùng với những
thách thức không nhỏ cho mỗi quốc gia trong thời gian qua, đòi hỏi mỗi quốc gia
cần phải chủ động và tích cực tham gia để khai thác hiệu quả các lợi thế của đất
nước, học hỏi kinh nghiệm, để hoàn thành các mục tiêu đề ra, đạt được vị trí thuận
lợi. Điều đó có nghĩa là mỗi quốc gia cần phải phát triển mạnh mẽ và có hiệu quả
các quan hệ kinh tế quốc tế, bao gồm thương mại quốc tế, các dịch vụ quốc tế, hợp
tác quốc tế và đặc biệt nhất là đầu tư quốc tế.
Hiện nay, kinh tế Việt Nam đã và đang có những bước chuyển biến tích cực,
từng bước tham hội nhập và toàn diện vào nền kinh tế thế giới, đặc biệt sau sự kiện
gia nhập WTO. Hiện tại, Việt Nam đã và đang có mối quan hệ kinh tế, thương mại,
đầu tư với nhiều nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong số các đối tác này, Nhật
Bản nổi lên là một quốc gia có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế
của Việt Nam.
Xét riêng về khía cạnh quan hệ đầu tư, từ khi Việt Nam mở của nền kinh tế,
Nhật Bản là một trong các quốc gia đầu tiên đầu tư vào Việt Nam và FDI của Nhật
Bản luôn được đánh giá cao về chất lượng và tính ổn định.
Nguồn vốn FDI từ Nhật Bản tuy ở một thứ hạng cao trong danh sách các
Bản vào Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động FDI Nhật Bản vào Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là dòng vốn FDI Nhật Bản vào Việt Nam từ
năm 1988 đến năm 2012.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong bài viết có sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu khoa học
như quy nạp, diễn dịch và định tính có kết hợp với nghiên cứu một số trường hợp
điển hình.
Nguồn thông tin và số liệu trong bài viết được thu thập các công trình
nghiên cứu các báo cáo, thống kê từ Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Công Thương,
Tổng cục Thống kê, UNTAD
5.Bố cục của bài viết
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
bài viết bao gồm 3 chương như sau:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thu hút FDI của Nhật
2
Bản vào Việt Nam
Chương 2. Thực trạng hoạt động thu hút FDI của Nhật Bản tại Việt
Nam
Chương 3. Triển vọng về đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản tại
Việt Nam.
3
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ VÀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI
Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, hoạt động đầu tư nước ngoài nóichung
và hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng đang diễn ra hết sức mạnh mẽ.
Nhưng đối với Việt Nam, đầu tư nước ngoài vẫn còn là một vấn đềhết sức mới mẻ .
Do vậy để có một cái nhìn tổng thể, khai thác được nhữngmặt tích cực và hạn chế
một khái niệm tổng quát về FDI không phải là dễ. Xuất phát từ nhiều khía cạnh, góc
độ, quan điểm khác nhau trên thế giới đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về FDI.
- Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) (1977):
"Đầu tư trực tiếp ám chỉ số đầu tư được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài
trong một hãng hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư,
mục đích của nhà đầu tư là giành được tiếng nói có hiệu quả trong công việc quản
lý hãng đó".
- Theo luật Đầu tư nước ngoài của Liên Bang Nga (04/07/1991"Đầu tư trực
tiếp nước ngoài là tất cả các hình thức giá trị tài sản và những giá trị tinh thần mà
nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các đối tượng sản xuất kinh doanhvà các hoạt
động khác nhằm mục đích thu lợi nhuận".
Như vậy, mặc dù có rất nhiều quan điểm khác nhau khi đưa ra khái niệm về
FDI, song ta có thể đưa ra một khái niệm tổng quát nhất, đó là:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức mà nhà đầu tư bỏ vốn để tạo lập cơ
sở sản xuất kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư. Trong đó nhà đầu tư nước ngoài
có thể thiết lập quyền sở hữu từng phần hay toàn bộ vốn đầu tư và giữ quyền quản
lý, điều hành trực tiếp đối tượng mà họ bỏ vốn nhằm mục đích thu được lợi nhuận
từ các hoạt động đầu tư đó trên cơ sở tuân theo quy định của Luật Đầu tư nước
ngoài của nước sở tại.
1.2.2. Đặc điểm và môi trường của đầu tư trực tiếp nước ngoài.
•Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm cơ bản sau:
5
- Hoạt động FDI không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận đầu tư mà còn có cả
công nghệ, kỹ thuật, bí quyết kinh doanh, sản xuất, năng lực Marketing, trình độ
quản lý Hình thức đầu tư này mang tính hoàn chỉnh bởi khi vốn đưa vào đầu tư thì
hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành và sản phẩm được tiêu thụ trên thị
trường nước chủ nhà hoặc xuất khẩu. Do vậy, đầu tư kỹ thuật để nâng cao chất
lượng sản phẩm là một trong những nhân tố làm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm
trên thị trường. Đây là đặc điểm để phân biệt với các hình thức đầu tư khác, đặc biệt
nhà, bởi nhà ĐTNN chịu trách nhiệm trực tiếp trước hoạt động sản xuất kinh doanh
của họ. Trong khi đó, hoạt động ODA và ODF ( Official Development Foreign)
thường dẫn đến tình trạng nợ nước ngoài do hiệu quả sử dụng vốn thấp.
• Môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI )tại Việt Nam.
Nước ta mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài muộn hơn các nước trong khu
vực, hệ thống luật đầu tư nước ngoài ra đời muộn hơn. Nhưng tương đối đầy đủ và
không kém phần hấp dẫn so với các nước trong khu vực. Luật đầu tư nước ngoài
của Việt Nam được ban hành từ năm 1987, đây là một mốc quan trọng đánh dấu
quá trình mở cửa nền kinh tế, đa dạng hoá đa phương hoá quan hệ đối ngoại của
nước ta. Trước đó năm 1977 Chính phủ ban hành một nghị định về đâu tư trực tiếp
nước ngoài. Song quá trình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ thực sự kể từ khi
luật đầu tư nước ngoài được ban hành. Luật đầu tư nước ngoài được ban hành dựa
trên kinh nghiệm và luật pháp của một số nước phát triển cùng với các điều kiện và
đặc điểm từng vùng của Việt Nam.
7
CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG FDI CỦA NHẬT BẢN TẠI
VIỆT NAM
2.1.Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản vào
Việt Nam qua các giai đoạn.
Từ năm 1986, Việt Nam đã chính thức bước vào công cuộc đổi mới mở cửa
nền kinh tế, thực hiện chủ trương đa dạng hoá, đa phương hoá các mối quan hệ kinh
tế quốc tế, tận dụng nguồn vốn bên ngoài để phát triển đất nước. Và đặc biệt khi
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành vào ngày 29/12/1987 quá trình
thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI nói chung và vốn FDI của Nhật Bản nói riêng tại
Việt Nam đã có những bước chuyển biến tích cực. Tình hình vốn FDI của Nhật vào
Việt Nam từ những ngày đầu cho đến nay có thể được chia ra làm 4 giai đoạn: giai
đoạn thăm dò 1988-1993; giai đoạn bùng nổ 1994-1997; giai đoạn suy thoái 1998-
2002; giai đoạn phục hồi và phát triển mạnh mẽ từ 2003 đến nay.
2.1.1. Giai đoạn thăm dò 1988 – 1993
Đây được coi là giai đoạn mở đầu khi các nhà đầu tư Nhật Bản mới chỉ dè
vốn đăng ký, tăng hơn 3 lần so với năm 1992, năm được coi là đỉnh cao của FDI
Nhật Bản trong giai đoạn trước. Năm 1995, FDI Nhật Bản vào Việt Nam tiếp tục
tăng vọt, đạt trên 1,2 tỷ USD vốn đăng ký, cao nhất kể từ thời kì đầu cho tới hết 10
năm sau đó, với 65 dự án được cấp phép đầu tư. Trong hai năm cuối của thời kì,
FDI của Nhật Bản vào Việt Nam tuy có giảm sút hơn nhưng vẫn đạt được những
con số đáng nể. Năm 1996, tổng vốn đăng ký đạt 788,9 triệu USD với 72 dự án
được cấp phép, những con số tương ứng năm 1997 là 606 triệu USD và 54 dự án
được cấp phép.
Bảng 2- . Dòng FDI từ Nhật Bản vào Việt Nam, giai đoạn 1994-1997
Năm 1994 1995 1996 1997
Số dự án đầu tư 35 65 72 54
Vốn đăng ký (triệu USD ) 347 1200 788,9 606
(Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài)
Những con số đáng kể trên đã nâng tầm Nhật Bản dần trở thành một trong
những nhà đầu tư quan trọng hàng đầu vào Việt Nam. Năm 1995, Nhật Bản là nhà
9
đầu tư đứng thứ 3 ở Việt Nam, sau Đài Loan và Hồng Kông. Những tổ chức xúc
tiến thương mại và đầu tư của Chính phủ Nhật Bản như Tổ chức xúc tiến thương
mại Nhật Bản (Jetro), Văn phòng hợp tác quốc tế Nhật Bản (Jica) lần lượt khai
trương các văn phòng đại diện tại Việt Nam. Phó tổng vụ trưởng Vụ chính sách
thương mại, bộ kinh tế thương mại Nhật Bản, ông Yoshihiko Sumi cho biết: “Thời
gian này, người Nhật Bản coi Việt Nam là một hiện tượng”. Sự bùng nổ này một
phần là nhờ những chuyển biến tích cực của tình hình quốc tế, trong đó đáng chú ý
là Mỹ bỏ lệnh cấm vận với Việt Nam (2/1994) và sự gia tăng của xu hướng đồng
Yên lên giá buộc các công ty Nhật Bản phải xúc tiến đi tìm một thị trường khác với
chi phí sản xuất rẻ hơn để đầu tư. Đó còn là nhờ những thành quả bước đầu trong
công cuộc chuyển mình của Việt Nam từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh
tế thị trường nhằm nỗ lực cải thiện hình ảnh của mình trong mắt các nhà đầu tư. Đồng
thời, sự kiện Việt Nam gia nhập ASEAN vào ngày 28/7/1995 sau khi bình thường
hoá quan hệ với Mỹ đã làm dấy lên kì vọng của các nhà đầu tư Nhật Bản vào một thị
chính phủ Nhật tiến hành điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài trong giai đoạn
này làm cho dòng FDI của Nhật Bản tới hầu hết các nước suy giảm nghiêm trọng,
trong đó có cả Việt Nam.
Tuy nhiên, đây không phải là nguyên nhân chính làm hoạt động FDI của
Nhật Bản ở Việt Nam giảm sút mà còn do những nhận định của các nhà đầu tư Nhật
Bản về điều kiện nội tại của nền kinh tế Việt Nam và môi trường đầu tư kém hấp
dẫn so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Theo quan điểm của nhiều
chuyên gia kinh tế, cuộc khủng hoảng này tuy có tác động đến Việt Nam nhưng
cũng tạo ra thời cơ trong việc thu hút nguồn vốn quốc tế khi các nước khác trong
khu vực đang phải đối phó với những biến động kinh tế nhưng luật đầu tư nước
ngoài sửa đổi năm 1996 lại không tạo điều kiện để khai thác được những lợi thế
này. Do đó, Việt Nam không đón bắt được cơ hội thu hút dòng vốn FDI từ Nhật
Bản.
Nhìn chung, những diễn biến về FDI của Nhật Bản trong thời kì này cũng
giống như xu hướng của dòng FDI nói chung vào Việt Nam, đều có biểu hiện
chững lại hay giảm sút. Điều này tiếp tục cho thấy sự nhạy bén của các nhà đầu tư
Nhật Bản trong nắm bắt tình hình để giữ an toàn cho nguồn vốn của họ, đặc biệt là
những quan tâm sâu sắc về môi trường đầu tư của nước chủ nhà trong quá trình tìm
11
hiểu và tiến hành đầu tư.
2.1.4. Giai đoạn phục hồi và phát triển mạnh mẽ từ năm 2003 đến nay
Đây được coi là giai đoạn các nhà đầu tư Nhật Bản chú ý trở lại thị trường
Việt Nam. Dòng FDI của Nhật Bản vào Việt Nam từng bước hồi phục và tăng
trưởng mạnh mẽ, đạt được những con số đáng kể.
Năm 2003, tổng vốn FDI của Nhật Bản vào Việt Nam tăng gần gấp đôi so
với mức 163 triệu USD vào năm 2002, đạt 324 triệu USD. Đến năm 2004, con số
này đã tăng lên gấp hơn 2,5 lần so với năm 2003. Năm 2005, vốn đầu tư của Nhật
Bản tiếp tục tăng lên 960 triệu USD với 119 dự án mới.
Vào năm 2009, có 43 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt
Nam, Nhật Bản chỉ đứng thứ 9 với tổng vốn đăng ký là 372,7 triệu USD chiếm
pháp, xoá bỏ việc phân biệt giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, tạo tâm lý
bình đẳng hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Đồng thời, việc phân cấp cho chính
quyền tỉnh, thành phố thẩm định và cấp phép, quản lý nhà nước các doanh nghiệp
FDI đã hình thành phong trào thi đua cải thiện thủ tục và môi trường đầu tư giữa
các địa phương. Một lý do quan trọng trong thời gian gần đây là do đồng Yên bắt
đầu suy yếu, nếu không đầu tư ra nước ngoài thì sẽ tạo ra nhiều nguy cơ cho giá trị
của đồng Yên, chính vì vậy mà các doanh nghiệp Nhật Bản phải tìm cách đầu tư ra
nước ngoài. Thêm một lý do khác, việc căng thẳng gia tăng trong tranh chấp lãnh
thổ giữa Nhật Bản và Trung Quốc vì quần đảo Senkaku (tiếng Trung Quốc là đảo
Điếu Ngư) năm nay, như một nghịch lý, đã có tác động tích cực đến nền kinh tế
Việt Nam và góp phần làm tăng dòng vốn đầu tư nước ngoài vào nước này. Tinh
thần bài Nhật ở Trung Quốc đã làm ảnh hưởng không ít đến kinh doanh của người
Nhật, và bây giờ họ chú trọng hơn đến Việt Nam. Theo đánh giá của nhiều chuyên
gia, các nhà đầu tư Nhật Bản đang chú ý nhiều hơn tới thị trường Việt Nam, bắt đầu
xem nước ta là điểm đến thứ hai bên cạnh Trung Quốc và đây không chỉ đơn thuần
13
là sự phân tán rủi ro đầu tư của Nhật Bản ở Trung Quốc mà là do môi trường đầu tư
của Việt Nam ngày càng trở lên hấp dẫn hơn.
2.2. Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.
2.2.1. Cơ cấu theo ngành
Nền kinh tế Nhật Bản có đặc thù là một nền kinh tế hướng ngoại với cơ cấu
công nghiệp hoàn chỉnh. Vì vậy, FDI của Nhật có mặt trong tất cả các ngành, lĩnh
vực của nền kinh tế nước ta từ công nghiệp, nông, lâm, ngư nghiệp, xây dựng và
dịch vụ.
Nhìn vào giai đoạn trước, ta thấy Nhật Bản quan tâm nhiều đến các dự án
khai thác tài nguyên thiên nhiên và các dự án phát triển dịch vụ. Nhật Bản là một
nước nghèo về tài nguyên thiên nhiên, đây là lý do khách quan thúc đẩy các công ty
Nhật Bản thực hiện chiến lược phát triển hướng ngoại trên cơ sở nhập nguyên liệu.
Trong những thập kỷ 70 – 80, Nhật Bản đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường
do hậu quả của quá trình công nghiệp hoá. Vì vậy, chiến lược đầu tư của Nhật Bản
GTVT-Bưu điện 21 - 636,8 - -
Khách sạn du lịch 104 5 1.954,1 184,6 9,45
Dịch vụ 127 12 729,6 34,6 4,74
Tài chính-Ngân hàng 15 - 176,6 34,6 4,74
Các ngành khác 51 - - - -
Tổng số 930 66 9066,4 528,8 5,5
(Nguồn: Uỷ ban hợp tác đầu tư)
Không giống như các giai đoạn trước hiện nay vốn đầu tư của Nhật Bản tập
trung chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm hơn 89% tổng
dòng vốn đăng ký. Theo Cục đầu tư nước ngoài, tính đến trung tuần tháng
11/2012, trong số khoảng 1.700 dự án của doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam
trải trên nhiều lĩnh vực như tài chính ngân hàng, xây dựng cơ sở hạ tầng thì công
nghiệp chế biến chế tạo - lĩnh vực đang được Việt Nam khuyến khích chiếm
khoảng 990 dự án, với tổng vốn đầu tư khoảng 23,3 tỷ USD, chiếm 81% tổng
vốn đầu tư từ Nhật Bản vào Việt Nam.
Hình 2- 1: Cơ cấu FDI theo ngành của Nhật Bản vào Việt Nam (tính theo tổng
vốn đăng ký) đến năm 2012 (%)
15
(Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài)
Hàng loạt các tập đoàn, công ty lớn của Nhật Bản đã xây dựng nhà máy ở
Việt Nam như Toyota, Honda, Panasonic, Canon, tập đoàn sản xuất cao su và lốp
xe lớn nhất thế giới Bridgestone, tập đoàn sản xuất vật liệu xây dựng lớn nhất của
Nhật Bản Lixil
2.2.2. Cơ cấu theo địa phương
Cơ cấu FDI theo vùng, lãnh thổ đã có chuyển biến tích cực. Thời gian đầu,
FDI chủ yếu tập trung vào các tỉnh phía Nam, đến nay đã có sự quan tâm hơn đối
với khu vực miền Bắc, có tới 28/62 tỉnh thành trong cả nước có các dự án đầu tư
của Nhật Bản đang được tiến hành thực hiện. Đây là những tỉnh thành có cơ sở hạ
tầng (cả cứng và mềm) thuận lợi tương đối hơn so với các địa phương khác và có
nguồn lực được đào tạo có tay nghề như ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng,
Bảng 2- 5. Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản tại Việt Nam phân theo vùng lãnh thổ
(tính đến năm 2012)
Địa phương Số dự án Tỷ trọng
TP. Hồ Chí Minh 495 28,2%
Hà Nội 457 26%
Bình Dương 179 10,2%
Đồng Nai 124 7,1%
Hải Phòng 90 5,1%
Hưng Yên 51 2,9%
Bắc Ninh 49 2,8%
Hải Dương 46 2,6%
Đà Nẵng 40 2,3%
(Nguồn: Bộ Kế hoạch & Đầu tư)
Qua bảng 2.5 ta thấy, Nhật Bản vẫn chủ yếu đầu tư nguồn vốn FDI vào các
tỉnh thành phố lớn gây ra sự phát triển mất cân đối giữa các vùng trong cả nước.
Nhà nước cần có những giải pháp thích hợp để khắc phục tình trạng này.
Năm 2011, thành phố Hồ Chí Minh luôn là địa bàn dẫn đầu cả nước về cả
quy mô và số lượng dự án đầu tư, thu hút tới hơn 16% tỷ trọng vốn ở cả hai thời
kỳ. Tiếp đến là Bà Rịa – Vũng Tàu, Hà Nội, Đồng Nai và Bình Dương. Chỉ tính
riêng 5 địa phương này trong cả 2 thời kỳ đã chiếm tới gần hơn 55% tổng luồng
vốn, hơn 70% tổng số các dự án FDI Nhật Bản vàoViệt Nam.
Năm 2012, các dự án đầu tư của Nhật Bản có mặt tại 48 tỉnh, thành phố Hồ
Chí Minh tiếp tục dẫn đầu, tiếp sau đó là Hà Nội, Bình Dương có dự án khu đô thị
Tokyu Bình Dương do nhà đầu tư Nhật Bản đầu tư tại Bình Dương với tổng vốn
đầu tư đăng ký 1,2 tỷ USD, hay ở Hải Phòng có một số dự án lớn như dự án Nhà
máy Sản xuất lốp xe ô tô (công suất 24.700 chiếc/ngày) của Bridgestone
Corporation, vốn đầu tư 574,8 triệu USD, sử dụng 102 ha đất tại KCN Đình Vũ, dự
án Sản xuất thuốc tiêu chuẩn cao Nipro Pharma Corporation (công suất hàng năm:
20 triệu túi dịch truyền, 40 triệu ống thuốc tiêm, 2 tỷ viên thuốc uống…), vốn đầu
tư 250 triệu USD, sử dụng 15 ha đất tại KCN VSIP, dự án Sản xuất máy in, máy
Số dự
án
Tỷ lệ
Tổng vốn
đăng ký
Tỷ lệ
Vốn thực
hiện
Tỷ lệ
Vốn
pháp
định
Tỷ lệ
Liên doanh 138 46,1 2.250,5 58,4 1.362,4 57,4 918,1 49,1
19
100% vốn Nhật bản 249 49,8 1.205,2 31,2 550,6 23,2 597,7 30,2
Hợp đồng hợp tác
12 4,1 69,6 10,4 457,5 19,4 369,9 20,7
Tổng số 299 100 3.825,6 100 2.370,5 100 1.913,1 100
(Nguồn: Vụ quản lý dự án)
Thứ hai, doanh nghiệp 100% vốn Nhật Bản: Đây là hình thức được nhiều
nhà đầu tư Nhật Bản quan tâm nhất là trong những năm gần đây. Bởi chỉ ở hình
thức này, nhà đầu tư mới có quyền độc lập, tự quyết định hoạt động kinh doanh của
mình, chủ động trong chiến lược kinh doanh thích hợp với môi trường luôn có sự
biến động.
Nhằm thu hút và khuyến khích đầu tư nước ngoài, Chính phủ Việt Nam đã
có những sửa đổi các đạo luật liên quan theo hướng tạo thuận lợi hơn đối với loại
hình này. Có thể nói các công ty thuộc loại hình này hoạt động kinh doanh như các
công ty trách nhiệm hữu hạn của Việt Nam. Nhờ đó loại hình này đang ngày càng
gia tăng. Nếu năm 1997 loại hình này mới chiếm 40% số dự án, năm 1998 đã là
(chiếm 16,75% số dự án và 45,3% vốn đầu tư). Còn lại là các dự án đầu tư theo
hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng BT, BOT, BTO và công ty cổ
phần. 3 hình thức này chiếm một lượng rất nhỏ trong tổng số dự án đầu tư (tổng cả
3 hình thức chiếm 2,64% số dự án và 6,6% vốn đầu tư).
Theo cục đầu tư nước ngoài, tính tới năm 2012, cả nước có 13,664 dự án
được phân bổ vào 6 ngành: 100% vốn nước ngoài, liên doanh, Hợp đồng BOT, BT,
BTO, Hợp đồng hợp tác kinh doanh, Công ty cổ phần, Công ty mẹ con.
21
2.3 Quy mô dự án và hiệu quả đầu tư FDI của Nhật Bản vào Việt Nam
2.3.1 Qui mô dự án
Bảng 2-8. Quy mô dự án đầu tư FDI của Nhật vào Việt Nam
giai đoạn 1994-2012
Năm Số dự án
Vốn đăng kí (triệu
USD)
Quy mô trung bình các dự
án (triệu USD)
1994 35 347 9,91
1995 65 1200 18,46
1996 72 788,9 10,96
1997 54 606 11,22
1998 19 177,5 6,18
1999 14 42 3
2000 26 140 5,38
2001 48 223 4,65
2002 59 163 2,76
2003 53 342 6,45
2004 102 890 8,73
2005 119 960 8,07
2006 160 1500 9,38
khủng hoảng toàn cầu khiến cho FDI vào các nước giảm xuống. Trong những năm
gần đây, mặc dù các công ty lớn Nhật Bản đã bắt đầu quan tâm đến những dự án
quy mô lớn nhưng nhìn chung các nhà FDI Nhật Bản vẫn ưa thích các dự án đầu tư
quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu. Năm 2011, quy mô bình quân một dự án FDI của
Nhật vào Việt Nam là 5,77 triệu USD. Hiện Nhật Bản dẫn đầu với tổng vốn đầu tư
đăng ký cấp mới và tăng thêm 5,13 tỷ USD, chiếm 39,5% tổng vốn đầu tư vào Việt
Nam trong năm 2012, quy mô vốn đầu tư bình quân một dự án Nhật Bản hiện
khoảng 16,18 triệu USD cao hơn quy mô vốn đầu tư bình quân một dự án FDI hiện
nay là vào khoảng 14,7 triệu USD. Rõ ràng, theo thời gian, quy mô các dự án ngày
càng biến động mạnh và nó có xu hướng nhỏ lại. Nguyên nhân một phần là do các
dự án kiểu này cần nhiều lao động với tiền lương thấp, phù hợp với yêu cầu của các
nhà đầu tư Nhật Bản.
Khảo sát mới đây của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) cho thấy
80% doanh nghiệp Nhật Bản có vốn FDI tại Việt Nam sẽ mở rộng kinh doanh trong
vòng 3 năm tới.
2.3.2. Hiệu quả đầu tư FDI của Nhật Bản vào Việt Nam
Hiệu quả đầu tư là một nhân tố vô cùng quan trọng phản ánh chất lượng thực
của quá trình đầu tư, là một trong những yếu tố cân nhắc hàng đầu khi nhà đầu tư
đưa ra quyết định hay xem xét quy mô đầu tư. Trong những năm qua, hoạt động của
các công ty Nhật Bản ở Việt Nam là tương đối khả quan, nhiều doanh nghiệp đã có
23
những sản phẩm thay thế nhập khẩu và tham gia tích cực vào làm tăng lượng hàng
xuất khẩu. Hiệu quả đầu tư FDI của Nhật Bản được thể hiện rõ qua số vốn thực hiện
cao, tỷ lệ vốn thực hiện cao, tỷ lệ dự án giải thể trước thời hạn thấp…
Thứ nhất, trong khi vốn đăng ký đầu tư chỉ là con số danh nghĩa mà nhà đầu
tư cam kết đầu tư thì vốn thực hiện mới thể hiện nhà đầu tư thực tế đã bỏ ra bao
nhiêu. Lượng vốn này mới thực sự tác động tới nền kinh tế của nước tiếp nhận.
Hàng năm, vốn thực hiện của các dự án FDI Nhật Bản luôn ở mức cao và đặc biệt
trong những năm gần đây liên tục tăng mặc dù Nhật Bản chỉ là nhà đầu tư có vốn
đăng ký FDI lớn thứ 4 vào Việt Nam nhưng tỷ lệ vốn thực hiện lại cao nhất (trên