1 | P a g e
1. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của vấn đề
Đất đai là tài nguyên của mỗi quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất
đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn
phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, an ninh và quốc
phòng. Việc quản lý sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên đất là mục tiêu của
mọi quốc gia.
Vấn đề quản lý và sử dụng đất đai đã có những ảnh hưởng lớn đối với
sự phát triển KTXH. Trong quản lý, sử dụng đất đai, việc chuyển đổi cơ cấu
sử dụng đất quyết định đến tốc độ phát triển KTXH và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế giữa các ngành nghề. Tốc độ tăng trưởng KTXH hàng năm cao, giá trị
sản lượng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chiếm phần lớn trong
nền kinh tế cho thấy diện tích đất sử dụng trong các ngành này tăng lên đáng
kể đã xâm lấn vào quỹ đất nông nghiệp. Việc quản lý, sử dụng đất đai,
chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở nhiều địa phương đã thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế nhưng nó cũng có tác động mạnh mẽ đến những vấn đề xã hội và bảo
vệ môi trường.
Ngày 24 tháng 9 năm 2008 Thủ tướng Chính phủ có Nghị định số 01/QĐ-
CP về việc thành lập thị xã Từ Sơn, với 7 phường và 5 xã. Thị xã Từ Sơn được
thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích của huyện Từ Sơn, với 12 đơn vị hành
1
2 | P a g e
chính bao gồm các phường: Đồng Kỵ, Trang Hạ, Đồng Nguyên, Đình Bảng,
Tân Hồng, Châu Khê, Đông Ngàn và các xã: Tam Sơn, Tương Giang, Hương
Mạc, Phù Khê, Phù Chẩn.
Thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh nằm ở vị trí địa lý rất thuận lợi: Cách không
xa các trung tâm đô thị lớn, đặc biệt là khu tam giác kinh tế trọng điểm phía
Bắc: Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh, đó là lợi thế cho Từ Sơn trong quá trình
sản xuất và phát triển. Cùng với sự phát triển chung của tỉnh Bắc Ninh, quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của thị xã phát triển
những vấn đề ảnh hưởng bất lợi đến đời sống người dân để có giải pháp khắc
phục.
- Đánh giá tác động của việc chuyển mục đích sử dụng đất hình thành
các dự án xây dựng các khu công nghiệp, làng nghề đến môi trường, nhằm góp
phần giảm thiểu ô nhiễm trên địa bàn thị xã.
4
5 | P a g e
2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan về đánh giá tác động xã hội
2.1.1 Những lý luận cơ bản về đánh giá tác động xã hội
Đánh giá tác động xã hội là việc phân tích có hệ thống các tác động có thể
về mặt xã hội của một hành động đối với cuộc sống thường nhật của con người
hay cộng đồng. Đánh giá tác động xã hội là một việc cần thiết khi xem xét, nhận
định về các mục tiêu KTXH của các dự án, phương án quy hoạch.
Đánh giá tác động xã hội bao hàm một loạt các chu trình và quá trình để
đưa khía cạnh xã hội vào các dự án phát triển. Đánh giá tác động xã hội được
tiến hành để đề phòng các ảnh hưởng nghiêm trọng đối với đời sống con người
trong khu vực của dự án. Đối với ảnh hưởng xấu sẽ đưa ra các biện pháp giảm
thiểu và phòng tránh [2].
Đánh giá tác động xã hội có thể định nghĩa là đánh giá tác động chuyên
ngành liên quan đến đánh giá những thay đổi trong cấu trúc và chức năng của
trật tự xã hội. Đặc biệt là những thay đổi mà việc phát triển có thể tạo ra trong
quan hệ xã hội, trong cộng đồng (dân số, cấu trúc, tính ổn định và các thông số
khác), trong chất lượng và lối sống, ngôn ngữ và tập quán. Như một đánh giá
chuyên ngành, Đánh giá tác động xã hội giải quyết một cách tổng thể quá trình
và phương pháp liên kết các giá trị xã hội vào việc xây dựng dự án [1].
2.1.2 Mục đích và nguyên tắc đánh giá tác động xã hội.
5
6 | P a g e
2.1.2.1 Mục đích đánh giá tác động xã hội.
các bản báo cáo và tài liệu gốc của các vùng bị tác động.
- Kế hoạch khắc phục các thiếu sót của số liệu: Đánh giá các hạn chế của
số liệu và lập kế hoạch bổ sung.
2.1.3 Ảnh hưởng của việc quản lý sử dụng đất đai, thực hiện phương án
QHSDĐ đến những vấn đề xã hội
2.1.3.1 Vấn đề bồi thường hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tác động
đến cộng đồng dân cư
a. Tác động đến nơi ở của người dân
Theo quy định của pháp luật về đất đai, người bị thu hồi đất đang sử dụng
vào mục đích nào đó thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục
đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị
quyền sử dụng đất tại thời điểm có đất bị thu hồi. Kết quả điều tra của Bộ Tài
nguyên và Môi trường cho thấy hầu hết các hộ dân bị thu hồi đất sản xuất nông
7
8 | P a g e
nghiệp, đất lâm nghiệp đều được bồi thường bằng tiền vì các địa phương không
còn quỹ đất để bồi thường [3].
Về công tác tái định cư, quy định của Luật đất đai năm 1993 không bắt
buộc việc phải xây dựng khu tái định cư trước khi Nhà nước thu hồi đất nên các
khu tái định cư cho các hộ dân phải di dời ra khỏi KCN thường được xây dựng
rất chậm.
Theo kết quả điều tra, đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm
2006: KCN Tam Phước tại tỉnh Đồng Nai có quyết định thu hồi đất năm 2003
đã xây dựng xong và có tỷ lệ lấp đầy 100% nhưng cho đến thời điểm năm 2005
vẫn chưa xây dựng xong hạ tầng khu tái định cư; tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu có 06
KCN (05 khu xây dựng tập trung tại huyện Tân Thành), trong đó có những khu
đã được Thủ tướng chính phủ quyết định thu hồi đất từ năm 1998 nhưng đến
năm 2005 mới chỉ có một khu tái định cư đang xây dựng dở dang. Tại nhiều dự
án người dân có đất bị thu hồi chấp thuận phương án bồi thường, sẵn sàng giao
lại mặt bằng cho nhà nước nhưng khi hỏi về chỗ sau khi di dời thì các cơ quan
10 | P a g e
thời gian. Có nơi đất đã được thu hồi một vài năm sau mới triển khai khu tái
định cư như Ban quản lý dự án Thăng Long cho đường vành đai III và cầu
Thanh Trì, Ban quản lý CDA trọng điểm (56 ha Trung Yên), Ban quản lý dự án
giao thông công chính (khu dân cư Đồng Tầu) [14]. Việc tiến hành bàn giao
quản lý, quỹ nhà tái định cư chưa được đổi mới, chưa tập trung theo dõi tập hợp
quản lý, còn phát sinh nhiều khó khăn trong việc tổ chức quản lý khu nhà tái
định cư sau khi đưa các hộ dân vào.
Theo báo Nhân Dân ra ngày 11-5-2005 đăng bài: “Đời sống và việc làm
của nông dân những vùng bị thu hồi đất” của Trần Khâm và Trung Chính, có
đoạn mô tả đời sống “một có, bốn không” của người dân sống ở khu tái định cư
Đồng Rướn, thôn Đông Lỗ, xã Bình Thuận, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
(phục vụ xây dựng khu kinh tế Dung Quất) như: một có là có được ngôi nhà
tường xây, lợp ngói, còn bốn không là: không trạm y tế, không chợ, không
trường học và không nước sạch [9].
b. Tác động đến đời sống, việc làm của người dân có đất bị thu hồi
Đây là việc làm vô cùng quan trọng đối với người dân có đất bị thu hồi,
trong thực tế quá trình đô thị hoá, kinh tế ở các đô thị mới tăng trưởng nhanh
chóng nhờ sự tập trung lực lượng sản xuất tạo ra năng suất lao động cao, cách tổ
chức lao động hiện đại. Do đó quá trình tăng trưởng kinh tế đô thị cũng tạo cơ
hội để tăng việc làm ở các đô thị. Từ góc độ lao động và việc làm từ các hoạt
động nông nghiệp sang các hoạt động công nghiệp và thương mại dịch vụ.
10
11 | P a g e
Những người nông dân trước đây gắn bó với ruộng vườn, sau khi trở thành dân
cư đô thị, họ bị mất phần lớn ruộng đất canh tác. Với số tiền được Nhà nước đền
bù hoặc tiền bán đất cho dân cư mới, họ dùng để tạo nghề mới, tìm việc làm
mới và nhiều vấn đề khác cũng thay đổi. Sự phát triển của các đô thị một mặt
tạo ra một lượng lớn việc làm cho lao động tại đô thị, đồng thời thu hút và làm
giảm đáng kể lực lượng lao động nông nhàn ở các vùng nông thôn, kém phát
Sau khi nhận tiền bồi thường, đa số các hộ dân sử dụng tiền để sửa chữa
nhà cửa, mua sắm dụng cụ sinh hoạt, một số chuyển sang kinh doanh dịch vụ
phi nông nghiệp, một số gửi tiết kiệm, một số trường hợp sử dụng tiền để rượu
chè, cờ bạc gây ra các tệ nạn xã hội. Đặc biệt với các gia đình nông dân bị thu
hồi hết đất nông nghiệp mà không tạo được công ăn việc làm mới thì chỉ sau vài
năm sẽ lâm vào hoàn cảnh khó khăn.
Trong quá trình xây dựng, phát triển các KCN, một số địa phương đã có
quy định cụ thể về chính sách tuyển dụng lao động để giải quyết công ăn việc
12
13 | P a g e
làm cho người có đất bị thu hồi. Ví dụ, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Hưng
Yên quy định cứ sử dụng 360 m
2
đất nông nghiệp thì phải tuyển dụng một lao
động, trường hợp không tuyển lao động thì hộ gia đình có đất bị thu hồi được
nhận thêm 12.000 đồng/1m
2
để chuyển đổi nghề nghiệp, UBND thành Hà Nội
quy định nhà đầu tư cứ sử dụng 1ha đất nông nghiệp để chuyển sang xây dựng
KCN thì phải có trách nhiệm tuyển dụng từ 10 đến 15 lao động nông nghiệp tại
địa phương. Phần lớn nông dân có trình độ văn hóa, chuyên môn, kỹ thuật thấp
(đặc biệt đối với lao động thuần nông ở độ tuổi trên 30) nên tỷ lệ lao động bị thu
hồi đất được tuyển dụng vào các cơ sở sản xuất kinh doanh không lớn. Ví dụ, tỷ
lệ lao động qua đào tạo ở khu vực nông nghiệp, nông thôn của Lạng Sơn chỉ
chiếm 2,17% tổng số lao động; tại Hà Nội, lao động có trình độ chuyên môn từ
trung cấp trở lên chỉ là 1,5%. Việc đào tạo nghề đối với lao động ở lứa tuổi trên
30 là rất khó khăn. Trên thực tế, các nhà đầu tư chỉ tuyển dụng được từ 5% đến
10% số lao động tại địa phương, chủ yếu ở độ tuổi dưới 30. Một số doanh
nghiệp có tuyển dụng lao động của địa phương nhưng thường chỉ bố trí vào vị
trí lao động đơn giản có thu nhập thấp. Vì vậy, một thời gian sau các lao động
chuyển đổi nghề nghiệp, nhằm giúp họ sớm tìm được việc làm ổn định với thu
nhập tương đối khá hơn so với làm nông nghiệp [5]. Ngoài quy định của Chính
phủ, nhiều địa phương cũng có những quy định bổ sung nhằm tạo thêm điều
kiện cho người lao động đi học nghề và chuyển đổi nghề nghiệp. Chẳng hạn,
tỉnh Hà Nam ngoài biện pháp hỗ trợ tạo việc làm còn dồn kinh phí đầu tư vào
các dự án vay vốn hỗ trợ việc làm. Tỉnh Hải Dương thực hiện chính sách đào tạo
miễn phí cho lao động bị thu hồi đất, hoặc Bình Dương mở hệ thống đào tạo
nghề xuống tận huyện, xã
Tuy nhiên thực tiễn về giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất lại
diễn ra không hoàn toàn như vậy. Số người được đào tạo nghề, được giải quyết
việc làm tại các KCN là rất ít.
Ở Hà Nội phần lớn lao động ở các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất
nông nghiệp hầu hết là lao động phổ thông, trình độ học vấn thấp, chưa qua đào
tạo chuyên môn kỹ thuật. Ở Hà Nội có tới 76,2% những người bị thu hồi đất
được phỏng vấn là chưa qua đào tạo. Số liệu này đã cho thấy một xu hướng
chung, khó khăn chung đối với tất cả các đối tượng lao động bị thu hồi đất khi đi
tìm việc làm mới: không tìm được việc làm phù hợp. Sự phù hợp ở đây chủ yếu
là do cung không đáp ứng được cầu về mặt chất lượng, do người lao động không
đáp ứng được những yêu cầu của nhà tuyển dụng về trình độ chuyên môn. Điều
này dẫn đến thực trạng nhiều doanh nghiệp mặc dù trong dự án có cam kết tuyển
dụng lao động địa phương vào làm việc song đã phải tuyển dụng từ nơi khác để
15
16 | P a g e
đáp ứng yêu cầu của sản xuất. Mặt khác, bản thân người lao động chưa được các
cấp chính quyền thông tin, tuyên truyền đầy đủ về kế hoạch, QHSDĐ, khiến
người lao động bị động, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành trong việc
định hướng cho người dân học nghề, chuyển đổi nghề phù hợp sau khi bị thu hồi
đất sản xuất [14].
Như vậy, vấn đề bất cập hiện nay là công tác quy hoạch ở vùng chuyển
đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp chưa gắn với chế độ chuyển đổi nghề
hưởng đến cuộc sống của hàng triệu hộ nông dân và đe doạ trực tiếp đến an ninh
lương thực.
Diện tích đất canh tác của Việt Nam hiện thấp nhất thế giới, chỉ khoảng
0,12 hécta/người trong khi của Thái Lan là 0,3 hécta/người. Xét bình quân, Việt
Nam chỉ hơn được các nước như Hàn Quốc, Băng-la Đét, Ai Cập Chính vì thua
Thái Lan 2,5 lần về diện tích đất nên để tăng sản lượng lúa, lượng phân bón hóa
học sử dụng hàng năm ở nước ta cao gấp 2 lần Thái Lan [20].
17
18 | P a g e
Với diện tích trồng lúa trên 4 triệu ha và sản lượng đạt khoảng 36 triệu
tấn/năm hiện nay thì việc đảm bảo an ninh lương thực của Việt Nam chưa có gì
đáng lo ngại. Hơn nữa, năng suất lúa trung bình có thể được nâng lên trên 6
tấn/ha, và tổng sản lượng gạo có thể đạt mức 40 triệu tấn/năm. Tuy nhiên, sản
lượng này cũng mới chỉ đảm bảo an ninh lương thực cho dân số khoảng 100
triệu người. Nếu dân số tiếp tục gia tăng (nhiều nghiên cứu cho thấy dân số Việt
Nam sẽ lên tới 120 triệu mới cơ bản ổn định) đi kèm với diện tích đất trồng lúa
giảm thì chắc chắn sẽ xảy ra nguy cơ mất an ninh lương thực. Như vậy, để bảo
đảm ngưỡng an toàn thì đất trồng lúa của Việt Nam cần giữ nguyên như hiện
nay, đồng nghĩa với việc đưa công nghiệp về khu vực trung du, miền núi, lấy
công nghiệp nuôi nông nghiệp là lối đi tất yếu. “Nếu không giữ được một diện
tích trồng lúa ổn định thì sẽ có nguy cơ gây mất an ninh lương thực trong nước
[20].
Điều đáng quan tâm hơn nữa là có những địa phương nhận thức và hành
động không đúng về QHSDĐ đã tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp và
đảm bảo an ninh lương thực. Có nơi do nôn nóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đã
dùng đất “bờ xôi ruộng mật” để triển khai các dự án công nghiệp, dịch vụ mà
hiệu quả mang lại không cân xứng.
Sự lãng phí đất nông nghiệp còn thể hiện ở khâu lựa chọn vị trí quy
hoạch: Hai tỉnh liền kề đều quy hoạch KCN trên đất lúa, thu hút các dự án có
công nghệ như nhau nên không thể lấp đầy; trong khi các địa phương khác còn
- “ĐTM được coi là một kỹ thuật, một quá trình thu thập thông tin về ảnh
hưởng môi trường của một dự án từ người chủ dự án và các nguồn khác, được tính
đến, trong việc ra quyết định cho dự án tiến hành hay không” [11;29].
- Theo Lê Thạc Cán (1994) thì “ĐTM của hoạt động phát triển KT-XH là
xác định, phân tích và dự báo những tác động lợi và hại, trước mắt và lâu dài mà
việc thực hiện hoạt động có thể gây ra cho tài nguyên và môi trường sống của
con người tại nơi có liên quan tới hoạt động, trên cơ sở đã đề xuất các biện pháp
phòng, tránh, khắc phục các tác động tiêu cực” [4].
- “ĐTM là một quá trình nghiên cứu nhằm nhận dạng, dự báo và phân tích
những tác động môi trường có ý nghĩa quan trọng của một dự án và cung cấp
thông tin cần thiết để nâng cao chất lượng của việc ra quyết định. ĐTM được sử
dụng để phòng ngừa và làm giảm thiểu những tác động tiêu cực, phát huy các
tác động tích cực và đồng thời hỗ trợ cho việc sử dụng hợp lý tiềm năng tài
nguyên và qua đó làm tăng tối đa lợi ích của các dự án phát triển KTXH góp
phần vào phát triển bền vững một quốc gia” [1].
- Trong Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam, ĐTM được định nghĩa
20
21 | P a g e
như sau: “ĐTM là quá trình phân tích, đánh giá, dự báo ảnh hưởng đến môi
trường của các dự án, quy hoạch phát triển KTXH, của các cơ sở sản xuất kinh
doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, y tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc
phòng và các công trình khác, đề xuất các giải pháp thích hợp để bảo vệ môi
trường” [19].
Qua các định nghĩa trên ta có thể thấy được sự nhất trí về mục đích và bản
chất của ĐTM.
2.2.2 Quan điểm, mục tiêu, đối tượng đánh giá tác động môi trường trong
việc quản lý, sử dụng đất.
2.2.2.1 Quan điểm, mục tiêu của ĐTM
ĐTM có thể đạt được nhiều mục đích, Alan Gilpin [29] đã chỉ ra vai trò
và mục tiêu ĐTM trong xã hội với nhiều điểm chính sau:
(9) ĐTM được coi là công cụ phục vụ phát triển khuyến khích phát triển
tốt hơn và trợ giúp cho tăng trưởng kinh tế.
22
23 | P a g e
(10) Trong nhiều trường hợp, ĐTM chấp nhận sự phát thải, kể cả phát thải
khí nhà kính cũng như việc sử dụng không hợp lý tài nguyên ở mức độ nào đấy
nghĩa là chấp nhận phát triển, tăng trưởng kinh tế.
2.2.2.2 Ý nghĩa của ĐTM
Nếu làm được ĐTM tốt thì người quản lý môi trường phải tốt, quản lý môi
trường tốt thì công việc giữ gìn, bảo vệ môi trường sẽ tốt, đặc biệt là trong tương
lai. Điều đó được thể hiện qua một số điểm cụ thể sau:
ĐTM khuyến khích công tác quy hoạch tốt hơn. Việc xem xét kỹ lưỡng
dự án và những dự án có khả năng thay thế từ công tác ĐTM sẽ giúp cho dự án
hoạt động có hiệu quả hơn.
ĐTM có thể tiết kiệm được thời gian và tiền của trong thời hạn phát triển
lâu dài. Qua các nhân tố môi trường tổng hợp, được xem xét đến trong quá trình
ra quyết định ở giai đoạn quy hoạch mà các cơ sở và Chính phủ tránh được
những chi phí không cần thiết, đôi khi tránh được những hoạt động sai lầm, phải
khắc phục trong tương lai.
ĐTM giúp cho Nhà nước, các cơ sở và cộng đồng có mối liên hệ chặt chẽ
hơn. Các đóng góp của cộng đồng trước khi dự án được đầu tư. Thực hiện công
tác ĐTM tốt có thể đóng góp cho sự phát triển thịnh vượng trong tương lai.
Thông qua các kiến nghị của ĐTM, việc sử dụng tài nguyên sẽ thận trọng hơn
và giảm được sự đe dọa của suy thoái môi trường đến sức khỏe con người và hệ
sinh thái.
23
24 | P a g e
2.2.2.3 Đối tượng của ĐTM
Đối tượng của ĐTM thường gặp và có số lượng nhiều nhất là các dự án
phát triển cụ thể. Những đối tượng đó có thể là: Một số bệnh viện lớn, nhà máy
đồng, từ đó tổng hợp đánh giá.
* Phương pháp danh mục có ghi trọng số: Phương pháp này trong danh
mục tác động có mức độ tác động như phương pháp trước, ngoài ra còn có thêm
trọng số (hay mức độ quan trọng của từng yếu tố môi trường chịu tác động vào).
Ở đây ta tiến hành cho điểm về chất lượng và mức độ quan trọng của các yếu tố.
Tiếp theo có thể tổng hợp mọi yếu tố lại thành chỉ số để đánh giá tác động.
2.2.3.2 Phương pháp ma trận môi trường
Đây là phương pháp phối hợp liệt kê các hành động của hoạt động phát
triển (hay hành động của dự án) và liệt kê các yếu tố môi trường (chỉ tiêu môi
trường) có thể bị tác động và đưa vào một ma trận. Tiến hành đánh giá.
* Phương pháp ma trận đơn giản (định tính và bán định lượng)
25