BÀI BÁO CÁO THỰC TẬP-RÈN KĨ NĂNG NÓI TRONG GIỜ TẬP LÀM VĂN LỚP 5 - Pdf 27

1
A : PHẦN MỞ ĐẦU
I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Như chúng ta đã biết mục tiêu của Giaó dục Tiểu học đó là nhằm giúp học
sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân
cách con người Việt Nam xã hội chũ nghĩa, bước đầu xây dựng tư cách và trách
nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học trung học cơ sở ( theo Điều 23
Luật Giaó dục 2009)
Để đạt được mục tiêu trên trong chương trình Tiểu học, môn Tiếng việt chiếm
vị trí rất quan trọng. Tiếng việt tạo điều kiện và cơ sở cho học sinh học tốt các bộ
môn. Đặc biệt môn Tiếng việt lớp 5 và cụ thể là môn tập làm văn nói. Thực tế dạy
học hiện nay cho thấy kỷ năng nói của HS đang ngày bị xem nhẹ và hình thức
kiểm tra chủ yếu hiện nay là kiểm tra viết và giáo viên chỉ tập trung vào các kỹ
năng : đọc, viết, tính toán trong nhà trường là việc có thật. Việc rèn luyên kỹ năng
nói cho HS trong phân môn Tập làm văn lớp 5 hiện nay chưa làm nổi bật các đặc
thù là rèn kỹ năng nói cho học sinh mà chủ yếu mới chỉ tập trung vào lập dàn bài
để phục vụ cho giờ văn viết. Do đó, việc rèn luyện kỹ năng nói lưu loát trong cách
diễn đạt cho học sinh là việc làm cần thiết của người giáo viên ở trên lớp, đây là
cả một quá trình đòi hỏi giáo viên phải nỗ lực, cố gắng, tìm hiểu và quan tâm đến
từng đối tượng học sinh ở trong lớp để có thể có biện pháp giúp đỡ các em có điều
kiện luyện tập tùy theo cách nhìn nhận vấn đề của từng học sinh. Do đó việc cải
tiến, đổi mới về phương pháp luyện nói cho học sinh tiểu học nói chung và học
sinh lớp 5 nói riêng là vấn đề cần quan tâm, bởi vì khả năng diễn đạt vấn đề của
học sinh hiện nay hầu hết còn rất nhiều hạn chế cần khắc phục.
Bởi vậy làm thế nào để dạy tốt vấn đề hết sức cần thiết đối với mỗi giáo viên
nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.
TÊN SÁNG KIẾN: RÈN KĨ NĂNG NÓI TRONG GIỜ TẬP LÀM VĂN LỚP 5.
NGƯỜI VIẾT : BÀNH THỊ CẢNH
CHỨC VỤ : GIÁO VIÊN
ĐƠN VỊ : TRƯỜNG TIỂU HỌC XUYÊN MỘC

2
Các yêu cầu của môn Tiếng Việt lớp 5 đối với học sinh vùng thành phố thị
xã thì việc thực hiện dễ dàng. Song đối với học sinh lớp 5 trường tiểu học Xuyên
Mộc cần phải thực hiện thường xuyên, nhiệt tình để nâng cao chất lượng học tập
tốt hơn.
Ở đơn vị trường Tiểu học Xuyên Mộc, tỷ lệ học sinh đạt chất lượng cao ở
môn Tiếng Việt nói chung và khả năng trình bày bằng lời nói của học sinh nhìn
chung còn chưa đồng đều ở các khối, lớp.
Trước yêu cầu thực tế của đơn vị là “ Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào
tạo” là giáo viên đang trực tiếp giảng dạy ở lớp 5A1 trường tiểu học Xuyên Mộc.
Xuất phát từ những luận điểm trên và qua thực tế giảng dạy tôi đã tìm hiểu, nghiên
cứu và đổi mới phương pháp để nâng cao chất lượng, rèn luyện kỹ năng nói cho
học sinh thông qua môn Tiếng Việt và phân môn Tập làm văn theo tiêu chuẩn của
Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo, đồng thời tạo ra những phương pháp đổi mới ,những
biện pháp cần thiết là động lực thúc đẩy cho giáo dục của nhà trường góp phần
hoàn thiện các kỹ năng để học sinh có thể tiếp cận với các kiến thức mới dễ dàng
và có hiệu quả.
II / MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Xuất phát từ mục tiêu của giáo dục là coi giáo dục đào tạo cùng với khoa học
công nghệ là nền tảng, là động lực của sự nghiệp Công nghệ hóa – hiện đại hóa
Đất nước ,phát huy yếu tố con người phát triển toàn diện là yếu tố cơ bản cho sự
phát triển lâu dài và bền vững trong mọi lĩnh vực. Trọng tâm là việc chú trọng đến
con người được đào tạo là con người có đầy đủ năng lực ,trí tuệ, có đạo đức thích
nghi được với những thay đổi, có kỹ năng hành động, biết “ Học thường xuyên
,bhọc suốt đời” và có ý tưởng “học để biết, học để làm, học để cùng sống với nhau
và học để làm người ”. Để đáp ứng như cầu của xã hội là đào tạo ra những con
người phát triển toàn diện thì việc dạy học ở trường Tiểu học chiếm một vị trí đặc
biệt quan trọng, bởi vì bậc tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục Quốc
dân, do đó đòi hỏi phải dạy đúng, dạy đủ các môn học theo quy định nhằm giúp
các em có thêm kiến thức sâu rộng để có thể tiếp cận được với nền khoa học tiên

đích của giao tiếp.
4
Qua ngôn ngữ nói ta dễ nhận thấy trí tuệ, tâm hồn của người nói bởi lời nói luôn
mang phong cách riêng của mỗi người. Trong lời nói cần thể hiện tư duy, nếu tư
duy tốt lời nói sẽ dễ dàng, gọn gàng, hấp dẫn được người nghe, ngược lại nếu nói
ấp úng, không rõ ràng sẽ không thuyết phục được người nghe và đôi khi còn hiểu
sai ý mình muốn nói. Vì thế mục đích của giao tiếp sẽ khó được thực hiện hoàn
chỉnh. Để có những lời nói đẹp mỗi người cần phải rèn luyện trong một quá trình
lâu dài. Những giờ Tập làm văn chính là giờ học hình thành cho học sinh những kỹ
năng nói đầu tiên, ở lứa tuổi này các em đã có một sự thay đổi đáng kể đặc điểm
tâm sinh lý. Các em đã tự thay đổi trong quá trình nhận thức, việc sử dụng các
công cụ trực quan đã giảm bớt so với ở các lớp học trước và thay vào đó là học
sinh có thể dùng lời để chứng minh một vấn đề. Vì vậy, lời nói cho phép diễn đạt
dể dàng hơn rất nhiều về những vấn đề phức tạp hơn những tính chất bên trong
những sự vận động lo-gic. Ở lớp 5 hoạt động yêu thích của trẻ em là sáng tạo văn
học, nếu được học văn theo một chương trình đúng và có một phương pháp truyền
thụ tốt thì trẻ em ở tuổi này rất thích học văn, dễ nói hết ra những điều mình suy
nghĩ , đó là diều kiện thuận lợi nhất cho giáo viên trong việc rèn luyện kỹ năng nói
cho từng học sinh, nhận ra những chỗ khiếm khuyết của từng học sinh để uốn nắn
kịp thời . Theo quan điểm dạy học hiện nay, cần phải rèn cho học sinh kỹ năng
diễn đạt mỗi vấn đề cụ thể một cách rõ ràng, mạch lạc. Vì vậy giờ Tập làm văn còn
rèn cho học sinh kỹ năng nói, dạy các em biết tổng hợp kiến thức từ các phân môn
như : Luyện từ và câu, Tập đọc và các kinh nghiệm cuộc sống mà học sinh có được
. Cùng một vấn đề nhưng không phải học sinh nào cũng nói như nhau, do đó giáo
viên phải luôn quan tâm tới đặc điểm riêng của từng học sinh để rèn luyện kỹ năng
nói cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp.
III / GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI :
Nhằm đi sâu vào một vấn đề nên tôi chỉ giới hạn đề tài trong phạm vi nghiên
cứu việc dạy học kiểu bài luyện nói cho học sinh lớp 5 với phạm vi nghiên cứu hẹp
như vậy, tôi hi vọng sẽ thu được nhiều kết quả, góp phần thực hiện nhiệm vụ giáo

sát trực tiếp lớp 5A1 trong năm học 2010 – 2011 và năm học khi trình bày bằng lời
nói thông qua bài văn tả cảnh, kết quả thu được như sau :
6
Việc học sinh còn lúng túng trong khi diễn đạt văn bản bằng lời nói làm cho
việc tiếp cận các kiến thức khoa học kỹ thuật càng trở nên khó khăn hơn , làm cho
các em mất lòng tin khi bước vào cuộc sống sau này. Nhìn bảng thống kê kết quả
khảo sát việc diễn đạt bằng lời nói của học sinh ở trên, chúng ta có thể thấy việc
đọc hiểu và trình bày lưu loát văn bản bằng lời nói làm cho người nghe có hứng
thú khi nghe của học sinh còn rất nhiều hạn chế. Tỷ lệ học sinh còn lúng túng khi
trình bày bài tập còn khá cao. Mà những học sinh này do vốn Tiếng Việt còn hạn
chế, cho nên ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng học tập của các môn học khác.
Nhận thức được rõ điều đó và trước thực trạng học môn luyện nói của học
sinh thông qua phân môn Tập làm văn chương trình tiểu học mới của học sinh lớp
5 tôi đã tìm ra các biên pháp để nâng cao chất lượng trình bày bằng lời nói môn
Tiếng Việt lớp 5.
II/ CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Qua những năm tháng học tập, nghiên cứu phương pháp dạy học môn Tiếng Việt,
bản thân tôi đã áp dụng những phương pháp để nâng cao chất lượng kỹ năng nói
môn Tiếng Việt lớp 5 như sau :
II.1. Nghiên cứu tài liệu :
Để nắm vững nội dung và phương pháp dạy học môn Tiếng Việt tiểu học ,tôi
đã tiến hành nghiên cứu các tài liệu, chuẩn kiến thức và kỹ năng các môn học ở
Tiểu học ; tài liệu dạy văn cho học sinh tiểu học – nhà xuất bản Giáo dục năm 1999
của tác giả Hoàng Hòa Bình. Dạy tập làm văn ở tiểu học. NXB: Giáo dục năm
2003 của tác giả Nguyễn Trí. Tập làm văn lớp 5 Biên soạn theo chương trình mới
của NXB Tổng hợp TPHCM. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy các môn học lớp 5
NXB-GD năm 2006. Giáo dục kĩ năng sống trong các môn học ở Tiểu học. NXB:
giáo dục năm 2010- Tác giả Hoàng Hòa Bình, Lê Minh Châu,…. Vì vậy chương
TSHS
HS tham

bài học.
II.3.Thiết kế Giaó án :
Để nâng cao kỹ năng nói cho học sinh thông qua phân môn Tập làm văn lớp 5,
và giờ học đạt hiêu quả cao đòi hỏi người giáo viên phải biết thiết kế giáo án trước
khi lên lớp - đây là khâu quyết định 50% thành công của tiết dạy vì vậy trước khi
lên lớp giáo viên cần đầu tư để soạn giáo án thực sự có chất lượng, thể hiện rỏ nội
dung và phương pháp. Việc chuẩn bị bài học càng chu đáo bao nhiêu thì chất
lượng dạy học sẽ càng đạt hiệu quả bấy nhiêu. Do vậy việc thiết kế kế hoạch bài
học chi tiết, cụ thể sẽ giúp cho học sinh có điều kiện để tiếp thu kiến thức một cách
chủ động hơn .
Soạn bài thực chất là lập kế hoạch để tổ chức hướng dẫn học sinh hoạt động
học tập cụ thể phân môn Tập làm văn .
8
* Ví dụ : Mẫu thiết kế giáo án của một tiết TLV nói đươc thể hiện qua các nội
dung chính sau :
A – Mục tiêu : - Kiến thức( tùy bài)
- Kỹ năng:
- Rèn kĩ năng nói cho học sinh thông qua yêu cầu đề ra ở môn Tập làm văn nói với
từng thề loại, từng đề bài cụ thể ( từ mức độ thấp đến mức độ cao hơn)
- Rèn tư duy ngôn ngữ và phát triển vốn từ ngữ phong phú, sáng tạo cho học sinh
trong quá trình tập nói.
- Thái độ:( tùy bài)
B – Đồ dùng dạy học :
- Thầy: tranh, ảnh( tùy bài)
- Trò: dàn ý; ảnh( tùy bài)
C- Các hoạt động dạy học :
I- Kiểm tra bài cũ
II – Dạy học bài mới
1/ Giới thiệu bài
2/ Dạy bài mới

một em bé cụ thể chứ không phải một em bé chung chung, ước lệ.
Vì vậy trước các tiết học, giáo viên dặn các em quan sát trước ở nhà sưu các
hình ảnh và giáo viên chuẩn đồ dùng và sử dụng triệt để các đồ dùng dạy học.
II.5/ Xây dựng nội dung nói.
Phải hướng dẫn học sinh xây dựng nội dung nói, vì vậy khi ra đề, giáo viên
phải móc nối mục đích của đề bài và đề bài phải hấp dẫn đối với các em, phải rộng
rải mở ra nhiều khả năng cho học sinh lựa chọn, có như vậy mới hấp dẫn được các
em, giúp các em hứng thú trong học tập.
Phân tích để xác định trọng tâm vấn đề cần quan sát và tiếp thu, hướng dẫn
học sinh quan sát bằng nhiều giác quan đễ tái hiện chân thực sự vật. Quan sát tỉ mỉ
nhiều lượt đễ tìm được những nét riêng, nét tiêu biểu của sự vật và xác định rõ vị
trí khởi điểm và trình tự quan sát, xác định rõ trọng tâm mà đề bài yêu cầu để vạch
ra hướng quan sát cho học sinh. Khi đã có đầy đủ những chi tiết, những điều cần
nói về đề tài giúp cho các em lập dàn ý, sắp xếp các ý quan sát được cho hợp lo-
gíc. Trong tiết tập làm văn này giáo viên cần rèn luyện cho học sinh tập nói theo
các ý đã sắp xếp và học sinh không thể nói nếu không chuẩn bị kĩ nội dung nói, do
10
đó việc giúp học sinh xây dựng nội dung nói là điều kiện đầu tiên đễ giờ tập làm
văn thành công.
II.6/ Những điều cần chú ý trong lúc học sinh trình bày( nói)
Như chúng ta đã biết trong 4 bước của một tiết tập làm văn thì nhiệm vụ chính
của tiết học tập trung ở bước 3 : hướng dẫn học sinh tập nói. Để thực hiên tốt bước
này, GV cần nắm vững những yêu cầu cơ bản và biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo
trong từng tiết học với từng kiểu bài, từng đối tượng cụ thể. Nhìn chung, có thể
tiến hành theo phương pháp sau cần:
* Giaó viên cần chuẩn bị cho mình lời mở đầu sao cho có thể thu hút người
nghe hoặc gây tác động kích thích không khí lớp học sôi nổi. Tôi thường gọi
những em bạo dạn, có khả năng nói tốt để mở đầu, tránh gọi những em nhút nhát,
khả năng nói còn yếu nói trước.
* Tạo nhu cầu, không khí tốt cho học sinh nói: Biết tạo nhu cầu nói cho học

yêu cầu học sinh khác lắng nghe và nhận xét kết quả trình bày của bạn về ý xem
bạn đã đúng, đủ và cụ thể hay chưa về lời, về cách dùng từ đặt câu, diễn đạt có
chính xác hay không, sau đó giáo viên tóm tắt những ý học sinh đã nói, chỉ rõ ưu,
khuyết điểm và đặt biệt nếu học sinh trình bày tốt hoặc có nhiều cố gắng, giáo viên
biểu dương và cho điểm, dẫn dắt hoặc gợi ý tìm từ ngữ diễn tả mỗi khi học sinh
lúng túng. Hướng dẫn học sinh tập nói theo dàn bài giúp học sinh trình bày bài nói
một cách tự nhiên, thoải mái. Yêu cầu học sinh còn lại nghe bạn trình bày đễ nhận
xét, rút kinh ngiệm cho bản thân. GV giúp HS thấy rõ ưu, khuyết điểm để rút kinh
nghiệm, Đồng thời khen ngợi ,động viên HS kịp thời.
* Nâng dần mức độ nói từ thấp đến cao.( theo đối tượng HS )
Ví dụ : Với HS yếu, trung bình yếu GV gợi ý các em nói miệng mở bài trực tiếp
(hoặc thân bài nói một phần nhỏ như tả ngoại hình … ), ví dụ : Với bài văn “Tả
hình dáng và tính tình của bà em ” các em chỉ cần nói được như “ Trong gia đình
người em yêu quý nhất đó là bà ”.
Với HS khá giỏi các em nói kiểu mở bài gián tiếp (hoặc nói cả phần thân bài ,cả
bài …) . Như “Chuông đồng hồ buông chín tiếng .Màn đêm yên ắng ,tĩnh mịch lạ
12
thường . Chỉ còn âm thanh của gió khua xào xạc trong khu vườn trước ngõ.Em rời
bàn học ra trước sân, vươn vai hít thở không khí trong lành để cố xua đi cơn buồn
ngủ. Còn lại bài tập toán nữa ,phải cố làm cho hết. Từ giường lên có tiếng trở mình
khe khẽ. Bà nội còn thức để chờ em .”
Phần thân bài HS yếu, trung bình yếu Với bài văn “Tả hình dáng và tính tình
của bà em ” HS chỉ cần nói được phần tả hình dáng.
HS khá giỏi cả phần thân bài: Hình dáng và tính tình, tiến tới cả bài.
* Sửa các em cách dùng từ, nếu các em dùng từ để tả chưa chính xác thì GV gọi
bạn nhận xét với gợi ý các câu hỏi của GV.
Ví dụ: Với bài văn ”Tả một em bé đang tuổi tập nói, tập đi” trong giờ tập làm văn
miệng có em nói “mái tóc của em bé mỏng manh như mảnh giấy được tạo bởi
những sợi tơ ngắn”
- Để sửa các em dùng từ, GV gọi bạn nhận xét với gợi ý câu hỏi như: cách

Câu văn giàu hình ảnh có dùng biện pháp nghệ thuật như thế là tốt, nhưng để
học sinh tránh lặp các hình ảnh so sánh giống nhau của em này với em kia thì giáo
viên gợi mở để HS có nhiều hình ảnh so sánh khác nhau như: “ Ngoài khơi, đoàn
thuyền đánh cá trông như những hộp đồ chơi của trẻ em”.
- “ Dọc dờ biển, hàng dừa như những chú Hải quân đang ngày đêm đứng canh
giữ biển đảo”. hoặc “ Dọc dờ biển, hàng dừa đang nghiêng mình che mát cho
khách du lịch”. hoặc “ Dọc dờ biển, hàng dừa đang nghiêng mình soi bóng xuống
mặt biển”.
Như vậy mỗi tiết tập làm văn miệng có khoảng 50% số học sinh được nói,
nghĩa là trong tổng số 28 học sinh của lớp 5A1 có khoảng 14 học sinh được nói
trong giờ tập làm văn với cùng nội dung một câu chuyện giống nhau, mặc dù số
lượng học sinh được nói chưa nhiều nhưng như vậy đã là sự cố gắng của giáo viên
trực tiếp giảng dạy và qua đây chất lượng nói của học sinh cũng được nâng cao
một cách rõ rệt.
III. HIỆU QUẢ ÁP DỤNG:
Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm trên, học sinh mạnh dạn, tự tin hơn
biết sử dụng từ, các biện pháp nghệ thuật, chất lượng của học sinh thông qua các
14
giờ tập làm văn được nâng lên rõ rệt so với khi chưa áp dụng sáng kiến. Vì vậy
hiệu quả của sáng kiến được nâng lên rõ rệt, kỹ năng trình bày vấn đề bằng lời nói
được nâng lên, khắc phục được tình trạng trình bày vấn đề lúng túng của học sinh.
Kết quả cụ thể như sau:

Qua số liệu khảo sát việc học sinh nói trong giờ tập làm văn lớp 5 như trên, so
sánh với thống kê khảo sát đầu năm ta thấy tỉ lệ học sinh biết trình bày vấn đề một
cách lưu loát tăng 8 em = 27,6 số học sinh đọc trình bày vấn đề còn lúng túng
giảm 9 em = 32,1 %.
C/KẾT LUẬN:
I/ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI ĐỐI VỚI CÔNG TÁC:
Trong sự nghiệp đổi mới ‘Công nghiệp hoá- hiện đại hoá” Mục tiêu giáo dục

15
trong nhà trường tiểu học. Nhất là đối với học sinh lớp 5 khi luyện nói qua các tiết
học Tập làm văn. Là người đặt nền móng cho sự nghiệp giáo dục, đòi hỏi người
giáo viên phải thực sự có tâm huyết với nghề nghiệp, có đầu óc suy luận khoa học,
sáng tạo mềm dẻo trong việc vận dụng các phương pháp dạy học, thích hợp với
đặc điểm tâm sinh lý và điều kiện của học sinh lớp mình dạy.
II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM, HƯỚNG PHÁT TRIỂN
Bài học kinh nghiệm:
Để giờ học đạt kết quả tốt thì những việc làm trước khi nói, trong khi nói và
sau khi nói phải được tiến hành thường xuyên đối với từng giai đoạn, từng học
sinh. Giáo viên phải chuận bị tốt về mọi mặt nội dung cũng như yêu cầu của bài,
dự kiến những khả năng có thể xãy ra trong giờ học, chỉ rõ mức độ cần đạt của giờ
học để từ đó lựa chọn những phương pháp cho phù hợp.
Muốn học sinh có kĩ năng nói tốt chỉ cần rèn luyện cho các em nói, cách
diễn đạt trực tiếp không chỉ trong giờ tập làm văn mà còn ở tất cả các giờ học khác
để thành lập thói quen nói tự tin, nói có văn hóa cho học sinh vì giờ tập làm văn là
giờ học tổng hợp kiến thức của nhiều phân môn nên cần sự hỗ trợ của các phân
môn khác trong việc rèn kĩ năng nói.
Khi đặt câu hỏi cho học sinh cần đặt luu ý đến khả năng từ lời nói của các
em vì nếu câu hỏi khá dài rộng sẽ không tổng hợp được kiến thức của học sinh và
còn làm giảm khả năng nói của các em. Khi tổ chức cho học sinh nói, giáo viên
nên nhập vai cùng các em, đi cùng hướng cảm xúc của các em để các em nói ra
cảm xúc của mình. Nghĩa là lúc này giáo viên phải vừa là “đạo diễn” vừa là “ diễn
viên”, có như vậy mới thu hút được các em vào giờ học và gây hứng thú để các em
nói.
Trong quá trình học sinh nói giáo viên chú ý cho học sinh trong việc diễn đạt
câu đúng, đủ, rõ ý bằng lời văn tự nhiên chân thành và giản dị chưa đòi hỏi sự
“chau chuốt” bóng bẩy về lời. Do vậy có thể chấp nhận học sinh dùng nhiều từ ngữ
thông dụng có phần “nôm na” chưa thật hay nhưng diễn đạt được ý muốn nói của
các em học sinh, có thể dùng nhiều câu ngắn gọn hoặc câu dài kết hợp với ngữ

- Học sinh cần chăm chỉ chịu khó tìm hiểu trao dồi kiến thức qua sách, vở,
báo ,chuyện ….tự tìm tòi học hỏi, tự phát hiện những kiến thức cho bản thân .
17
Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm mà tôi đã nghiên cứu và thực nghiệm có
hiệu quả trong quá trình giảng dạy phân môn Tập làm văn nói lớp 5. Rất mong
được sự đóng góp của các bạn đồng nghiệp và các cấp quản lý để sáng kiến của tôi
có thể áp dụng rộng rãi trong các trường tiểu học nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục toàn diện đối với học sinh Tiểu học.
Xuyên Mộc, ngày 22 tháng 02 năm 2012
Người viết
Bành Thị Cảnh
Tài liệu tham khảo
1 . Hoàng Hòa Bình : Dạy văn cho học sinh tiểu học NXB giáo dục năm 1999
2. PGS.TS.Đỗ Đình Hoan : Một số vấn đề cơ bản của chương trình tiểu học mới :
NXB : Giáo dục năm 2002.
3. Nguyễn Trí : Dạy tập làm văn ở trường tiểu học .NXB : giáo dục năm 2003
4 . Trần Hoàng Túy : Để học tốt các môn học lớp 5 .NXB : giáo dục năm 2006
5. Nguyễn Xuân Hòa: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy các môn học lớp 5 NXB-
GD năm 2006.
6. Nguyễn Thị Kim Dung, Hồ Thị vân Anh Tập làm văn 5. Biên soạn theo chương
trình mới. NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh năm 2007
7. Nguyễn Minh Thuyết : Tiếng việt 5 (sách giáo viên) Tập 1-2 NXB: giáo dục
năm 2008.
8. Nguyễn Minh Thuyết : Tiếng việt 5 (sách giáo khoa) Tập 1-2 NXB: giáo dục
năm 2009.
9. Hoàng Hòa Bình, Lê Minh Châu,…. Giáo dục kĩ năng sống trong các môn học ở
Tiểu học. NXB: giáo dục năm 2010
Nhận xét của Hội đồng khoa học
trường Tiểu học Xuyên Mộc
……………………………………………………………………………….


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status