Câu 1:
Tìm hiểu về cao trào cách mạng 1930 - 1931
1. Hoàn cảnh lịch sử của cao trào
Vào năm 1929 đến 1933, thế giới tư bản chủ nghĩa bị khủng hoảng kinh tế
trầm trọng. Đế quốc Pháp trút tất cả gánh nặng cuộc khủng hoảng ở Pháp lên vai
các thuộc địa. Đông Dương bị kéo vào cuộc khủng hoảng đó nên đã chịu những
hậu quả thảm khốc là: nông dân bị phá sản, bị chết đói; công nhân ngày càng bị
bóc lột nặng nề, thất nghiệp; giai cấp tư sản vừa ra đời đã bị tư sản Pháp bóp
nghẹt.
Hành động đàn áp, khủng bố của thực dân Pháp diễn ra khắp nơi gây
không khí chính trị căng thẳng. Mâu thuẫn giữa nhân dân ta và thực dân Pháp
ngày càng gay gắt, đẩy nhân dân ta vùng lên đấu tranh mạnh mẽ hơn, quyết liệt
hơn với kẻ thù để giành lấy cuộc sống.
Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo cuộc đấu
tranh chống đế quốc và phong kiến. Cơ sở Đảng tuy chưa nhiều, song đã trở
thành hạt nhân của phong trào cách mạng. Những tổ chức quần chúng cách
mạng được thành lập ở nhiều nơi. Đường lối của Đảng đã phản ánh đúng
nguyện vọng của quần chúng, được tuyên truyền rộng rãi, làm cho ý thức giác
ngộ của quần chúng ngày một nâng cao.
Phong trào đấu tranh của quần chúng đã bùng lên mạnh mẽ dẫn đến cao
trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh.
2. Diễn biến của cao trào
Nhiệm vụ của Đảng là "phải lấy những sự nhu yếu hàng ngày làm bước
đầu mà dắt vô sản giai cấp và dân cày ra chiến trường cách mạng... để dự bị họ
về phía võ trang bạo động sau này". Hương hướng đấu tranh đó, phong trào
công nông được dấy lên từ cuối nǎm 1929 đến nǎm 1930. Tiếp theo cuộc đấu
tranh của công nhân đồn điền Phú Riềng (Nam Bộ) tháng 2-1930, cuộc bãi công
của 4.000 công nhân nhà máy sợi Nam Định kéo dài ba tuần lễ, từ ngày 25 tháng
3 đến ngày 16 tháng 4 do Tỉnh uỷ Nam Định và Đảng uỷ nhà máy tổ chức. Ngay
sau đó ngày 19 tháng 4, 400 công nhân nhà máy diêm Bến Thuỷ, thành phố
1
2
xiềng gông, giải phóng những người bị bắt. Trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ
của quần chúng, bọn thực dân, phong kiến hoảng sợ, nhiều tên tri huyện, lý
trưởng nộp lại ấn tín hoặc chạy trốn, nhiều nơi chính quyền địch tan rã. Trong
tình hình đó, Xô viết Nghệ Tĩnh, một hình thức chính quyền đâu tiên của công
nông trong lịch sử cách mạng Việt Nam xuất hiện.
Xây dựng được đội quân chủ lực của cách mạng, thực hiện được liên
minh công nông là một thành tích nổi bật của Đảng ta trong cao trào cách mạng
1930-1931 và Xô viết Nghệ Tĩnh.
Thực tế lịch sử cho thấy, trong cao trào cách mạng 1930-1931 và Xô viết
Nghệ Tĩnh, công nông thể hiện một nghị lực cách mạng Phi thường và sức mạnh
to lớn. Hàng triệu nông dân đã đứng lên cùng với giai cấp công nhân phối hợp
đấu tranh chống đế quốc, phong kiến.
Đó là nhờ Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đúng, gắn nhiệm vụ chống đế
quốc với nhiệm vụ chống phong kiến, thực hiện giải phóng dân tộc và ruộng đất
cho dân cày, đáp ứng nguyện vọng thiết tha của công nông.
3. Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm của cao trào
a. Ý nghĩa
Cao trào 1930-1931 và Xô viết Nghệ Tĩnh phản ánh đường lối chống đế
quốc và phong kiến trong cương lĩnh của Đảng là đúng đắn. Khối liên minh giữa
2 giai cấp công nhân và nông dân đã được thiết lập trong thực tế đấu tranh.
Đảng đã xác lập được quyền lãnh đạo, kiểm nghiệm được đường lối, rèn
luyện được đội ngũ cán bộ, đảng viên của mình. Bản thân quần chúng qua cao
trào đã tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng- lực lượng duy nhất có thể đưa cách
mạng Việt Nam đến thắng lợi, đồng thời cũng tin tưởng vào khả năng cách
mạng của bản thân mình. Cao trào cách mạng 1930-1931 là một cuộc tổng diễn
tập giành chính quyền của nhân dân ta và Đảng ta.
b. Bài học kinh nghiệm
Cao trào 1930-1931 đã để lại cho Đảng ta kinh nghiệm bước đầu về kết
hợp 2 nhiệm vụ chiến lược: chống đế quốc và chống phong kiến, kết hợp phong
Thượng Hải (Trung Quốc) do đồng chí Lê Hồng Phong chủ trì đã nhận định:
Nhiệm vụ cách mạng tư sản dân quyền là đánh đổ đế quốc Pháp, giành độc lập
4
dân tộc, xóa bỏ giai cấp địa chỉ, thực hiện người cày có ruộng không hề thay đổi,
nhưng chưa phải là nhiệm vụ cách mạng trực tiếp trong lúc này. Yêu cầu cấp
thiết trước mắt của nhân dân Đông Dương là tự do, dân chủ, cải thiện đời sống.
Phải thành lập mặt trận nhân dân phản đế rộng rãi “bao gồm các giai cấp, các
đảng phái, các đoàn thể chính trị và tín ngưỡng tôn giáo khác nhau đấu tranh đòi
những điều dân chủ đơn sơ....”.
Hội nghị đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa mục tiêu chiến lược
với mục tiêu cụ thể trước mặt của cách mạng nước ta. Do đó đã nhanh chóng
đưa phong trào cách mạng của quần chúng lên một giai đoạn mới.
2. Diễn biến của cao trào
Thành phần tham gia Mặt trận dân chủ rộng hơn Mật trận phản đế. Mặt
trận dân chủ không chỉ có các lực lượng tiên tiến, kiên quyết chống đế quốc mà
gồm cả những thành phần chỉ có yêu cầu cải cách, không chỉ có quần chúng cơ
bản là công nhân, nông dân mà còn có cả những tầng lớp tư sản, địa chủ, các
đảng phái cải lương ít nhiều tiến bộ, các thủ lĩnh dân tộc, tôn giáo đấu tranh cho
dân chủ, tự do cơm áo, hoà bình.
Mặt trận không chỉ bao gồm những người tán thành dân chủ thuộc ba
nước Đông Dương, mà còn thu hút cả những ngoại kiều như Hoa kiều, Pháp
kiều tán thành mục tiêu này. Để tập hợp đồng đảo quần chúng, trong chính sách
mặt trận, Đảng coi trọng liên minh các tầng lớp, giai cấp cơ bản, vừa thực hiện
liên minh các tầng lớp, giai cấp cơ bản, vừa thực hiện liên minh với các tầng lớp
trên, lấy liên minh công nông làm nền tảng.
Các nghị quyết của Đảng thời kỳ này vạch rõ tình hình mới đòi hỏi Đảng
phải có đường lối chính trị mới và có phương pháp hoạt động mới. Phương pháp
phải rất linh hoạt nhằm đoàn kết đồng đảo quần chúng trong một mặt trận thống
nhất chống phản động thuộc địa, chống phátxít và chiến tranh, đòi tự do, dân
chủ.
dụng mọi hình thức tổ chức và đấu tranh, chống khuynh hướng bảo thủ, rụt rè,
đồng thời chống chủ nghĩa công khai, hợp pháp, không coi trọng xây dựng đảng
6