luận văn quản trị kinh doanh THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM MỲ ĂN LIỀN CÔNG TY TNHH KINH DOANH VÀ CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC HÀ VIỆT - Pdf 27

MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1: Tổ chức cơ bản Error: Reference source not found
Sơ đồ 2: Tổ chức bán hàng Error: Reference source not found
Sơ đồ 3: Qui trình sản xuất Mỳ ăn liền Error: Reference source not found
Sơ đồ 4: Doanh thu công ty Error: Reference source not found
Sơ đồ 5: Thị phần mỳ ăn liền phân khúc thấp cấp. Error: Reference source not found
Sơ đồ 6: Mô hình thiết lập hệ thống lực lượng bán hàng Error: Reference source not
found
Bảng 1: Khảo sát một số loại mỳ ăn liền cao cấp. .Error: Reference source not found
Bảng 2: Tiêu chí khảo sát Error: Reference source not found
Bảng 3: Đối thủ cạnh tranh Error: Reference source not found
Bảng 4: Chương trình dành cho nhà phân phối Error: Reference source not found
Bảng 5: Chương trình khuyến mại cơ bản Error: Reference source not found
Bảng 6: Chương trình kích thích tiêu thụ Error: Reference source not found
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ CẠNH TRANH
1.1.THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ THỊ TRƯỜNG VỚI HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm về thị trường.
Theo cách hiểu cổ điển thì thị trường là nơi diễn ra các quá trình trao đổi và
mua bán.Trong thuật ngữ kinh tế hiện đại, thị trường là nơi mua bán hàng hoá, là
nơi gặp gỡ để tiến hành hoạt động mua bán giữa người mua và người bán.
Thị trường là sự kết hợp giữa cung và cầu trong đó những người mua và
những người bán bình đẳng cùng cạnh tranh. Số lượng người mua, người bán nhiều
hay ít phản ánh quy mô của thị trường lớn hay nhỏ. Việc xác định nên mua hay nên
bán hàng hoá và dịch vụ với khối lượng và giá cả bao nhiêu do cung cầu quyết định.
Từ đó ta thấy thị trường còn là nơi thực hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa hai khâu sản
xuất và tiêu thụ hàng hoá.Như vậy sự hình thành của thị trường đòi hỏi phải có:
+ Đối tượng trao đổi: Sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ .

xuất ra hàng hoá ra để bán, để thoả mãn nhu cầu của người khác. Vì thế các doanh
nghiệp không thể tồn tại một cách đơn lẻ mà mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
đều phải gắn với thị trường. Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn
ra không ngừng theo chu kỳ mua nguyên vật liệu, vật tư, thiết bị… trên thị trường
đầu vào, tiến hành sản xuất ra sản phẩm, sau đó bán chúng trên thị trường đầu ra.
Doanh nghiệp chịu sự chi phối của thị trường hay nói cách khác thị trường đã
tác động và có ảnh hưởng quyết định tới mọi khâu của quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Thị trường càng mở rộng và phát triển thì lượng hàng hoá
tiêu thụ được càng nhiều và khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp càng cao và ngược lại. Bởi thế còn thị trường thì còn sản xuất kinh doanh,
mất thị trường thì sản xuất kinh doanh bị đình trệ và các doanh nghiệp sẽ có nguy
cơ bị phá sản. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, có thể khẳng định rằng thị
trường có vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
 Thị trường điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá :
Thị trường đúng vải trị hướng dẫn sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị
trường. Các nhà sản xuất kinh doanh căn cứ vào cung cầu, giá cả thị trường để
quyết định sản xuất kinh doanh cái gì? Như thế nào ? và cho ai? Sản xuất kinh
doanh đều phải xuất phát từ nhu cầu của khách hàng và tìm mọi cách thoả mãn nhu
cầu đó chứ không phải xuất phát từ ý kiến chủ quan của mình. Bởi vì ngày nay nền
sản xuất đã phát triển đạt tới trình độ cao, hàng hoá và dịch vụ được cung ứng ngày
càng nhiều và tiêu thụ trở nên khó khăn hơn trước. Do đó, khách hàng với nhu cầu
2
có khả năng thanh toán của họ, bộ phận chủ yếu trong thị trường của doanh nghiệp,
sẽ dẫn dắt toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
 Thị trường phản ánh thế và lực của doanh nghiệp :
Mỗi doanh nghiệp hoạt động trên thương trường đều có một vị thế cạnh tranh
nhất định. Thị phần ( phần thị trường mà doanh nghiệp chiếm lĩnh được ) phản ánh
thế và lực của doanh nghiệp trên thương trường.
Thị trường mà doanh nghiệp chinh phục được càng lớn chứng tỏ khả năng thu
hút khách hàng càng mạnh, số lượng sản phẩm tiêu thụ được càng nhiều và do đó

uy tín tốt đối với khách hàng là cơ sở tạo nên sự quan tâm của khách hàng đến sản
phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp.
Mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu: ảnh hưởng đến một loại sản phẩm với
nhãn hiệu cụ thể của doanh nghiệp.
Khả năng thích ứng: Là khả năng thích nghi với sự thay đổi của mô
trường kinh doanh của doanh nghiệp để đảm bảo sự tồn tại và phát triển.
Sự linh hoạt, nhạy bén của những người quản lý doanh nghiệp: Sự nhạy
bén của những người quản lý doanh nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho doanh
nghiệp nắm bắt được các cơ hội sản xuất kinh doanh, cơ hội phát triển trên thị
trường.
Kinh nghiệm kinh doanh trên thương trường: Bao gồm những phương
pháp chiến thuật, chiến lược trong kinh doanh. Đây là một tài sản vô hình tạo nên
lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Vị thế của doanh nghiệp trên thương trường: Được đánh giá trên cơ sở uy
tín, hình ảnh, thị phần… Những doanh nghiệp có vị thế cao trên thương trường rất
thuận lợi trong cạnh tranh. Những công ty này có khả năng đa dạng hoá sản phẩm,
phát triển thị trường để nâng cao khả năng cạnh tranh.
Hệ thống đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ: Tiêu chuẩn
chất lượng mà doanh nghiệp áp dụng nhằm đảm bảo cho chất lượng sản phẩm của
mình. Qua việc áp dụng các tiêu chuẩn, hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm, dịch
vụ làm cho khách hàng tin tưởng khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ.
Lợi thế về vốn và chi phí: Đây là một nhân tố rất quan trọng khi sản phẩm
của các doanh nghiệp trên thị trường là tương đối đồng nhất thì việc giảm giá bán là
một biện pháp rất có hiệu quả để tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
b. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trường
1) Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
- Nguồn nhân lực. Nhân lực là yếu tố quyết định đến sản xuất kinh doanh,
nó bao gồm một số nội dung chủ yếu sau:
4

giữa các đối thủ cạnh tranh trong một ngành được xem là cạnh tranh quyết liệt nhất.
a. Các đối thủ tiềm năng
Việc gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới trực tiếp làm giảm tính
5
chất quy mô cạnh tranh do tăng năng lực sản xuất và khối lượng sản xuất trong
ngành. Sự xuất hiện của các đối thủ mới có khả năng gây ra những cú sốc mạnh cho
các doanh nghiệp hiện tại vì thông thường những người đi sau thường có nhiều căn
cứ cho việc ra quyết định và những chiêu bài của họ thường có tính bất ngờ.
Đối thủ tiềm năng là những người mà ý tưởng “nhảy vào cuộc” của họ được
hình thành trong quá trình theo dõi, chứng kiến, phân tích và đi đến những nhận
định cuộc cạnh tranh hiện đại. Tính không hiện diện như là một bức bình phong che
chắn cho hướng suy tính và hành động của đối thủ tiềm năng.
Để chống lại các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, các doanh nghiệp thường thực
hiện các chiến lược phân biệt sản phẩm, nâng cao chất lượng, bổ sung thêm những
đặc điểm mới của sản phẩm, không ngừng cải tiến, hoàn thiện sản phẩm nhằm làm
cho sản phẩm của mình có những đặc điểm khác biệt hoặc nổi trội trên thị trường,
hoặc phấn đấu giảm chi phí sản xuất, tiêu thụ.
b. Sức ép của người cung ứng
Với vai trò là người cung cấp các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, quyền
lực của nhà cung ứng được thể hiện thông qua sức ép về giá nguyên vật liệu. Một số
những đặc điểm sau của nhà cung ứng có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc cạnh tranh
trong ngành:
- Số lượng người cung ứng: Thể hiện mức cung nguyên vật liệu và mức độ
lựa chọn nhà cung ứng của các doanh nghiệp cao hay thấp. Nhiều nhà cung ứng tạo
ra sự cạnh tranh trên thị trường nguyên vật liệu, nó có tác dụng làm giảm chi phí
đầu vào cho các nhà sản xuất.
- Tính độc quyền của nhà cung ứng: Tạo ra cho họ những điều kiện để ép
giá các nhà sản xuất, gây ra những khó khăn trong việc cạnh tranh bằng giá cả.
- Mối liên hệ giữa các nhà cung ứng và nhà sản xuất: Khi mà cung ứng đồng
thời là một đơn vị sản xuất kinh doanh trong cùng một tổ chức với nhà sản xuất thì

xu thế cải thiện việc đánh đổi tình hình giá cả của chung lấy của ngành và hai là do
ngành có lợi nhuận cao. Trong trường hợp sau, các sản phẩm thay thế sẽ ồ ạt nhảy
vào cuộc nếu sự phát triển trong bản thân ngành do làm tăng cường độ cạnh tranh
trong nội bộ ngành và đòi hỏi giảm giá hoặc cải thiện tình hình hoạt động.
Sản phẩm thay thế thường có sức cạnh tranh cao hơn do được sản xuất trên
những dây truyền sản xuất tiên tiến hơn. Mặc dù phải chịu sự chống trả của các sản
phẩm bị thay thế nhưng các sản phẩm thay thế có nhiều ưu thế hơn, do đó sẽ dần
dần thu hẹp thị trường của các sản phẩm bị thay thế (đặc biệt là các sản phẩm mà
nhu cầu thị trường xã hội bị chặn). Sản phẩm thay thế phát triển sẽ làm giảm khả
năng cạnh tranh của sản phẩm bị thay thế. Cách khắc phục của doanh nghiệp này là
7
hướng tới sản phẩm mới hay các khách hàng tìm kiếm độ thoả dụng mới.
e. Sức ép của các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có trong ngành là một trong những
yếu tố phản ánh bản chất của môi trường này. Sự có mặt của các đối thủ cạnh tranh
chính trên thị trường và tình hình hoạt động của chúng là lực lượng tác động trực
tiếp mạnh mẽ, tức thì tới quá trình hoạt động của các doanh nghiệp. Trong một
ngành bao giờ cũng gồm nhiều doanh nghiệp khác nhau, nhưng thường trong đó chỉ
có một số đóng vai trị chủ chốt như những đối thủ cạnh tranh chính có khả năng chi
phối khống chế thị trường.
1.2.2 Các công cụ sử dụng để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
 Cạnh tranh bằng đặc tính sản phẩm và chất lượng sản phẩm
Sản phẩm của doanh nghiệp là một hệ thống thống nhất các yếu tố có liên
quan chặt chẽ với nhau nhằm thoả mãn đồng bộ các yêu cầu của khách hàng bao
gồm sản phẩm vật chất, bao bì, nhãn hiệu, các dịch vụ kèm theo
Gắn liền với sản phẩm là khái niệm về chất lượng. Sản phẩm và chất lượng của
sản phẩm là một công cụ cạnh tranh quan trọng của các doanh nghiệp trên thị trường,
bởi vì khách hàng luôn có xu hướng so sánh sản phẩm của doanh nghiệp này với sản
phẩm của doanh nghiệp khác nhằm lựa chọn cho mình cái tốt nhất. Người tiêu dùng
thường quan tâm trước tiên đến chất lượng khi lựa chọn một sản phẩm nào đó, nhiều

nghiệp. Chính sách này được thể hiện là với cùng một loại sản phẩm nhưng có
nhiều mức giá khác nhau và các mức giá đó được phân biệt theo nhiều tiêu thức
khác nhau. Ví dụ người mua nhiều được ưu đãi giá hơn so với người mua ít (phân
biệt theo lượng mua), người thanh toán ngay được ưu đãi giá hơn so với người trả
chậm (phân biệt theo phương thức thanh toán). Ngoài ra còn có phân biệt theo
lượng mua, theo phương thức thanh toán, theo thời gian…
- Chính sách bán phá giá: Giá bán thấp hơn hẳn so với giá thị trường, thậm
chí còn thấp hơn cả giá thành. Doanh nghiệp sử dụng chính sách này nhằm đánh bại
đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường. Nhưng để làm được điều này doanh nghiệp
phải có thế mạnh về tài chính, tiềm lực khoa học công nghệ và uy tín trên thương
trường. Việc bán phá giá chỉ thực hiện trong thời gian nhất định để có thể loại bỏ
được những đối thủ nhỏ, khó loại bỏ được những đối thủ lớn. Tuy nhiên trong nhiều
trường hợp doanh nghiệp không được sử dụng chính sách này do luật chống bán
phá giá mà nhà nước quy định.
 Xúc tiến bán hàng
. Xúc tiến bán hàng được hiểu là: các hoạt động có chủ đích trong lĩnh vực
marketing của các doanh nghiệp nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội bán hàng hoá và
cung ứng dịch vụ. Nội dung của xúc tiến bán hàng được xác định bao gồm các nội
9
dung chủ yếu: quảng cáo bán hàng, khuyến mại, tham gia hội chợ triển lãm, bán
hàng trực tiếp và quan hệ công chúng.
 Cạnh tranh bằng nghệ thuật phân phối, tiêu thụ sản phẩm
Kênh phân phối là con đường mà hàng hoá được lưu thông từ nhà sản xuất
đến người tiêu dùng. Nhờ có mạng lưới kênh phân phối mà khắc phục được những
khác biệt về thời gian địa điểm và quyền sở hữu giữa người sản xuất với người tiêu
dùng các hàng hoá, dịch vụ. Các kênh phân phối phải thực hiện các chức năng chủ
yếu sau: Nghiên cứu thị trường, Xúc tiến khuyếch trương, Phân phối vật chất, Thiết
lập các mối quan hệ
Hiện nay, các doanh nghiệp sử dụng nhiều hình thức khác nhau để phân phối
hàng hoá tới người tiêu dùng nhưng về lý thuyết có hai loại kênh phân phối cơ bản

- Chiến lược hiện tại của đối thủ, khả năng đối thủ chuyển dịch và đổi
hướng chiến lược của họ.
- Vị trí của đối thủ trong ngành và thái độ của đối thủ đối với vị trí hiện tại
của họ. Điều gì các đối thủ muốn đạt tới trong tương lai.
- Các đối thủ sẽ phản ứng và hành động như thế nào trước chiến lược cũng
như các chính sách, giải pháp mà doanh nghiệp sẽ đưa ra.
1.2.3.2 Nghiên cứu tiềm năng và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Tiềm năng cạnh tranh của doanh nghiệp là những khả năng cạnh tranh tiềm ẩn
mà doanh nghiệp chưa tận dụng hết và có thể khai thác được trong tương lai.
Nghiên cứu tiềm năng và khả năng cạnh tranh trước hết là phân tích thực trạng
tình hình cạnh tranh của doanh nghiệp. Đâu là mặt mạnh, đâu là mặt yếu của doanh
nghiệp. Doanh nghiệp đã làm được những gì để phát huy những điểm mạnh của
mình trong cạnh tranh và những nhân tố nào, những vướng mắc nào làm hạn chế
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần làm gì để duy trì và phát
triển những lợi thế cạnh tranh đang có. Tiếp theo, doanh nghiệp phải tìm hiểu xem
những nhân tố nào cần phát huy để nâng cao khả năng cạnh tranh trong tương lai.
Đó có thể là các yếu tố thuộc về doanh nghiệp mà cũng có thể xuất phát từ môi
trường kinh doanh.
1.2.3.3 Xác định mục tiêu cạnh tranh của doanh nghiệp
Mục tiêu là kết quả mong muốn cuối cùng của các cá nhân, nhóm hay toàn bộ
tổ chức. Mục tiêu chỉ ra phương hướng cho tất cả các quyết định quản trị và hình
thành nên những tiêu chuẩn đo lường cho việc thực hiện trong thực tế. Vì vậy, sau
khi nghiên cứu tiềm năng và khả năng cạnh tranh của mình thì việc đề ra mục tiêu
cạnh tranh là rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp vì nó là xuất phát điểm, là
nền tảng cho việc lập các kế hoạch các chiến lược cạnh tranh sau này.
 Các loại mục tiêu cạnh tranh của doanh nghiệp
11
• Xét theo tính chất cụ thể của mục tiêu: Mục tiêu tổng quát, Mục tiêu cụ
thể
• Xét theo thời gian : Mục tiêu dài hạn và Mục tiêu ngắn hạn

12
triển, bán hàng và marketing.
• Chiến lược trọng tâm hoá
Mục tiêu của chiến lược này là tập trung đáp ứng cầu của một nhóm hữu hạn
người tiêu dùng hoặc đoạn thị trường.
Các giải pháp chủ yếu của chiến lược này bao gồm
- Tuỳ thuộc doanh nghiệp theo đuổi sự khác biệt hoá sản phẩm và hạ thấp
chi phí đến mức nào mà sự khác biệt sản phẩm có thể cao hoặc thấp.
- Tập trung phục vụ một hoặc vài đoạn thị trường chứ không phải là toàn bộ
thị trường (như doanh nghiệp lựa chọn chiến lược dẫn đầu về chi phí) hay phục vụ
một số lớn hơn các đoạn (như doanh nghiệp lựa chọn chiến lược khác biệt hoá).
- Doanh nghiệp có thể phát triển bất kỳ một năng lực đặc biệt nào nhằm tạo
ra lợi thế cạnh tranh cho mình.
 Các chiến lược cạnh tranh cho từng loại doanh nghiệp
• Các doanh nghiệp dẫn đầu thị trường
Trường hợp doanh nghiệp chọn mục tiêu tăng trưởng nhanh và chiến lược tập
trung. Khi đó chiến lược cạnh tranh phải nhằm vào quy mô thị trường và tăng thị
phần của doanh nghiệp bằng nhiều cách như thu hút khách hàng, khác biệt hoá và
tìm công dụng mới của sản phẩm.Trường hợp doanh nghiệp chọn mục tiêu tăng
trưởng ổn định và chiến lược tập trung. Khi đó có thể lựa chọn các chiến lược chủ
yếu sau:
- Chiến lược đổi mới: phát triển các loại sản phẩm mới, dịch vụ và cách
thức phân phối mới để duy trì vị trí đứng đầu ngành.
- Chiến lược củng cố: chủ động bảo toàn sức mạnh trên thị trường dựa vào
việc chú trọng giữ mức giá hợp lý, đưa ra sản phẩm với quy mô, hình thức, mẫu mã
mới.
- Chiến lược đối đầu: đảm bảo khả năng phản ứng nhanh, linh hoạt và trực
tiếp trước đối thủ thách thức thông qua “chiến tranh“ giá cả, khuyến mãi hoặc giành
giật đại lý.
- Chiến lược quấy nhiễu: cố ý tác động tiêu cực tới người cung ứng hoặc

- Phân phối các nguồn lực.
- Hoạch định và thực thi các chính sách kinh doanh.
- Quản trị sự thay đổi, thích nghi giữa sản xuất
14
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA
SẢN PHẨM MỲ ĂN LIỀN CÔNG TY TNHH KINH DOANH VÀ CHẾ BIẾN
LƯƠNG THỰC HÀ VIỆT
2.1 Thị trường và tình hình cạnh tranh trong lĩnh vực thực phẩm nói
chung và mặt hàng Mỳ Tôm nói riêng
2.1.1 Khái quát chung lĩnh vực thực phẩm
a. Khái niệm kinh doanh thực phẩm
Kinh doanh thực phẩm là một trong số hàng nghìn hình thức kinh doanh, là
lĩnh vực kinh doanh hàng tiêu dùng, nó có đặc điểm chung với kinh doanh thông
thường nhưng có những đặc điểm riêng đó là:
- Người tiêu dùng ít hiểu biết về hàng hoá có hệ thống: trên thị trường có tới
hàng chục ngàn mặt hàng, dự người ta đã tận dụng được nhiều phương pháp giới
thiệu hàng hoá, về doanh nghiệp nhưng người tiêu dùng vẫn chưa hiểu rõ hết được
về địa chỉ sản xuất, chất lượng, đặc tính, công dụng và cách thức sử dụng của tất cả
các loại hàng hoá.
- Sức mua trên thị trường biến đổi lớn, theo thời gian, theo địa phương…người
tiêu dùng có thể cân nhắc rất kỹ khi cần mua sắm nhất là vào thời điểm có rất nhiều
hàng tiêu dùng có khả năng thay thế lẫn nhau.
- Sự khác biệt về người tiêu dùng rất lớn: giữa tầng lớp dân cư, địa vị, các tập
đoàn khác nhau về nghề nghiệp, dân tộc, giới tính, trình độ văn hóa, độ tuổi, tập
quán sinh hoạt nên sự hiểu biết và tiêu dùng của họ về các loại sản phẩm về thực
phẩm khác biệt nhau.
- Nhiều người mua vì hàng thực phẩm gắn với cuộc sống hàng ngày của nhân
dân, các thành viên trong xã hơi đều có nhu cầu tiêu dùng nhưng mỗi lần mua
không nhiều, lặt vặt và phân tán vì nhu cầu đời sống rất đa dạng.

với các lĩnh vực sản xuất, các doanh nghiệp thương mại, đại lý bán buôn bán lẻ có
thể nhận được các sản phẩm, vật tư kỹ thuật đầu vào một cách kịp thời, đồng bộ,
đúng số lượng, chất lượng. Đối với lĩnh vực tiêu dùng, các cá nhân có thể dễ dàng
thoả mãn nhu cầu về hàng thực phẩm trên thị trường một cách kịp thời và văn minh,
nhờ hàng loạt các cửa hang, quầy hàng, siêu thị… Cung cấp cho mọi người, mọi gia
đình và các nhu cầu đa dạng của mọi tầng lớp dân cư, lứa tuổi, nghề nghiệp. Nó có
tác dụng nữa là kích thích nhu cầu, gợi mở nhu cầu, hướng người tiêu dùng tới
những hàng thực phẩm có chất lượng cao, thuận tiện trong sử dụng, đồng thời đa
dạng về sản phẩm với phong cách phục vụ đa dạng, văn minh, hiện đại.
- Vai trò của kinh doanh thực phẩm đối với sự phát triển của doanh nghiệp
Kinh doanh thực phẩm từ khâu mua nguyên liệu đầu vào, sản xuất chế biến và
16
khâu tiêu thụ sản phẩm, khâu nào cũng quan trọng để tăng hiệu quả của hoạt động
kinh doanh nếu một khâu nào đó hoạt động kém, chậm tiến độ sẽ ảnh hưởng tới
khâu khác. Nhưng phải nói rằng trong kinh doanh nói chung và kinh doanh thực
phẩm nói riêng thì tiêu thụ hàng hoá là giai đoạn quan trọng, vì nó ảnh hưởng trực
tiếp tới các khâu khác, tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Để tiếp tục, đẩy
mạnh kinh doanh trên thị trường thì doanh nghiệp hoạt động trong ngành thực phẩm
luôn tìm cách tái sản xuất, mở rộng thị trường sao cho có nhiều sản phẩm đáp ứng
được tối đa nhu cầu của khách hàng.
Đối với ngành thực phẩm tiêu thụ sản phẩm có vai trò quan trọng trong việc
duy trì và phát triển mở rộng thị trường. Tiêu thụ được càng nhiều sản phẩm tức là
sản phẩm về thực phẩm đã được thị trường chấp nhận, và cầng có nhiều khách hàng
biết tới sản phẩm, biết tới thương hiệu, và biết tới doanh nghiệp kinh doanh thực
phẩm đó.
Tiêu thụ thực phẩm trong doanh nghiệp còn góp phần nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thông qua chỉ tiêu lợi nhuận, tốc độ quay của
vốn, mức chi phí trên một đồng vốn. Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế
phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình kinh doanh ở doanh nghiệp
nhằm đạt kết quả cao nhất, với chi phí nhỏ nhất. Nó không chỉ là thước đo trình độ

thực phẩm đẩy tới mức cao nhất trong chu kỳ kinh doanh ( vào gần tết Nguyên Đán
hàng năm ). Từ đó nâng cao chất lượng của sản phẩm, hạ giá thành trên một đơn vị
sản phẩm, giúp cho doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thực phẩm thắng thế
trong cạnh tranh kể cả với cả những sản phẩm thay thế, lợi nhuận ngày một tăng.
c. Nội dung của kinh doanh thực phẩm
- Hoạt động mua sắm vật tư cho sản xuất (tạo nguồn)
Để hoạt động sản xuất và tiêu thụ được diễn ra liên tục không bị gián đoạn đòi
hỏi phải bảo đảm thường xuyên, liên tục nguyên nhiên vật liệu và máy móc thiết
bị… Chỉ có thể đảm bảo đủ số lượng, đúng mặt hàng và chất lượng cần thiết với
thời gian quy định thì sản xuất mới có thể được tiến hành bình thường và sản xuất
kinh doanh mới có hiệu quả. Vật tư (nguyên, nhiên vật liệu…) cho sản xuất ở các
doanh nghiệp đóng vai trị hết sức quan trọng, góp phần nâng cao trình độ công
nghệ, nâng cao sức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá đất nước. Nguyên
liệu đầu vào cho sản xuất thực phẩm như: các sản phẩm nông sản tươi, khô (gạo, ớt,
măng, tỏi, đậu nành, mía, dưa…), các thiết bị máy móc, vốn, cơ sở hạ tầng, điện, nước.
Đảm bảo tốt vật tư cho sản xuất là đáp ứng các yêu cầu về số lượng, chất
lượng, đúng thời gian, chủng loại và đồng bộ. Điều này ảnh hưởng tới năng suất của
doanh nghiệp, đến chất lượng của sản phẩm, đến việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm
vật tư, đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh,
18
đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
- Xác định nhu cầu
Mỗi loại vật tư đều có những đặc tính cơ, lý, hoá học và trạng thái khác nhau,
có nhu cầu tiêu dùng cho các đối tượng khác nhau. Doanh nghiệp thực phẩm phải
tính toán, dựa vào các chỉ tiêu để xác định được nhu cầu cần tiêu dùng trong kỳ
kinh doanh, số lượng nguyên nhiên, vật liệu loại gì chất lượng ra sao để sản xuất
thực phẩm. Đồng thời doanh nghiệp phải nghiên cứu xác định khả năng của nguồn
hàng, để có thể khai thác đặt hàng và thu mua đáp ứng cho nhu cầu của sản xuất,
nguồn hàng có thể mua lại của các nhà kinh doanh khác hay tới tận nơi trồng trọt
chăn nuôi để thu mua nguyên vật liệu.

doanh nghiệp lên đơn hàng vật tư và tổ chức thực hiện việc đảm bảo vật tư cho sản
xuất. Lên đơn hàng là quá trình cụ thể hoá nhu cầu, là việc xác định tất cả các quy
cách, chủng loại và thời gian nhận hàng, lập đơn hàng là công việc hết sức quan
trọng của quá trình tổ chức mua sắm vật tư, vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình
mua sắm vật tư và hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Bất cứ một sai sót nào cũng có thể dẫn tới việc đặt mua những vật tư mà nhu cầu
sản xuất không cần tới hoặc không đủ so với nhu cầu. Để lập được đơn hàng chính
xác bộ phận lập đơn hàng phải tính đến các cơ sở như: nhiệm vụ sản xuất, hệ thống
định mức tiêu dùng vật tư, định mức dự trữ vật tư, lượng tồn kho, kế hoạch tác
nghiệp đảm bảo vật tư quý, tháng … Nhiệm vụ quan trọng trong công tác lập đơn
hàng là chọn và đặt mua những loại vật tư hàng hoá có hiệu quả kinh tế cao.
- Tổ chức chuyển đưa vật tư về doanh nghiệp
Vận chuyển vật tư hàng hoá về doanh nghiệp đóng vai trị quan trọng trong
việc đảm bảo vật tư kịp thời, đầy đủ và đồng bộ cho sản xuất. Công việc này ảnh
hưởng trực tiếp tới việc giữ gìn số lượng, chất lượng vật tư hàng hoá, đảm bảo sử
dụng có hiệu quả và hạ giá thành sản phẩm. Chuyển đưa vật tư về doanh nghiệp có
thể thực hiện bằng hình thức tập trung hoặc phi tập trung tuỳ theo khối lượng vật tư
và tình hình cụ thể từng doanh nghiệp.
- Tiếp nhận và bảo quản vật tư về số lượng và chất lượng
Vật tư hàng hoá chuyển về doanh nghiệp trước khi nhập kho phải qua khâu
tiếp nhận về số lượng và chất lượng. Mục đích của tiếp nhận là kiểm tra số lượng và
chất lượng vật tư nhập kho, kiểm tra việc thực hiện hợp đồng và đưa hàng xem có
bảo đảm số lượng và chất lượng hay không để xác định rõ trách nhiệm của những
đơn vị và cá nhân có liên quan đến hàng nhập.
- Tổ chức cấp phát vật tư trong nội bộ doanh nghiệp
Cấp phát vật tư cho các đơn vị tiêu dùng trong doanh nghiệp (phân xưởng, tổ
đội sản xuất, nơi làm việc của công nhân) là một khâu công hết sức quan trọng. Tổ
20
chức tốt khâu này sẽ bảo đảm cho sản xuất của doanh nghiệp tiến hành được nhịp
nhàng, góp phần tăng năng suất lao động của công nhân, tăng nhanh vòng quay của

21
cứu thị trường, xác định nhu cầu của khách hàng, thực hiện các nghiệp vụ tiêu thụ,
xúc tiến bán hàng… nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất. Hoạt động tiêu thụ sản
phẩm ở các doanh nghiệp bao gồm hai loại quá trình liên quan trực tiếp tới sản
phẩm: các nghiệp vụ kỹ thuật sản xuất và các nghiệp vụ kinh tế, tổ chức và kế
hoạch hoá tiêu thụ. Việc chuẩn bị hàng hoá để xuất bán là nghiệp vụ tiếp tục sản
xuất trong khâu lưu thông, các nghiệp vụ sản xuất ở các kho bao gồm: tiếp nhận,
phân loại, bao gói, lên nhãn hiệu sản phẩm, xếp hàng ở kho, bảo quản và chuẩn bị
đồng bộ hàng để xuất bán và vận chuyển hàng theo yêu cầu của khách. Khi sản
phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ, tức là nó đã được người tiêu dùng chấp nhận
để thoả mãn một nhu cầu nào đó. Sức tiêu thụ sản phẩm ở doanh nghiệp thể hiện ở
mức bán ra, uy tín của doanh nghiệp, chất lượng của sản phẩm, sự thích ứng với
nhu cầu người tiêu dùng và sự hoàn thiện ở các hoạt động dịch vụ.
• Nghiên cứu thị trường:
. Khi nghiên cứu thị trường sản phẩm, doanh nghiệp phải giải đáp được các
yêu cầu:
- Đâu là thị trường có triển vọng đối với sản phẩm của doanh nghiệp?
- Khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường đó ra sao?
- Doanh nghiệp cần phải xử lý những biện pháp gì có liên quan và có thể sử
dụng những biện pháp nào để tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ?
- Những mặt hàng nào, thị trường nào có khả năng tiêu thụ với khối lượng lớn
phù hợp với năng lực và đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp?
- Với mức giá nào thì khả năng chấp nhận của thị trường là lớn nhất trong
từng thời kỳ.
- Yêu cầu chủ yếu của thị trường về mẫu mã, bao gói, phương thức thanh toán,
phương thức phục vụ.
- Tổ chức mạng lưới tiêu thụ và phương thức phân phối sản phẩm.
Nghiên cứu cần về một loại sản phẩm là phạm trù phản ánh một bộ phận nhu
cầu có khả năng thanh toán của thị trường về sản phẩm đó. Phải giải thích được sự
thay đổi của cầu, do những nhân tố nào sự ưu thích, thu nhập và mức sống của

doanh nghiệp cần phải lập kế hoạch từ trước, tiếp nhận đầy đủ về số lượng và chất
lượng hàng hoá từ các nguồn nhập kho (từ các phân xưởng, tổ đội sản xuất của
doanh nghiệp) theo đúng mặt hàng qui cách, chủng loại hàng hoá thông thường, kho
hàng hoá của doanh nghiệp đặt gần nơi sản xuất của doanh nghiệp, nếu kho hàng
đặt xa nơi sản xuất thì phải tổ chức tốt việc tiếp nhận hàng hoá bảo đảm kịp thời,
nhanh chóng, góp phần giải phóng nhanh phương tiện vận tải, bốc xếp, an toàn sản
phẩm, tiết kiệm chi phí lưu thông.
• Lựa chọn các hình thức tiêu thụ sản phẩm
23

Trích đoạn Giải pháp về đề xuất chiến lược áp dụng Giải pháp Marketing Giải pháp kênh phân phối và khuyến mại hỗ trợ các trung gian phân phố Cộng đồng người tiêu dùng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status