DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC BẢNG
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Khoá luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, các ngân hàng TMCP đều hướng tới phát triển
dịch vụ NHBL, đây là hướng đi hoàn toàn đúng đắn bởi vì:
Dịch vụ NHBL đã và đang trở thành xu hướng của các ngân hàng thương mại
trên thế giới cũng như ở Việt Nam vì sự cạnh tranh ngày càng mạnh và khốc liệt của
các dịch vụ tài chính cũng như sự tham gia của nhiều tổ chức phi tài chính khiến cho
các ngân hàng thương mại gặp khó khăn hơn trong việc tìm kiếm lợi nhuận; bên
cạnh đó, thị trường bán lẻ là một trận tuyến mới còn bỏ ngỏ, rất nhiều tiềm năng với
một nước đang phát triển đông dân cư và có tiềm năng tiêu dùng lớn trong tương lai
như nước ta.Đồng thời, sự đa dạng trong hoạt động kinh doanh ngày càng mạnh mẽ
chính là một trong những điểm mấu chốt để ngân hàng gia tăng doanh thu trong thời
điểm kinh tế khó khăn như hiện nay.
Bên cạnh đó, nhu cầu của xã hội về dịch vụ và các tiện ích của chúng ngày
càng gia tăng và đổi mới đòi hỏi các ngân hàng thương mại luôn luôn phải sáng tạo
ra nhiều dịch vụ mới; và thị trường dịch vụ ngân hàngbán lẻ là mảnh đất nhiều màu
mỡ để các ngân hàng có thể khai thác và đáp ứng nhu cầu khách hàng tốt nhất và kịp
thời nhất.
Nhận thức được xu hướng tất yếu của xã hội,Ban lãnh đạo của khối NHTMCP
Việt Nam đều xác định mục tiêu hoạt động tới năm 2015 là trở thành NHBL, hướng
tới khách hàng cá nhân, hộ gia đình,DNVVN trong việc chuyển sang ngân hàng đô
thị đa năng (ACB, Techcombank ). Các NHTMNN cũng đã xác định thị trường bán
lẻ trong kế hoạch cơ cấu lại ngân hàng, cổ phần hóa ngân hàng sau năm 2010.Sau
5. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu phổ biến như định
tính và định lượng, phương pháp tiếp cận hệ thống để nêu vấn đề, phân tích diễn giải
và đưa ra kết luận, phương pháp điều tra, thống kê và so sánh.
Nguyễn Thị Huệ Mỹ 6
Khoá luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
6. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo khóa
luận gồm 3 chương:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ
TẠI NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 - 2012
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM
Do hạn chế về mặt thời gian, tài liệu cũng như trình độ nhận thức nên khóa
luận này không thể tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy em rất mong nhận được sự góp
ý và hướng dẫn chỉnh sửa của các thầy cô.
Em xin chân thành cảm ơn ThS. Phan Thị Hoàng Yến đã tận tình giúp đỡ,
hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này.
Nguyễn Thị Huệ Mỹ 7
Khoá luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ NGÂN
HÀNG BẢN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng đã được hầu hết các nhà
nghiên cứu lịch sử phát triển kinh tế thế giới ghi nhận là từ thời trung cổ trên cơ sở
sự phát triển của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa.Quá trình phát triển kinh tế đã
đòi hỏi cần thiết sự xuất hiện của ngân hàng, và ngược lại, sự phát triển của hệ thống
ngân hàng lại trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế và trở nên không thể
a, Nhận tiền gửi;
b, Cấp tín dụng;
c, Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.”
Tóm lại, hiện nay khái niệm về ngân hàng vẫn còn chưa thống nhất, nhưng từ
việc phân tích và khai thác các khái niệm nêu trên chúng ta có thể đưa ra một định
nghĩa khái quát như sau:
“NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, với các hoạt
động chủ yếu là huy động vốn, cho vay, đầu tư và thực hiện các hoạt động dịch vụ
khác nhằm một trong các mục tiêu quan trọng là tối đa hóa lợi nhuận”.
1.1.2. Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại
Hoạt động của các NHTM ngày càng đa dạng và phong phú theo thời gian
cùng với sự phát triển của nền kinh tế, song ngân hàng luôn duy trì ba mảng nghiệp
vụ truyền thống đó là:
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn
Giống như bất kỳ một doanh nghiệp nào, ngân hàng muốn kinh doanh được
thì phải có vốn, hay nói cách khác, ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy
động vốn sau đó cho vay, đầu tư và thực hiện các dịch vụ khác. Chính vì vậy, hoạt
Nguyễn Thị Huệ Mỹ 9
Khoá luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
động huy động vốn đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát
triển của ngân hàng.
Thông qua việc thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương
mại đóng vai trò là cầu nối giữa người dư thừa vốn và người cần vốn, đứng ra huy
động vốn từ nhiều nguồn và bằng nhiều các biện pháp khác nhau như nhận tiền
gửi,vay vốn từ NHTW hoặc các tổ chức tín dụng khác…
1.1.2.2. Hoạt động sử dụng vốn
Hoạt động sử dụng vốn hay còn gọi là nghiệp vụ tài sản có, là hoạt động mang
lại phần lớn thu nhập, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Nhằm
đạt được mức lợi nhuận tối đa mà vẫn đảm bảo được tính an toàn trong hoạt động
ngân hàng thì các ngân hàng cần duy trì một cơ cấu tài sản có một cách hợp lý.
các khái niệm về ngân hàng bán lẻ:
Theo “Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại”(David Cox, 1997) thì ngân hàng bán lẻ
được hiểu là loại hình ngân hàng “chủ yếu cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho doanh
nghiệp, hộ gia đình và các cá nhân với các khoản tín dụng nhỏ”.
Theo Tổ chức thương mại Thế giới (WTO): NHBL là dịch vụ điển hình của
ngân hàng nơi mà khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại các chi nhánh, phòng
giao dịch của ngân hàng để thực hiện các dịch vụ như gửi tiền tiết kiệm, kiểm tra tài
khoản, thế chấp vay vốn, dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và một số dịch vụ khác.
Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu Á – AIT: Dịch vụ
NHBL là sản phẩm, dịch vụ ngân hàng được cung ứng đến từng cá nhân riêng lẻ, các
doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, hoặc là khách hàng có thể
tiếp cận trực tiếp tới các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện tử
viễn thông và công nghệ thông tin.
Như vậy hiểu theo một cách đầy đủ và phổ biến nhất thì dịch vụ NHBL là
dịch vụ ngân hàng cung ứng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ
thông qua mạng lưới chi nhánh, hoặc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản
phẩm dịch vụ của ngân hàng thông qua các phương tiện thông tin, điện tử viễn thông.
Nguyễn Thị Huệ Mỹ 11
Khoá luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
1.2.2. Đặc điểm của dịch vụ ngânhàng bán lẻ
1.2.2.1. Đối tượng khách hàng đa dạng
Đối tượng chủ yếu mà các dịch vụ NHBL hướng tới là khách hàng cá nhân,
hộ gia đình, các DNVVN. Dân số thế giới ngày càng tăng cao, cùng với đó là thu
nhập, nhận thức và mức sống của người dân dần được cải thiện theo đà phát triển của
kinh tế. Do đó, đây trở thành một thị trường rộng lớn, đa dạng và hết sức tiềm năng.
Song, vì số lượng khách hàng lớn lại thuộc các tầng lớp dân cư khác nhau dẫn đến
hành vi tiêu dùng, sự nhạy cảm đối với các loại hình dịch vụ cũng khác nhau.Điều
này đặt ra cho các ngân hàng cần có hiểu biết nhất định về từng nhóm khách hàng và
lựa chọn các hình thức tiếp cận cũng như sản phẩm, dịch vụ phù hợp với từng nhóm
khách hàng.
khách hàng.
1.2.2.5. Mạng lưới chi nhánh, kênh phân phối rộng khắp
Khách hàng của dịch vụ NHBL phân bố rộng khắp, để phân khúc bán lẻ phát
triển lớn mạnh, đòi hỏi ngân hàng cần có mạng lưới kênh phân phốinhằm mở rộng
phạm vi hoạt động và tiếp cận đến mọi đối tượng khách hàng. Mạng lưới phân phối
này bao gồm cả kênh phân phối trực tiếp và gián tiếp:
- Kênh phân phối trực tiếp: Hệ thống các chi nhánh, phòng giao dịch của ngân
hàng ngày càng tăng, nằm ở những vị trí thuận tiện cho giao thông đi lại và giao
dịch.
- Kênh phân phối gián tiếp: Bao gồm Ngân hàng tự động và ngân hàng điện
tử. Ngân hàng tự động là hệ thống kiot banking bao gồm các điểm đặt ATM và POS.
Ngân hàng điện tử là kênh phân phối sản phẩm, dịch vụ ngân hàng thông qua mạng
lưới điện tử viễn thông và internet, bao gồm PC banking, Home Banking, Phone
Banking, Mobile banking, SMS banking, Internet Banking.
Nguyễn Thị Huệ Mỹ 13
Khoá luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
1.2.3. Vai trò của dịch vụ NHBL
1.2.3.1. Đối với nền kinh tế
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới, sự phát triển của dịch vụ NHBL góp
phần đẩy nhanh quá trình lưu thông tiền tệ, kích thích sản xuất kinh doanh, tiên dùng
và nâng cao đời sống dân cư thông qua việc tận dụng và khai thác hiệu quả tiềm
năng to lớn về vốn trong nền kinh tế, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển.
Hơn nữa, dịch vụ NHBL góp phần to lớn trong việc chuyển đổi từ nền kinh tế
tiền mặt sang nền kinh tế phi tiền mặt, giúp giảm thiểu rủi ro, rút ngắn thời gian, tiết
kiệm chi phí và tạo điều kiện để NHNN kiểm soát và điều hành chính sách tiền tệ,
minh bạch hóa, phòng chống tham nhũng, trốn thuế và gian lận thương mại…
1.2.3.2. Đối với ngân hàng
Dịch vụ ngân hàng đem lại cho ngân hàng một khoản thu nhập ổn định, đáng
kể và phân tán rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Số lượng khách hàng lớn, nhu cầu
đa dạng, giao dịch diễn ra thương xuyên, nhờ vậy mà ngân hàng có được nguồn thu
an toàn để khách hàng thực hiện mọi giao dịch từ gửi tiền đến ủy thác đầu tư do sự
am hiểu thị trường tài chính – tiền tệ, nguồn thông tin dồi dào, đội ngũ nhân viên
được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp.
Hiện nay, do cạnh tranh trên thị trường bán lẻ ngày càng gay gắt, các ngân
hàng không ngừng đa dạng hóa, nâng cao các tiện ích sản phẩm, xây dựng chiến lược
cạnh tranh về giá và đem lại cho khách hàng nhiều cơ hội lựa chọn sản phẩm, gói
dịch vụ tiện lợi với chi chi phí hợp lý. Nhờ đó mà khách hàng được phục vụ một
cách tốt nhất và với chi phí thấp nhất.
Nhờ ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, điện tử viễn
thông trong việc phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ, ngày nay khách hàng có thẻ
thực hiện giao dịch bất cứ lúc nào, ở đâu mà không phải trực tiếp đến ngân hàng
trong giờ hành chính, không bị hạn chế về thời gian và không gian giao dịch.
Nguyễn Thị Huệ Mỹ 15
Khoá luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
1.2.4. Tiêu chí đánh giá sự phát triển của dịch vụ NHBL
1.2.4.1. Các tiêu chí định tính
a. Mức độ hài lòng cho khách hàng
Sự hài lòng của khách hàng là sự thỏa mãn khi sử dụng dịch vụ NHBL của
NHTM, thông qua việc so sánh kết quả thu được từ việc sử dụng sản phẩm, dịch vụ
với kỳ vọng trước khi dùng. Kỳ vọng của khách hàng đều dựa trên kinh nghiệm
trước đây của khách hàng, từ bạn bè, từ những thông tin mà ngân hàng cung cấp và
từ quảng cáo của các đối thủ cạnh tranh. Nếu hiệu quả sản phẩm, dịch vụ mang lại
thấp hơn so với kỳ vọng, khách hàng sẽ cảm thấy bất mãn.Nếu hiệu quả sản phẩm
dịch vụ mang lại khớp hoặc cao hơn cả kỳ vọng thì khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng
và vui vẻ. Do đó, Ngân hàng cần thiết tạo ra một mức kỳ vọng cho khách hàng ở
mức hợp lý, nếu quá thấp, khách hàng sẽ hài lòng nhưng đổi lại khó khăn trong việc
thu hút khách hàng. Nhưng nếu quá cao, thì khách hàng có thể thất vọng với sản
phẩm dịch vụ của ngân hàng qua đó ảnh hưởng đến uy tín cũng như thương hiệu của
ngân hàng. Khách hàng là người trực tiếp sử dụng các sản phẩm dịch vụ của ngân
hàng, vì vậy mức độ hài lòng của họ chính là thước đo chất lượng của các dịch vụ
hoặc sản phẩm không phù hợp.
- Sản phẩm chỉ mới với ngân hàng nhưng không mới với thị trường: Đây là
loại sản phẩm đã có trên thị trường nhưng hiện tại ngân hàng mới cung ứng. Ưu
điểm là ngân hàng có thể sử dụng lợi thế của người đi sau, tiết kiệm được chi phí liên
quan đến việc nghiên cứu và rút được kinh nghiệm thực tiễn từ ngân hàng đi trước.
Tuy nhiên, nhược điểm của loại sản phẩm này là, do sản phẩm ra đời sau nên để
chiếm lĩnh thị trường là điều không dễ dàng, ngân hàng buộc phải tại ra được sự
khác biệt hoặc vượt trội hơn so với đối thủ cạnh trang thì mới giành được thị phần.
Sự đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ được thể hiện thông
qua số lượng các sản phẩm dịch vụ mà các ngân hàng cung ứng.Đánh giá việcgia
tăng sự đa dạng trong các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng được xác định theo công
thức:
x =
Nguyễn Thị Huệ Mỹ 17
Khoá luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
Trong đó:
X: là mức độ gia tăng sự đa dạng đối với mỗi nhóm sản phẩm, dịch vụ
Yo: là số lượng tương ứng với mỗi nhóm sản phẩm, dịch vụ năm t
Y1: là số lượng tương ứng với mỗi nhóm sản phẩm, dịch vụ năm t+1
b.Sự tăng trưởng quy mô và tỷ trọng nhu nhập từ hoạt động bán lẻ
Sự phát triển của dịch vụ ngân hàng bán lẻ cũng thể hiện qua thu nhập có
được từ việc cung ứng các sản phẩm dịch vụ NHBL. Bất kỳ một sản phẩm nào do
ngân hàng cung cấp trước hết đều xuất phát từ lợi ích của khách hàng nhưng đồng
thời nó cung phải đem lại lợi nhuận thực tế cho ngân hàng. Những thu nhập có thể đo
lường được mà dịch vụ NHBL mang lại cho ngân hàng có thể kể đến là phí phát
hành, thanh toán thẻ, phí chuyển tiền, lãi suất cho vay…Bên cạnh đó, còn nhiều các
lợi ích khác mang tính định tính mà hoạt động bán lẻ mang lại như hỗ trợ chéo cho
khách hàng bán buôn, tăng cường uy tín và vị thế cho ngân hàng.
Mức độ tăng trưởng quy mô từ hoạt động bán lẻ được xác định theo công
thức:
vụ và tạo điều kiện dễ dàng cho người dân giao dịch. Việc mở rộng hệ thống các
kênh phân phối trực tiếp cho thấy được tiềm lực tài chính, sự phát triển về quy mô
cũng như khả năng phục vụ của ngân hàng trong phân khúc thị trường bán lẻ.
Sự mở rộng hệ thống kênh phân phối trực tiếp được thể hiện thông qua sự gia
tăng về số lượng các chi nhánh và phòng giao dịch.Và sự tăng trưởng về kênh phân
phối trực tiếp được xác định như sau:
X=
Nguyễn Thị Huệ Mỹ 19
Khoá luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
Trong đó:
• X là sự tăng trưởng về các chi nhánh và phòng giao dịch
• Y1 là số lượng các chi nhánh và phòng giao dịch năm t+1
• Yo là số lượng các chi nhánh và phòng giao dịch năm t
- Kênh phân phối gián tiếp: Bên cạnh các kênh phân phối truyền thống thì các
ngân hàng hiện nay cũng không ngừng phát triển kênh phân phối gián tiếp dựa trên
nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin. Đặc biệt trong trường hợp các kênh phân
phối trực tiếp của ngân hàng bị hạn chế về không gian và thời gian phục vụ.Các dịch
vụ ngân hàng điện tử và hệ thống ngân hàng tự động ngày càng mở rộng, đa dạnh
hóa – hiện đại hóa để đáp ứng được nhu cầu ngày càng khắt khe của người tiêu dùng
như được sử dụng dịch vụ mọi lúc mọi nơi. Qua đó, kích thích dịch vụ NHBL tăng
cao, khẳng định được uy tín và vị thế của ngân hàng trên thị trường.
Sự mở rộng hệ thống kênh phân phối gián tiếp được thể hiện thông qua sự gia
tăng về số lượng các POS, ATM. Mức độ gia tăng được xác định như sau:
X=
Trong đó:
- X là mức độ tăng trưởng ATM/POS
- Y1 là số lượng các ATM/POS năm t+1
- Y0 là số lượng các ATM/POS năm t
d. Sự gia tăng về số lượng khách hàng
Các sản phẩm dịch vụ NHBL phục vụ chủ yếu nhu cầu của số đông dân cư
1.2.5.1. Các nhân tố khách quan
• Môi trường kinh tế
Nguyễn Thị Huệ Mỹ 21
Khoá luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
Nền kinh tế phát triển ổn định và vững chắc sẽ tạo thuận lợi cho việc phát
triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ do thu nhập bình quân tăng, nhận thức, đời sống dân
cư được cải thiện, hoạt động sản xuất kinh doanh được đẩy mạng, nhu cầu chi tiêu và
sử dụng sản phẩm cũng theo đó mà gia tăng. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái,
thất nghiệp gia tăng, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp không
hiệu quả làm cho nhu cầu sử dụng dịch vụ cũng giảm sút, ảnh hưởng đến hoạt động
kinh doanh của ngân hàng.
• Môi trường chính trị - pháp luật
Xuất phát từ tính đặc thù và tầm quan trọng của lĩnh vực ngân hàng đối với sự
phát triển của nền kinh tế mà ngành kinh doanh ngân hàng chịu sự giảm sát chặt chẽ
của luật pháp và các cơ quan chức năng của chính phủ.Môi trường pháp ý đem đến
cho ngân hàng một loạt cơ hội nhưng cũng kèm theo đó những thách thức lớn. Một
nên kinh tế chính trị ổn định, vững chắc sẽ là nền tảng cho dịch vụ NHBL phát triển
an toàn, hiệu quả và bền vững. Ngược lại, khi chính trị bất ổn, nhiều biến động, hệ
thống pháp luật không đầy đủ, thiếu đồng bộ, kém minh bạch thì việc phát triển các
dịch vụbán lẻ sẽ gặp nhiều khó khăn, hạn chế.
• Môi trường văn hóa – xã hội
Đối tượng khách hàng mà dịch vụ NHBL hướng tới là đại đa số quần chúng
bao gồm khách hàng cá nhân, hộ gia đình, các DNVVN. Phân khúc bán lẻ đa dạng
về độ tuổi, trình độ, nhận thức, nghề nghiệp, thị hiếu, nhu cầu, thói quen chi tiêu…
nên những ảnh hưởng về văn hóa – xã hội cũng ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển
của dịch vụ NHBL. Cụ thể, xã hội ngày càng phát triển thì nhận thức của người dân
cũng ngày một nâng cao, các nhu cầu ngày một đa dạng và khắt khe, việc thanh toán
bằng tiền mặt trở nên không còn phù hợp và đáp ứng được nhu cầu thì các dịch vụ
NHBL an toàn, thuận tiện, hiện đại và đa tiện ích sẽ có cơ hội phát triển. Ngược lại,
khi nhận thức của người dân còn hạn chế, chưa tiếp cận được với các ứng dụng
• Chất lượng nguồn nhân lực
Nguyễn Thị Huệ Mỹ 23
Khoá luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
Trong lĩnh vực dịch vụ NHBL, yếu tố con người đóng vai trò quan trọng do
khách hàngtrong phân khúc này khá là nhạy cảmvới các chính sách chăm sóc, đãi
ngộ của ngân hàng. Nếu cán bộ có trình độ nghiệp vụ cao, chuyên nghiệp, sáng tạo,
am hiểu sản phẩm dịch vụ thì thao tác công việc nhanh chóng, ít xảy ra sai sót, đáp
ứng nhu cầu khách hàng nhanh chóng, thuận tiện.
• Khả năng mở rộng hệ thống các kênh phân phối
Với vai trò quan trọng là cấu nối giữa ngân hàng và khách hàng, các ngân
hàng hiện nay cần xây dựng các mạng lưới chi nhánh, PGD rộng khắp, thuận tiện
giao thông đi lại hay đa dạng hóa, hiện đại hóa các kênh phân phối gián tiếp như
ngân hàng điện tử và ngân hàng tự động.
1.3. Các dịch vụ NHBL cơ bản đối với khách hàng cá nhân và hộ gia đình
1.3.1. Huy động vốn
Đặc điểm các nguồn vốn huy động từ cá nhân:
- Khả năng huy động vốn tập trung tại một số địa bàn và một số khách
hàng:huyđộngvốnthôngquatàikhoảntiềngửithanhtoán,tiềngửi tiết kiệm, giấy tờ có giá,
tập trung chủ yếu tại những đô thị phát triển về kinh tế xã hội, công nghiệp, dịch vụ
và phát triển công nghệ.
- Giá vốn không đồng nhất giữa các địa bàn, thời điểm: căn cứ vào điều kiện
về kinh tế, xã hội, mặt bằng lãi suất tại địa bàn, nhu cầu của ngân hàng mà từng ngân
hàng sẽ có những đề xuất lãi suất huy động từ cá nhân.
- Giá vốn tương đối cao so với các nguồn huy động khác từ các tổ chức kinh
tế, từ tổ chức tín dụng khác.
- Nguyên nhân của các đặc điểm trên là do cơ cấu huy động vốn khác nhau,
do mức độ cạnh tranh giữa các địa bàn. Từ sự khác nhau giữa khả năng huy động
vốn và chi phí huy động vốn của các địa bàn khác nhau nên phải đi xác định: tạo
nguồn vốn không chỉ tập trung vào một số địa bàn mà phải mở rộng ra các địa bàn
nơi có giá vốn thấp, cân nhắc giữa mục tiêu tối thiểu.