GVHD: Th.s. Nguyễn Hương Giang SVTH: Nguyễn Nhật
Nam
BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Cơ sở: Ngân hàng Công thương khu công nghiệp Tiên Sơn
NHCT Ngân hàng Công Thương
KCN Khu công nghiệp
VSIP Việt Nam - Singapore
TCKT Tổ chức kinh tế
NHTM Ngân hàng thương mại
TCXH Tổ chức xã hội
PGD Phòng giao dịch
GVHD: Th.s. Nguyễn Hương Giang SVTH: Nguyễn Nhật
Nam
MỤC LỤC
1.1.3.2. Chức năng trung gian thanh toán 7
Cơ sở: Ngân hàng Công thương khu công nghiệp Tiên Sơn
GVHD: Th.s. Nguyễn Hương Giang SVTH: Nguyễn Nhật
Nam
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
BẢNG
Bảng 2.1. Cơ cấu nguồn vốn huy động Error: Reference source not found
Bảng 2.2. Kết quả huy động vốn theo kỳ hạn Error: Reference source not
found
Bảng 2.3. Kết quả huy động vốn theo loại tiền gửi Error: Reference
source not found
Bảng 2.4. Kết quả tài chính của NHCT KCN Tiên Sơn Error: Reference
source not found
SƠ ĐỒ
1.1.3.2. Chức năng trung gian thanh toán 7
1.1.3.2. Chức năng trung gian thanh toán 7
1.4.2.3. Mức độ đa dạng hoá của các hình thức huy động vốn 26
hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Công Thương khu công nghiệp
Cơ sở: Ngân hàng Công thương khu công nghiệp Tiên Sơn
1
GVHD: Th.s. Nguyễn Hương Giang SVTH: Nguyễn Nhật
Nam
Tiên Sơn” được tác giả chọn làm chuyên đề tốt nghiệp.
Nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về Ngân hàng Công Thương khu công
nghiệp Tiên Sơn
Chương 2: Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng Công Thương
khu công nghiệp Tiên Sơn
Chương 3: Đánh giá thực trạng hoạt động huy động vốn của Ngân
hàng Công Thương khu công nghiệp Tiên Sơn
Cơ sở: Ngân hàng Công thương khu công nghiệp Tiên Sơn
2
GVHD: Th.s. Nguyễn Hương Giang SVTH: Nguyễn Nhật
Nam
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ
HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trong các ngành công
nghiệp ra đời sớm nhất. Ở Mỹ NHTM đầu tiên được thành lập năm 1782,
trước khi Hiến pháp liên bang được thông qua và nhiều NHTM được
thành lập từ những năm 1880 đến nay vẫn đang hoạt động. Ở mỗi một
nước, Luật NHTM có qui định khác nhau, người ta thường dựa vào tính
chất và mục đích hoạt động của Ngân hàng trên thị trường tài chính để
đưa ra cách hiểu về NHTM.
Ở Pháp, theo Luật ngân hàng năm 1941 thì “Ngân hàng là những xí
nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới
ra đời với tính chất là nhận tiền gửi, sử dụng vào nhiệm vụ cho vay,
chứng khoán và các dịch vụ khác của ngân hàng, ngày càng thể hiện rõ
vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế.
1.1.2. Vai trò của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị
trường
1.1.2.1. NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
Thực tế cho thấy, để phát triển kinh tế các đơn vị kinh tế cần phải có
một lượng vốn lớn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt
động khác. Nhưng điều khó khăn hơn lợi ích là cần có người đứng ra tập
trung tiền nhàn dỗi ở mọi nơi mọi lúc và kịp thời cung ứng cho nơi cần vốn.
Bằng vốn huy động được trong xã hội thông qua hoạt động tín dụng,
NHTM đã cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn
một cách kịp thời cho quá trình sản xuất. Nhờ có hoạt động của hệ thống
NHTM và đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp, cá nhân có điều
kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc, công nghệ để tăng năng suất lao
động, nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng sản phẩm cho xã hội.
Cơ sở: Ngân hàng Công thương khu công nghiệp Tiên Sơn
4
GVHD: Th.s. Nguyễn Hương Giang SVTH: Nguyễn Nhật
Nam
1.1.2.2. NHTM là cầu nối các doanh nghiệp với thị trường
Bước sang cơ chế thị trường, đòi hỏi sự phát triển của tín dụng Ngân
hàng đã làm biến đổi hoạt động trong các nhà máy, xí nghiệp khơi dậy
sức sống bằng các dây chuyền sản xuất hiện đại năng suất cao. thực hiện
chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến. Điều không thể thực hiện
bằng vốn tự có của các doanh nghiệp vốn dĩ đã rất it ỏi. Bên cạnh đó, tín
dụng ngân hàng còn cung cấp một phần không nhỏ trong việc tăng cường
nguồn vốn lưu động của các doanh nghiệp. Một vấn đề luôn là mối lo
thường trực của các doanh nghiệp. Một khía cạnh khác đòi hỏi sự có mặt
của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp. Đó là một ngân quỹ để
các ngân hàng Nhà nước của NHTM trực tiếp hoặc gián tiếp tác động
góp phần thúc đẩy hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu và thông qua đó
Ngân hàng thương mại đã thực hiện vai trò điều tiết tài chính trong nước
phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế.
1.1.3. Chức năng của Ngân hàng thương mại
1.1.3.1. Chức năng làm trung gian tín dụng
Chức năng trung gian tín dụng của NHTM được thể hiện qua sơ đồ
luân chuyển vốn sau:
Sơ đồ 1: Sơ đồ luân chuyển vốn
Với chức năng trung gian tín dụng, NHTM làm “cầu nối” giữa
người thừa vốn và người thiếu vốn và nó đã không chỉ đem lại lợi ích cho
Cơ sở: Ngân hàng Công thương khu công nghiệp Tiên Sơn
Cá nhân
và
doanh
nghiệp
Gửi tiền
Uỷ thác đầu tư
Ngân
hàng
thương
mại
Cho vay
Đầu tư
Cá nhân
và
doanh
nghiệp
6
GVHD: Th.s. Nguyễn Hương Giang SVTH: Nguyễn Nhật
GVHD: Th.s. Nguyễn Hương Giang SVTH: Nguyễn Nhật
Nam
phí thanh toán. Hơn nữa, nó lại tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng
thể hiện trên số dư Có tài khoản tiền gửi của khách hàng. Chức năng này
cũng chính là cơ sở để hình thành chức năng tạo tiền của NHTM
1.1.3.3. Chức năng tạo tiền
Đây là hệ quả của hai chức năng trên trong hoạt động ngân hàng: Từ
một số dự trữ ban đầu thông qua quá trình cho vay và thanh toán bằng
chuyển khoản của ngân hàng thì lượng tiền gửi mới được tạo ra và nó lớn
hơn so với lượng dự trữ ban đầu gấp nhiều lần, gọi là quá trình tạo tiền
của hệ thốn ngân hàng.
Một ngân hàng sau khi nhận được một món tiền gửi, trên tài khoản
tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng sẽ có số dư. Với số dư này sau khi
đã để lại một khoản dự trữ bắt buộc, ngân hàng sẽ đem đi đầu tư, cho vay
từ đó nó sẽ chuyển sang vốn tiền gửi của ngân hàng khác. Với vòng quay
của vốn thông qua chức năng tín dụng và thanh toán của ngân hàng.
NHTM thực hiện được chức năng tạo tiền
1.1.4. Hoạt động của Ngân hàng thương mại
Nhìn chung các nghiệp vụ chủ yếu của một NHTM được chia làm 3
loại nghiệp vụ chính: nghiệp vụ huy động vốn, sử dụng vốn và nghiệp vụ
trung gian.
Nghiệp vụ huy động vốn của NHTM được thực hiện qua hành vi mở
tài khoản để thực hiện thanh toán cho khách hàng, hoặc huy động các loại
tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế, dân cư , phát hành
kỳ phiếu, trái phiếu, đi vay các Ngân hàng tổ chức tín dụng khác, đi vay
Ngân hàng Trung ương… Đây là nguồn gốc để các NHTM phát tín dụng
vào nền kinh tế, còn phần vốn tự có của NHTM chủ yếu là để phục vụ cho
việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật mua sắm máy móc thiết bị … Như
vậy có thể nói ngân hàng kinh doanh bằng nguồn vốn huy động là chủ yếu,
Cơ sở: Ngân hàng Công thương khu công nghiệp Tiên Sơn
được chi phí in ấn, kiểm đếm tiền… Ngân hàng thực hiện tốt khâu dịch
Cơ sở: Ngân hàng Công thương khu công nghiệp Tiên Sơn
9
GVHD: Th.s. Nguyễn Hương Giang SVTH: Nguyễn Nhật
Nam
vụ, thanh toán sẽ thu hút được ngày càng nhiều khách hàng đến giao dịch
với Ngân hàng. Từ đó tạo điều kiện cho công tác huy động vốn và cho
vay của ngân hàng.
Tóm lại: các hoạt động của NHTM có mối quan hệ mật thiết hữu cơ,
làm tiền đề, điều kiện cho nhau. Vì vậy, các NHTM phải thực hiện tốt
đồng bộ tất cả các hoạt động.
1.2. Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm vốn huy động trong Ngân hàng thương mại
NHTM là một trung gian tài chính, ở mỗi nước khác nhau các trung
gian tài chính lại được phân chia khác nhau. Tuy nhiên, luôn tồn tại một
điểm chung là vai trò chủ đạo của các ngân hàng thương mại đóng góp
khối lượng tài sản và tầm quan trọng đối với nền kinh tế. Để có được vị
trí đó NHTM phải đặt yếu tố lợi nhuận lên hàng đầu và công cụ duy nhất
mà các NHTM phải có trước tiên là vốn.
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng thương mại
tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc để thực hiện
các dịch vụ kinh doanh khác.
Vốn của ngân hàng được hình thành qua các nguồn khác nhau. Để
bắt đầu hoạt động của ngân hàng thì chủ ngân hàng phải có một lượng
vốn nhất định được gọi là vốn ban đầu. Trong quá trình hoạt động, ngân
hàng gia tăng khối lượng vốn của mình thông qua các hoạt động huy
động vốn như nghiệp vụ tiền gửi, nghiệp vụ đi vay và các nghiệp vụ khác
( dịch vụ uỷ thác, trung gian thanh toán…).
“Vốn huy động là những giá trị tiền tệ do ngân hàng huy động được
tù các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình
yếu dựa vào vốn huy động. Còn vốn tự có chỉ sử dụng trong những
trường hợp cần thiết. Vì vậy, khả năng huy động vốn tốt sẽ là điều kiện
Cơ sở: Ngân hàng Công thương khu công nghiệp Tiên Sơn
11
GVHD: Th.s. Nguyễn Hương Giang SVTH: Nguyễn Nhật
Nam
thuận lợi đối với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các
thành phần kinh tế cả về qui mô, khối lượng tín dụng, chủ động về thời
gian, thời hạn cho vay, thậm chí quyết định mức lãi suất vừa phải cho
khách hàng. Điều đó sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng, doanh số
hoạt động của ngân hàng sẽ tăng lên nhanh chóng và ngân hàng sẽ có
nhiều thuận lợi hơn trong hoạt động kinh doanh, đảm bảo uy tín và năng
lực trên thị trường.
Với những vai trò hết sức quan trọng đó, các ngân hàng luôn tìm
cách đưa ra những chính sách quản lý nguồn vốn từ khâu nhận vốn từ
những người gửi tiền và những người cho vay khác nhau đến việc sử
dụng nguồn vốn một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, các nhà quản trị ngân
hàng cũng luôn tìm cách để đổi mới, hoàn thiện chúng cho phù hợp với
tình hình chung của nền kinh tế. Đó là một trong những điều kiện tiên
quyết đưa ngân hàng đến thành công.
1.2.3. Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại
1.2.3.1. Huy động từ tiền gửi của khách hàng
Tiền gửi của khách hàng đó là tiền gửi của các tổ chức kinh tế,
doanh nghiệp cơ quan Nhà nước và các định chế tài chính trung gian
cùng cá nhân trong và ngoài nước có quan hệ tiền gửi tại ngân hàng.
Tiền gửi của khách hàng được chia làm hai bộ phận: tiền gửi của
doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và tiền gửi tiết kiệm của dân cư.
a. Tiền gửi của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế bao gồm:
- Tiền gửi không kỳ hạn:
Đây là khoản tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào và
hàng dùng để đầu tư cho vay đối với một số doanh nghiệp, cá nhân mở
tài khoản giao dịch tại ngân hàng, làm cho lượng tiền gửi này ngày càng
gia tăng. Đó là những nguồn vốn dùng để cho vay hết sức quan trọng của
ngân hàng, đồng thời lợi nhuận thu về từ nguồn vốn này cũng ngày càng
Cơ sở: Ngân hàng Công thương khu công nghiệp Tiên Sơn
13
GVHD: Th.s. Nguyễn Hương Giang SVTH: Nguyễn Nhật
Nam
tăng.
- Tiền gửi có kỳ hạn:
Tiền gửi có kỳ hạn là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của doanh
nghiệp, chưa sử dụng đến trong một thời gian nhất định, mà khoảng thời
gian này được xác định trước. Do đó các doanh nghiệp thường gửi vào
ngân hàng dưới hình thức tiền gửi có kỳ hạn. Phần lớn các nguồn tiền gửi
này xuất phát từ nguồn tích luỹ của các doanh nghiệp mà có. Về nguyên
tắc khách hàng chỉ được rút tiền ra khi đến hạn và được hưởng số tiền lãi
trên số tiền gửi đó. Nhưng hiện nay để thu hút vốn nhằm khuyến khích
khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, các NHTM cho phép khách hàng rút
tiền ra trước hạn. Trong trường hợp nay khách hàng không được hưởng
lãi hoặc chỉ được hưởng theo lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn.
Do tính chất của loại tiền vốn tương đối ổn định, ngân hàng có thể
sử dụng phần lớn số dư loại nguồn vốn này để cho vay trung dài hạn.
Nếu số nguồn vốn này chiếm tỷ trọng lớn hơn tổng nguồn vốn huy động
sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi, chủ động của ngân hàng trong quá trình kinh
doanh.
- Tiền gửi tiết kiệm dân cư
Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền để dành của mỗi cá nhân được gửi
vào ngân hàng, nhằm hưởng lãi suất theo qui định. Tiền gửi tiết kiệm là
bộ phận thu nhập bằng tiền gửi của cá nhân chưa sử dụng được gửi vào
tổ chức tín dụng. Nó là một dạng đặc biệt của tích luỹ tiền tệ trong tiêu
a. Phát hành kỳ phiếu có mục đích
Khi các NHTM có nguồn vốn tài chính dồi dào để tài trợ cho các
nguồn vốn có qui mô lớn, nhằm phát triển kinh tế địa phương, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế hoặc liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế mà
các nguồn vốn tự có chưa đáp ứng được, NHTM trình ngân hàng Nhà
nước xin phép phát hành kỳ phiếu để tạo nguồn vốn tín dụng tương đối
Cơ sở: Ngân hàng Công thương khu công nghiệp Tiên Sơn
15
GVHD: Th.s. Nguyễn Hương Giang SVTH: Nguyễn Nhật
Nam
lâu dài cho các hoạt động này.
Như vậy kỳ phiếu là một chứng chỉ huy động vốn có mục đích, có
thời hạn, người sở hữu có thể chuyển nhượng cho người khác qua chứng
nhận của ngân hàng, vì trên sổ kỳ phiếu có ghi tên người hưởng. Kỳ
phiếu ngân hàng được phát hành nhằm huy động vốn nhàn rỗi vào ngân
hàng, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định trị của đồng tiền, tạo nguồn
vốn trung dài hạn để đầu tư cho các dự án phát triển kinh tế.
b. Phát hành trái phiếu
Trái phiếu ngân hàng thực chất là giấy nhận nợ có kỳ hạn của ngân
hàng đối với những người mua trái phiếu (nhà đầu tư). Trái phiếu được
các NHTM hay các tổ chức tín dụng phát hành nhằm huy động vốn cho
chính bản thân ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng có liên quan. Thời
hạn của trái phiếu thường lớn hơn một năm. Lãi suất của trái phiếu
thường cao hơn lãi suất của tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu. Các NHTM phát
hành trái phiếu trên cơ sở nhu cầu sử dụng vốn thông qua các dự án đầu
tư của doanh nghiệp mà ngân hàng cam kết cho vay.
Huy động vốn thông qua việc phát hành các công cụ nợ của các
NHTM như kỳ phiếu, trái phiếu là một hình thức mới trong công tác huy
động vốn của NHTM ở các nước đang phát triển. Vốn được huy động từ
hình thức này dùng để đầu tư cho các dự án trung và dài hạn.
thanh toán.
Các nguồn đi vay từ các tổ chức tín dụng khác, từ ngân hàng Trung
ương để đảm bảo khả năng thanh toán trong những trường hợp cần thiết.
Cho nên thời hạn vay thường ngắn, lãi suất thường cao hơn các hình thức
huy động vốn khác của NHTM.
1.2.3.4.Huy động từ nguồn vốn khác
Ngoài các nguồn vốn huy động trên các NHTM cũng có thể khai
thác nguồn vốn từ các tổ chức tài chính quốc tế, đây là nguồn vốn lớn, có
thời hạn tương đối dài từ 5 đến 50 năm với lãi suất tương đối ưu đãi. Khi
Cơ sở: Ngân hàng Công thương khu công nghiệp Tiên Sơn
17
GVHD: Th.s. Nguyễn Hương Giang SVTH: Nguyễn Nhật
Nam
các NHTM nhận các nguồn vốn này thường có các điều kiện kèm theo
rất chặt chẽ và việc cấp phát phải đúng nội dung chương trình của các dự
án tài trợ.
Ở nước ta khi thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế, Đảng và
Nhà nước ta đã sáng suốt lựa chọn các đường lối ngoại giao đúng đắn,
trên tinh thần mở cửa của nền kinh tế, làm bạn với tất cả các nước trên
thế giới, thu hút các nguồn vốn đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam. Các
nguồn vốn này có đóng góp rất quan trọng vào công cuộc đổi mới công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước và
NHTM phải tăng cường mở rộng các mối quan hệ hợp tác quốc tế, từ đó
tranh thủ và tiếp nhận các nguồn vốn này.
Trên đây là các hình thức huy động vốn chủ yếu của NHTM, tuy
nhiên chất lượng, hiệu quả của hoạt động huy động vốn chịu ảnh hưởng
tác động rất nhiều yếu tố, từ các yếu tố mang tính chất vĩ mô, đến các yếu
tố mang tính chất vi mô của nền kinh tế, cũng như các yếu tố liên quan
tới chính NHTM.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động huy động vốn
huy động và cạnh tranh trong cho vay đồng thời đảm bảo có lãi. Có thể
thấy rằng, việc tối thiểu hoá chi phí huy động theo từng loại hình huy
động là rất khó do những đặc điểm riêng của từng loại hình vừa nêu trên.
Cơ sở để ngân hàng hàng tối thiều hoá chi phí huy động ở đây là sự hợp
lý về cơ cấu vốn và sự cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn.
1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động huy động vốn
1.3.2.1. Các nhân tố khách quan
a. Môi trường pháp lý
Nghiệp vụ huy động vốn của các NHTM chịu sự điều chỉnh rất lớn
của môi trường pháp lý. Có những bộ luật tác động trực tiếp mà chúng ta
thường thấy như: Luật các TCTD, Luật NHNN… Những Luật này quy
Cơ sở: Ngân hàng Công thương khu công nghiệp Tiên Sơn
19
GVHD: Th.s. Nguyễn Hương Giang SVTH: Nguyễn Nhật
Nam
định tỉ lệ huy động vốn của ngân hàng so với vốn tự có, qui định về việc
gửi và sử dụng tài khoản tiền gửi… Có những Bộ Luật tác động gián tiếp
đến hoạt động ngân hàng như Luật đầu tư nước ngoài hoặc các NHTM
không được nhận tiền gửi hoặc cho vay bằng cách tăng giảm lãi suất, mà
phải dựa vào lãi suất do NHNN đưa ra và chỉ được xê dịch trong biên độ
nhất định mà NHNN cho phép… Bên cạnh những bộ luật đó thì chính
sách tài chính tiền tệ của một quốc gia cũng ảnh hưởng rất lớn tới nghiệp
vụ tạo vốn của NHTM. Nó được thể hiện ở mục tiêu của chính sách tiền
tệ, chẳng hạn khi nền kinh tế lạm phát tăng, Nhà nước có chính sách thắt
chặt tiền tệ bằng cách tăng lãi suất tiền gửi để thu hút tiền ngoài xã hội
thì lúc đó NHTM huy động vốn dễ dàng hơn. Như vậy, môi trường pháp
lí là nhân tố khách quan có tác động rất lớn tới quá trình huy động vốn
của NHTM. Mục tiêu hoạt động của NHTM được xây dựng vào các qui
định, qui chế của Nhà nước để đảm bảo an toàn và nâng cao niềm tin từ
khách hàng.
hàng càng có điều kiện mở rộng việc huy động vốn.
1.3.2.2. Các nhân tố chủ quan
a. Các hình thức huy động vốn
Ngân hàng muốn dễ dàng tìm kiếm nguồn vốn thì trước hết phải đa
dạng hình thức huy động vốn. Hình thức huy động vốn của ngân hàng
ngày càng phong phú, linh hoạt bao nhiêu thì khả năng thu hút vốn từ nền
kinh tế càng lớn bấy nhiêu. Điều này xuất phát từ sự khác nhau trong nhu
cầu và tâm lý của các tầng lớp dân cư. Mức độ đa dạng các hình thức huy
động càng cao thì dễ dàng đáp ứng một cách tối đa nhu cầu của dân cư,
vì họ đều tìm thấy cho mình một hình thức gửi tiền phù hợp mà lại an
toàn. Do vậy các NHTM thường cân nhắc rất kĩ lưỡng trước khi đưa vào
áp dụng một hình thức mới.
Cơ sở: Ngân hàng Công thương khu công nghiệp Tiên Sơn
21
GVHD: Th.s. Nguyễn Hương Giang SVTH: Nguyễn Nhật
Nam
b. Chính sách lãi suất cạnh tranh
Việc duy trì lãi suất tiền gửi cạnh tranh giữa các ngân hàng với nhau
đã trở nên cực kỳ quan trọng trong việc thu hút các khoản tiền gửi mới và
duy trì tiền gửi hiện có. Điều này đặc biệt đúng khi lãi suất thị trường đã
ở vào mức tương đối cao. Các ngân hàng cạnh tranh giành vốn không chỉ
với các ngân hàng khác mà còn với các tổ chức tiết kiệm khác, các thị
trường tiền tệ và với những người phát hành các công cụ tài chính khác
nhau trong thị trường tiền tệ. Khi lãi suất tối đa bị loại bỏ trong quá trình
nới lỏng các quy định, việc duy trì mức lãi suất cạnh tranh càng trở nên
gay gắt. Đặc biệt trong giai đoạn khan hiếm tiền tệ, đủ cho những khác
biệt tương đối nhỏ về lãi suất cũng sẽ thúc đẩy người gửi tiền tiết kiệm và
nhà đầu tư chuyển vốn từ ngân hàng này sang ngân hàng khác hay từ
công cụ này sang công cụ khác.
c. Năng lực và trình độ cán bộ ngân hàng