GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong đời sống và sản xuất kinh doanh, con người luôn luôn bò các rủi ro đe
dọa gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, tài sản…. Nếu không may gặp phải những
rủi ro đó con người phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong việc khắc phục những
rủi ro đó để ổn đònh đời sống.
Để hạn chế những thiệt hại có thể xảy ra, con người luôn luôn tìm cách đối
phó với rủi ro. Thay vì bằng các biện pháp: né tránh rủi ro, ngăn chặn rủi ro, chấp
nhận rủi ro thì chúng ta có thể chuyển giao rủi ro bằng cách mua bảo hiểm. Bảo
hiểm đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội hiện nay. Nó góp phần tạo sự
an tâm trong quá trình làm việc, ổn đònh đời sống xã hội.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các nghiệp vụ bảo hiểm ngày càng
được quan tâm, xây dựng và phát triển lớn mạnh tương ứng với vò trí của nó trong thò
trường bảo hiểm phi nhân thọ.
Việc nghiên cứu sâu sát và đưa ra giải pháp nhằm mở rộng hơn nữa thò
trường các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ là cần thiết. Vì lý do đó em xin chọn đề
tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty
Cổ phần Bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long)” cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
2
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu tình hình kinh doanh tại Công ty Bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo
Long)
Tìm hiểu về ngành bảo hiểm phi nhân thọ tại thò trường Việt Nam
Phân tích, đánh giá và đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại
Công ty Bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long)
• Chương 2: Tình hình kinh doanh tại Công ty Cổ phần bảo hiểm Nhà
Rồng (Bảo Long)
• Chương 3: Giải pháp, kiến nghò nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh
tại Công ty Cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long)
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
4
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ KHÁI
QUÁT VỀ BẢO HIỂM
1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh
1.1.1 Các quan điểm cơ bản về hiệu quả
Ngày nay, khi đề cập đến vấn đề hiệu quả thì người ta vẫn chưa có một khái
niệm thống nhất. Bởi ở mỗi lónh vực khác nhau, xem xét trên các góc độ khác nhau
thì người ta có những cách nhìn nhận khác nhau về vấn đề hiệu quả. Như vậy, ở mỗi
lónh vực khác nhau thì người ta có những khái niệm khác nhau về hiệu quả, và thông
thường khi nói đến hiệu quả của một lónh vực nào đó thì người ta gắn ngay tên của
lónh vực đó liền ngay sau hiệu quả. Để hiểu rõ hơn về vấn đề hiệu quả thì chúng ta
xem xét các vấn đề hiệu quả ở trên các lónh vực kinh tế, chính trò và xã hội. Tương
ứng với các lónh vực này là 3 phạm trù hiệu quả: hiệu quả kinh tế, hiệu quả chính trò
và hiệu quả xã hội.
* Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục
tiêu kinh tế của một thời kỳ nào đó. Nếu đứng trên phạm vi từng yếu tố riêng lẻ thì
chúng ta có phạm trù hiệu quả kinh tế, và xem xét vấn đề hiệu quả trong phạm vi
các doanh nghiệp thì hiệu quả kinh tế chính là hiệu quả kinh doanh của một doanh
khả năng quản lý của doanh nghiệp. Lúc này hiệu quả kinh doanh thống nhất với
hiệu quả quản lý doanh nghiệp. Dưới góc độ này thì hiệu quả kinh doanh phản ánh
trình độ và khả năng kết hợp các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất.
Trong thực tế hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp đạt được trong các
trường hợp sau:
- Kết quả tăng, chi phí giảm
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
6
- Kết qủa tăng, chi phí giảm nhưng tốc độ tăng của chi phí nhỏ hơn tốc độ tăng
của kết quả.
Nói tóm lại ở tầm vó mô hiệu qủa kinh doanh phản ánh đồng thời các mặt của
quá trình sản xuất kinh doanh như: kết quả kinh doanh, trình độ sản xuất tổ chức sản
xuất và quản lý, trình độ sử dụng của yếu tố đầu vào đồng thời nó yêu cầu sự phát
triển của doanh nghiệp theo chiều sâu. Nó là thước đo ngày càng trở nên quan trọng
của sự tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu
kinh tế của doanh nghiệp trong thời kỳ. Sự phát triển tất yếu đó đòi hỏi các doanh
nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh doanh, đây là mục tiêu cơ bản nhất của doanh
nghiệp.
* Hiệu quả xã hội và hiệu quả chính trò
Hiệu quả xã hội là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất
xã hội nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất đònh. Nếu đứng trên phạm vi toàn xã
hội và nền kinh tế quốc dân thì hiệu qủa xã hội và hiệu quả chính trò là chỉ tiêu phản
ánh ảnh hưởng của hoạt động kinh doanh đối với việc giải quyết những yêu cầu và
mục tiêu chung của toàn bộ nền kinh tế xã hội. Bởi vậy hai loại hiệu quả này đều có
vò trí quan trọng trong việc phát triển đầu nước một cách toàn diện và bền vững.
Đây là chỉ tiêu đánh giá trình độ phát triển của nền kinh tế xã hội ở các mặt: trình
độ tổ chức sản xuất, trình độ quản lý, mức sống bình quân thực tế ở các nước tư
bản chủ nghóa đã cho thấy các doanh nghiệp tư bản chỉ chạy theo hiệu quả kinh tế
mà không đặt vấn đề hiệu quả chính trò xã hội đi kèm và dẫn đến tình trạng: thất
doanh để tạo ra sản phẩm cung cấp cho thò trường. Muốn vậy, doanh nghiệp phải sử
dụng các nguồn lực sản xuất xã hội nhất đònh. Doanh nghiệp càng tiết kiệm sử dụng
các nguồn lực này bao nhiêu sẽ càng có cơ hội để thu được nhiều lợi nhuận bấy
nhiêu. Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh tính tương đối của việc sử dụng
tiết kiệm các nguồn lực xã hội nên là đIều kiện để thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu
dài của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh càng cao càng phản ánh doanh nghiệp
đã sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất.Vì vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh
là đòi hỏi khách quan để doanh nghiệp thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
8
hoá lợi nhuận. Chính sự nâng cao hiệu quả kinh doanh là con đường nâng cao sức
cạnh tranh và khả năng tồn tại, phát triển của mỗi doanh nghiệp.
1.1.3 Các nhân tố tác động đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của
các doanh nghiệp:
Nâng cao hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp là yêu cầu quan trọng và
là mục tiêu hàng đầu trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Chính vì
vậy nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là việc nâng cao hiệu quả của tất cả các
hoạt động trong qúa trình kinh doanh. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chòu
sự tác động của rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng khác nhau. Để đạt được hiệu qủa
nâng cao đòi hỏi phải có các quyết đònh chiến lược và quyết sách đúng trong qúa
trình lựa chọn các cơ hội hấp dẫn cũng như tổ chức, quản lý và điều khiển hoạt động
kinh doanh cần phải nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống các yếu tố ảnh
hưởng đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh có thể được chia thành hai
nhóm đó là nhóm các nhân tố ảnh hưởng bên ngoài doanh nghiệp và nhóm các nhân
tố ảnh hưởng bên trong doanh nghiệp. Mục tiêu của quá trình nghiên cứu các nhân
tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh nhằm mục đích lựa chọn mục đích các
phương án kinh doanh phù hợp. Tuy nhiên việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng
đến hiệu quả kinh doanh cần phải được thực hiện liên tục trong suốt qúa trình hoạt
mượn tiền của ngân hàng, của người thân hoặc bạn bè để khắc phục hậu quả thiên
tai và tai nạn bất ngờ. Đây cũng chính là hình thức tự bảo hiểm. Cách làm này chỉ
phát huy tác dụng đối với những rủi ro có tần suất xuất hiện thấp và ít nghiêm trọng.
Nếu phát sinh tổn thất lớn thì với những biện pháp nói trên không thể khắc phục
được nhanh chóng hậu quả.
- Chuyển giao rủi ro hay còn gọi là bảo hiểm, mua bảo hiểm. Đây là biện pháp
đối phó với rủi ro hiệu quả nhất, nó khắc phục được nhược điểm của tất cả các biện
pháp nói trên.
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
10
1.2.2 Đònh nghóa bảo hiểm
Bảo hiểm là một khái niệm rất rộng, khó có được một đònh nghóa chung để áp
dụng với cả bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ vì bản chất của hai loại
hình bảo hiểm này hoàn toàn khác nhau. Ở đây, chúng ta chỉ bàn về bảo hiểm phi
nhân thọ. Vì vậy được đònh nghóa như sau:
Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của số ít người cho cả
cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại, bằng cách mỗi người
trong cộng đồng góp một số tiền nhất đònh vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù
đắp thiệt hại cho những thành viên trong cộng đồng không may bò thiệt hại do những
rủi ro đó gây ra.
Để có thể chia sẻ rủi ro thì việc đầu tiên phải làm là chuyển giao rủi ro
1.2.2.1 Chuyển giao rủi ro
Bảo hiểm có nghóa là chuyển giao rủi ro. Chuyển giao rủi ro ở đây thực chất là
chuyển giao hậu quả tài chính của rủi ro. Người chuyển giao rủi ro có thể là một cá
nhân hoặc một tổ chức. Chuyển giao rủi ro cũng có nghóa là cá nhân hoặc tổ chức đó
đổi cái không chắc chắn của mình (cái có khả năng xảy ra thiệt hại) lấy cái chắc
chắn (là không bò thiệt hại khi rủi ro xảy ra) hay nói cách khác, chấp nhận một tổn
thất nhỏ chắc chắn xảy ra (phí bảo hiểm) để tránh một tổn thất lớn hơn nhiều có thể
bảo hiểm thành công thì các doanh nghiệp bảo hiểm cần biết giữ chữ tín của mình.
Chữ tín gắn liền với thương hiệu của doanh nghiệp bảo hiểm. Doanh nghiệp nào có
uy tín, có bề dày lòch sử, có công nghệ hiện đại, có phong cách phục vụ khách hàng
chu đáo thì doanh nghiệp đó sẽ thu hút được đông đảo khách hàng tham gia bảo
hiểm.
1.2.3 Quá trình phát triển của bảo hiểm
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
12
Cũng như các ngành khác, bảo hiểm ra đời do nhu cầu khách quan của đời sống
kinh tế xã hội đòi hỏi. Đó là nhu cầu được bảo vệ , được giúp đỡ, được chia sẻ hoạn
nạn khi rủi ro, tổn thất xảy ra.
Để đi tới hoàn thiện và phát triển như ngày nay, bảo hiểm đã trải qua các giai
đoạn phát triển từ thấp đến cao.
1.2.3.1 Hình thức sơ khai của bảo hiểm
Thời nguyên thủy, loài người sống bằng nghề săn bắt, hái lượm. Ngay lúc đó, họ
đã biết cách dự trữ những con vật săn bắt được. Đến một giai đoạn phát triển khá
hơn, con người biết chăn nuôi, rồi trồng trọt. Tuy vậy sản xuất nông nghiệp rất bấp
bênh, phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên. Nhà nông đã biết dự trữ lương thực
phòng khi mất mùa. Đây là hình thức sơ khai của bảo hiểm.
Với việc tìm ra một số châu lục và vùng đất mới, thương mại hàng hải giữa các
châu lục và các vùng đất mới phát triển nhanh chóng. Cùng với nó, bảo hiểm, nhất
là bảo hiểm hàng hải cũng phát triển theo.
1.2.3.2 Bảo hiểm thông qua cho vay lãi suất cao
Nhóm người có tiền cho các thương nhân vay vốn để mua hàng và tàu, thương
nhân phải trả trước một lãi suất khá cao. Nếu thuận buồm xui gió, tàu đi đến nơi về
đến chốn thì người vay phải hoàn trả tiền gốc đã vay. Ngược lại, nếu con thuyền gặp
nạn, không trở về được thì người cho vay không thu hồi được số tiền đã cho vay vì
Có thể nói bảo hiểm hàng hải là đứa con đầu lòng của ngành bảo hiểm. Hiện
nay, người ta còn lưu giữ được bản hợp đồng bảo hiềm phát hành tại Genoa - Italia
năm 1347. Đến khi tàu chạy bằng hơi nước, rồi đến động cơ diezen ra đời, năng lực
vận tải tăng vọt lên, làm cho giao lưu thương mại giữa các nước thế giới phát triển
mạnh mẽ, tạo cơ hội cho bảo hiểm hàng hải và các nghiệp vụ bảo hiểm khác phát
triển.
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
14
Bảo hiểm hỏa hoạn ra đời ngay sau bảo hiểm hàng hải (thế kỷ 17). Vào thời kỳ
đó, ở các thành phố Châu u, nhà cửa đều được xây dựng bằng gỗ và người ta dùng
lửa để thắp sáng, sưởi ấm và nấu ăn trong các ngôi nhà đó. Vì vậy, nguy cơ xảy ra
cháy rất cao. Vụ cháy lớn nhất nước Anh vào năm 1666 thiêu hủy trên 13.000 ngôi
nhà là một thảm họa rất lớn trong lòch sử. Đó cũng là sự cảnh báo cho mọi người về
nguy cơ hỏa hoạn và làm nảy sinh nhu cầu bảo hiểm hỏa hoạn. Năm 1667, công tuy
bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên ra đời tại nước Anh.
Từ cuối thế kỷ 19, cuộc đại cách mạng khoa học kỹ thuật trên toàn thế giới diễn
ra sôi động, mang lại nhiều thành tựu, làm xuất hiện nhiều ngành nghề kinh doanh
mới. Song dù khoa học kỹ thuật có phát triển đến đâu đi chăng nữa, tạo ra được
nhiều biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất hữu hiệu thì rủi ro vẫn cứ tồn tại và luôn
luôn đe dọa đời sống kinh tế xã hội của con người, chính vì vậy mà hàng loạt loại
hình bảo hiểm ra đời: bảo hiểm ôtô, máy bay, công trình xây dựng…
Tóm lại: bảo hiểm ra đời và phát triển là do nhu cầu khách quan đòi hỏi. Cuộc
sống đòi hỏi phải có quỹ tài chính đủ lớn để bù đắp đầy đủ, kòp thời các thiệt hại do
các sự cố bất ngờ gây ra, giúp người bò hại có thể nhanh chóng khôi phục lại cuộc
sống và sản xuất kinh doanh.
1.2.4 Ý nghóa, tác dụng của bảo hiểm
Như chúng ta đã thấy, bảo hiểm đã có lòch sử phát triển hàng trăm năm, các
nghiệp vụ bảo hiểm lần lượt ra đời, sản phẩm bảo hiểm ngày càng đa dạng, phong
phú. Số lượng doanh nghiệp bảo hiểm ngày càng tăng, tầm hoạt động không ngừng
quyết bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm có thể biết được đâu là những nguyên
nhân chính dẫn đến tai nạn, từ đó đề ra các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất.
Các biện pháp này làm giảm nguy cơ xuất hiện rủi ro, tổn thất, nhờ đó mà giảm
được số tiền bồi thường doanh nghiệp bảo hiểm phải chi trả, tiết kiệm của cải xã
hội, làm tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm và từ đó có điều kiện
để giảm phí bảo hiểm.
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
16
Thực tế các doanh nghiệp bảo hiểm đã chi nhiều khoản tiền không nhỏ cho công
tác đề phòng hạn chế tổn thất, như lắp gương cầu tại các đoạn đường gấp khúc nguy
hiểm, làm đường lánh nạn, trang bò bình cứu hỏa…
Ngoài ra, điều kiện bảo hiểm cũng buộc người được bảo hiềm phải quan tâm đến
việc bảo vệ an toàn cho người và tài sản được bảo hiểm.
1.2.4.4 Ổn đònh đời sống, sản xuất kinh doanh của người tham gia bảo
hiểm
Nếu không tham gia bảo hiểm, khi tổn thất xảy ra, người bò tổn thất phải bỏ tiền
túi ra để khắc phục hậu quả, số tiền này có khi vượt khả năng tài chính của họ,
khiến họ phải chạy vạy vay mượn hoặc phá sản. Tham gia bảo hiểm, họ chỉ phải trả
một khoản tiền rất nhỏ (phí bảo hiểm), đổi lại khi có tổn thất xảy ra, họ có thể yên
tâm vì đứng sau họ đã có doanh nghiệp bảo hiểm sẵn sàng bồi thường như đã cam
kết. Nhờ đó mà đời sống, hoạt động sản xuất kinh doanh của họ không bò đảo lộn.
Cũng nhờ có bảo hiểm mà họ có thể kế hoạch hóa được cái tưởng như không thể kế
hoạch hóa được, đó là chi phí khắc phục hậu quả của thiên tai và tai nạn bất ngờ.
1.2.4.5 Tạo ra sự an tâm về mặt tinh thần cho người tham gia bảo hiểm
Con người luôn luôn muốn đảm bảo an toàn cho bản thân, gia đình và doanh
nghiệp của mình. Tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm chuyển những rủi ro đe
dọa mình cho doanh nghiệp bảo hiểm, nhờ đó mà họ có thể yên tâm khi tổn thất xảy
ra chắc chắn họ sẽ nhận được tiền bồi thường hoặc quyền lợi bảo hiểm từ doanh
• Bảo hiểm máy móc và thiết bò xây dựng
• Bảo hiểm công trình kỹ thuật dân dụng hoàn thành
• Bảo hiểm hỗn hợp nhà tư nhân
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
18
• Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
• Bảo hiểm nồi hơi và bình áp suất
• Và một số nghiệp vụ khác
1.3.2 Bảo hiểm hàng hải: gồm có
• Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội đòa
• Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu
• Bảo hiểm tàu sông và tàu biển
• Và một số nghiệp vụ khác
1.3.3 Bảo hiểm phi hàng hải
• Bảo hiểm xe cơ giới
• Bảo hiểm tai nạn con người 24/24
• Bảo hiểm nằm viện và phẫu thuật
• Bảo hiểm du lòch
• Và một số nghiệp vụ khác
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
19
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH KINH DOANH TẠI CÔNG TY CP BẢO HIỂM
NHÀ RỒNG (BẢO LONG)
2.1 Khái quát về Công ty CP Bảo Hiểm Nhà Rồng
2.1.1 Quá trình thành lập
Công ty cổ Phần Bảo Hiểm Nhà Rồng (Bảo Long) được thành lập và chính thức
mạng lưới các chi nhánh đặt tại các vùng trọng điểm trên toàn quốc. Khi mới thành
lập, ngoài trụ sở chính tại Tp.HCM, Bảo Long chỉ mở thêm chi nhánh tại Hà Nội;
nhưng đến nay Bảo Long đó phát triển thêm các chi nhánh đặt tại Quảng Ninh, Hải
Phòng, Đà Nẵng, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Dương, Vũng Tàu, Cần Thơ… và hệ
thống các văn phòng bảo hiểm, đại lý bảo hiểm tại tất cả các tỉnh, thành.
Hoạt động của Công ty ngày càng được chuẩn hóa. Đầu năm 2003 Bảo Long đã
được tổ chức United Registrar of Systems (URS) của Anh quốc cấp giấy chứng nhận
quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2000. Bên cạnh đó, Bảo Long
còn hợp tác chặt chẽ với các công ty bảo hiểm trong và ngoài nước nhằm trao đổi
kinh nghiệm, đào tạo kỹ năng, nâng cao chất lượng dòch vụ, thực hiện đầy đủ các
nghiệp vụ bảo hiểm và tái bảo hiểm để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
Kết quả là doanh thu phí và lợi nhuận của Bảo Long liên tục tăng trưởng qua các
năm, tỷ lệ cổ tức đảm bảo yêu cầu các cổ đông (năm 2005, tỷ lệ cổ tức là 14%)
Với những nỗ lực không ngừng với mục đích phục vụ khách hàng một cách tốt
nhất, Bảo Long đó vinh dự nhận Cúp vàng dòch vụ uy tín chất lượng dành cho dòch
vụ bảo hiểm hàng hóa vận chuyển và Cúp vàng thương hiệu uy tín chất lượng
của Hội Sở Hữu Công Nghiệp Việt Nam.
Trong những năm tới, thò trường bảo hiểm Việt Nam sẽ hội nhập quốc tế, có
nhiều cơ hội và thách thức nhưng Bảo Long sẽ tiếp tục phấn đấu tự hoàn thiện mình
và nâng cao chất lượng hoạt động của mình để phục vụ tốt nhất khách hàng theo
phương châm “AN TOÀN NHẤT, TIN CẬY NHẤT, HIỆU QUẢ NHẤT”. Với sự
đồng tâm nhất tríù của HĐQT và Ban Lãnh đạo, nỗ lực của đội ngũ nhân viên trẻ
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
21
được đào tạo tốt và sự hỗ trợ nhiệt tình của các cổ đông và khách hàng, Bảo Long
chắc chắn sẽ tiếp tục phát triển ổn đònh và bền vững.
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ
Tên Công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM NHÀ RỒNG
Tên viết tắt: BẢO LONG
Bảo Long xây dựng Mục Tiêu Chất Lượng hàng năm phù hợp và nhất quán với
Chính Sách Chất Lượng, bảo đảm chính sách này được thấu hiểu, thực hiện trong
toàn thể tổ chức. Mục Tiêu Chất Lượng được xem xét hàng năm để cải tiến liên tục.
2.1.2.4 Giá trò đối với xã hội:
Hoạt động của bảo hiểm thâm nhập vào tất cả các lónh vực của đời sống kinh tế
– xã hội. Vì vậy, giá trò của công ty được xác đònh bởi khả năng cung cấp dòch vụ
bảo hiểm đáp ứng được nhu cầu bảo hiểm của thò trường. Bảo Long tin tưởng rằng,
đóng góp hiệu quả nhất cho xã hội là củng cố một cách chiến lược về nguồn nhân
lực, tri thức, tài chính của công ty cho việc đầu tư và phát triển loại hình sản phẩm
bảo hiểm phi nhân thọ giúp phụ vụ nhu cầu của cá nhân, doanh nghiệp… một cách
tốt nhất cũng như đáp ứng nhu cầu vốn không ngừng tăng lên của quá trình tái sản
xuất trong nền kinh tế thò trường bằng cách đầu tư vào các lónh vực có hiệu quả.
2.1.3 Cơ cấu tổ chức
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
23
Nguồn: Công ty Cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
24
2.2 Tình hình kinh tế – xã hội, thò trường bảo hiểm phi nhân thọ
2.2.1 Tình hình kinh tế – xã hội
Cuối năm 2008 có đến 18 trên 26 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ bò lỗ hoặc
không có lãi nghiệp vụ bảo hiểm. Đầu năm 2009 nền kinh tế xã hội Việt Nam chòu
ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng suy thoái kinh tế toàn cầu nhiều cơ sở sản xuất
kinh doanh hoạt động giảm sút hoặc cầm chừng, công nhân thiếu việc làm giảm sút
thu nhập dẫn đến không có đủ khả năng tài chính tham gia bảo hiểm. Không ít
khách hàng truyền thống của doanh nghiệp bảo hiểm không có tiền đóng phí bảo
Dù tăng trưởng khá tốt trong những năm gần đây (30%/năm), nhưng các doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề: còn nhiều
doanh nghiệp bảo hiểm chưa đầu tư đúng mức vào phát triển nghiệp vụ bảo hiểm,
công tác thống kê và đònh phí bảo hiểm; do hoạt động chưa chuyên nghiệp, chạy
theo doanh thu nên một số doanh nghiệp vẫn cạnh tranh bằng mọi cách để giành
dòch vụ, không chú ý đánh giá rủi ro, tính phí bảo hiểm và thu xếp tái bảo hiểm, nên
đã lỗ từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm; hệ thống công nghệ thông tin của không ít
doanh nghiệp bảo hiểm chưa cập nhật được từng hợp đồng bảo hiểm phát sinh, chưa
phân loại được khách hàng, rủi ro bảo hiểm, chưa phân tích đánh giá được nguyên
nhân, mức độ rủi ro tổn thất, còn nhiều lỗ hổng cho trục lợi bảo hiểm.
Mức độ cạnh tranh trên thò trường bảo hiểm phi nhân thọ đang diễn ra ở mức rất
cao. Số lượng các công ty bảo hiểm ngày càng tăng lên, tuy nhiên đội ngũ nhân lực
có trình độ chuyên môn lại chưa đáp ứng được nhu cầu của thò trường, đặc biệt là
đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao.
Chính vì vậy, theo báo cáo đánh giá mới đây của Cục quản lý cạnh tranh, các
công ty bảo hiểm không cạnh tranh với nhau bằng chất lượng dòch vụ, cung cấp sản
phẩm dòch vụ tốt tới khách hàng mà cạnh tranh nhau bằng việc hạ phí, giành giật lôi
kéo khách hàng.
Việc hạ phí bảo hiểm nhằm có được thò phần hay giành được dòch vụ không phải
là hình thức cạnh tranh mới song lại đang trở thành cách thức cạnh tranh của nhiều
doanh nghiệp bảo hiểm trên thò trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay.