Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮ
XD : Xây dựn
S : Sản xuất
TSC : Tài sản cố định
TSD : Tài sản dài hạn
Vốn CSH: Vốn chủ sở hữ
VC : Vốn cố định
VL : Vốn lưu động
RO : Tỉ suất lợi nhuận trên tài sả
RO : Tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữ
DD : Công ty Cổ phần xây dựng công nghiệp
SVTH: Vũ Thị Hiểu Lớp: Kế hoạch 48A
1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
SC5 : Công ty Cổ phần xây dựng Số 5
HB : Công ty Cổ phần xây dựng và Kinh doanh Địa ốc Hòa Bìn
VCG : Tổng Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng ViệtNam
SD : Công ty cổ phần Sông Đà 3
SD : Công ty Cổ phần Sông Đà 9
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂ
A/ DANH MỤC BẢNG
SVTH: Vũ Thị Hiểu Lớp: Kế hoạch 48A
2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
B/ DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU Đ
LỜI NÓI ĐẦ
:
- Nhìn nhận đúng đắn về thực trạng năng lực của công ty cổ phần LICOGI
12 nói chung và năng lực đấu thầu của công ty nói riêng trong thời điểm hiện t
.
- Trên cơ sở phân tích thực trạng để rút ra được những hạn chế trong năng
lực đấu thầu của công ty và nguyên nhân của
.
- Tìm kiếm những giải pháp phù hợp giúp công ty giải quyết những vấn đề
gặp phải và nâng cao năng lực đấu thầu của mình trong lĩnh vực xây l
.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài: Tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài này với
mong muốn góp một phần nào đó cho sự phát triển đi lên của Tổng công ty, đồng
thời có thể thực hành những kiến thức cơ bản mà mình đã được học trong chương
trình Đại h
.
3 . Đối tượng và phạm vi nghiên
u
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề tập trung chủ yếu vào năng lực đấu
thầu xây lắp, thuộc phạm vi nghiên cứu là công ty cổ phần LICOGI 12, đồng thời
có xem xét đến các doanh nghiệp xây lắp hiện nay và cơ chế chính sách nhà nước
đối với hoạt động đấu th
.
4 . Câu hỏi đặt ra trong nghiên
u
SVTH: Vũ Thị Hiểu Lớp: Kế hoạch 48A
4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
Trong quá trình làm chuyên đề tốt nghiệp, tôi đã đặt ra những câu hỏi để
định hướng cho việc nghiên cứu của mình, các câu hỏi nhằm hướng tới những vấn
đề cơ bản cần phải giải quyết của chuyên đề. C
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
y lắp
Chương II: Đánh giá thực trạng năng lực công tác đấu thầu của công ty
cổ phần xây dựng LI
GI 12
Chương III: Giải pháp nâng cao năng lực đấu thầu xây lắp của công ty
cổ phần LI
GI 12
Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo TS. Vũ Thị Tuyết Mai đã tận tình hướng
dẫn để tôi có thể hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn
chân thành tới ban lãnh đạo công ty cổ phần LICOGI 12, Phó phòng Kinh tế- kỹ
thuật Nguyễn Tất Vinh cùng các cán bộ công nhân viên trong phòng kế hoạch công
ty đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập tại công ty. Trong quá trình nghiên
cứu do khả năng còn nhiều hạn chế, không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong
được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và mọi người để hoàn thiện tốt hơn nữa
luận văn
a mình.
Tôi xin chân thà
SVTH: Vũ Thị Hiểu Lớp: Kế hoạch 48A
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
CHƯƠNG I: LÝ LUẬNCHUNG V Ề ĐẤU THẦU VÀ SỰ CẦN THIẾT
PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐẤU THẦU
LẮP
I. h
niệ m
1. Đấu thầu và đấu thầu
ây lắp
1.1. Khái niệm và phân loại
- "Nhà thầu" là tổ chức kinh tế có đủ tư cách pháp nhân tham gia đấu thầu.
Trong trường hợp đấu thầu tuyển chọn tư vấn, nhà thầu có thể là cá nhân. Nhà thầu
là nhà xây dựng trong đấu thầu xây lắp, là nhà cung cấp trong đấu thầu mau sắm
hàng hoá; là nhà tư vấn trong đấu thầu tuyển chọn tư vấn, là nhà đầu tư trong đấu
thầu lựa chọn đối tác đầu tư. Nhà thầu trong nước là nhà thầu có tư cách pháp
nNamhân Việt và hoạt động hợp pháp Namtại Việt (điều 3, Quy chế Đấu thầu, t
ng 11).
- "Bên mời thầu" là chủ dự án, chủ đầu tư hoặc pháp nhân đại diện hợp pháp
của chủ dự án, chủ đầu tư được giao trách nhiệm thực hiện công việc đấu thầu
(Điều 3, Quy chế Đấu thầu, t
ng 10).
- "Gói thầu" là toàn bộ dự án hoặc một phần công việc của dự án, được chia
theo tính chất kỹ thuật hoặc trình tự thực hiện dự án, có quy mô hợp lý và đảm bảo
tính đồng bộ của dự án, có quy mô hợp lý và đảm bảo tính đồng bộ của dự án.
Trong trường hợp mua sắm gói thầu cá thể là một hoặc một loại đồ dùng, trang thiết
bị hoặc phương tiện. Gói thầu được thực hiện theo một hoặc nhiều hợp đồng (khi
gói thầu được chia thành nhiều phần) (Điều 3, Quy chế Đấu thầu, t
ng 11).
SVTH: Vũ Thị Hiểu Lớp: Kế hoạch 48A
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
- "Tư vấn" là hoạt động đáp ứng các yêu cầu về biến thức, kinh nghiệm
chuyên môn cho bên mời thầu và việc xem xét, quyết định, kiểm tra quá trình chuẩn
bị và thực hiện dự án. (Điều 3,Quy chế Đấu thầu, t
ng 12).
Nói đến đấu thầu là nói đến một quá trình lựa chọn tức là việc đấu thầu phải
tuân thủ theo trình tự, thủ tục nhất định. Điều này chỉ tạo ra cho đấu thầu một sự
khắc biệt hẳn so với các hình thức khác thường gặp trong mua bán thông thường.
Khái niệm đấu thầu được hiểu khác nhau dưới góc độ của từng chủ thể tham gia
ấu thầu:
n đầu tư.
- Đấu thầu mua săm vật tư thiết bị: là quá tình lựa chọn nhà thầu cung cấp
những loại vật tư thiết bị phù hợp đáp ứng các yêu cầu của dự
n đầu tư.
- Đấu thầu xây lắp: là quá trình lự chọn nhà thầu phù hợp, thực hiện các công
việc xây dựng và lắp đặt các công trình đáp ứng trong các yêu cầu
ủa dự án.
- Đấu thầu dự án: là quá trình lựa chọn các đối tác phù hợp, có khả nưng tổ
chức thực hiện toàn bộ những công việc có liên quan đến dự án từ chuẩn bị đầu tư
và xây dựng, cung ứng vật tư thiết bị, xây dựng và lắp đặt, thu xếp cá
nguồn vốn,…
b. Căn cứ vào hình thức lựa
ọn nhà thầu
Căn cứ vào hình thức lựa chọn nhà thầu, đấu thầu được chia làm các loại
đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế và chỉ định
ầu. Cụ thể:
- Đấu thầu rộng rãi: là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà thầu
tham gia. Bên mời thầu phải thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại
chúng và ghi rõ các điều kiện, thời gian dự thầu. Đối với những gói thầu lơn, phức
tạp về công nghệ và kỹ thuật, bên mời thầu phải tiến hành sơ tuyển để lựa chọn nhà
thầu có đủ tư cách và năng lực tham gia dự thầu. Đặc điểm của hình thức đấu thầu
này là không hạn chế số lượng, được thông báo rộng rãi trong phạm vi một vùng,
địa phương hay liên vùng,
ay quốc tế.
- Đấu thầu hạn chế: la hình thức đấu thầu mà bên mời thầu chỉ mời một số
nhà thầu có khả năng đáp ứng các yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Đặc điểm của loại
hình đấu thầu này là chỉ có một số ít nhà thầu tham dự , yêu cầu sử dụng nguồn vốn
lớn và có các yêu cầu đặc biệt về tiến độ thự
hiện dự án.
SVTH: Vũ Thị Hiểu Lớp: Kế hoạch 48A
thiết bị có quy mô đơn giản và nhỏ. Mỗi gói thầu mua sắm vật tư thiết bị có qui mô
đơn giản và nhỏ. Mỗi gói thầu phải có ít nhất 3 bản chào giácủa ba nhà t
u khác nhau.
- Mua sắm trực tiếp chủ yếu áp dụng trong việc bổ sung đơn hàng mua sắm
vật tư thiết bị mà trước đó đã được tổ
SVTH: Vũ Thị Hiểu Lớp: Kế hoạch 48A
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
húc đấu thầu.
- Giao thầu trực tiếp là loại hình đấu thầu cần phải chọn nhà thầu có độ tin
cậy cao để xem xét thương thảo hợp đồng. Loại này chỉ áp dụng đối với trường hợp
chỉ định thầu. Trong trường hợp nhà thầu được chọn không đáp ứng các yêu cầu
của chủ đầu tư thì có quyền kiến nghị chọn
hà thầu khác.
- Tự làm là hình thức chủ đầu tư tự sủ dụng các lực lượng của mình để thực
hiện khối lượng xây lắp được giao. Hình thức này chủ yếu chỉ áp dụng trong các
công trình sửa chữa cải tạo có quy mô nhỏ hay các công trình chuyên
gành đặc biệt
1.2. Đ
thầu xây lắp
Như đã nói ở trên đấu thầu xây lắp là quá trình lựa chọn nhà thầu phù hợp,
thực hiện các công việc thuộc lĩnh vực xây dựng và lắp đặt các công trình đáp ứng
trong các yêu
ầu của dự án.
Thực chất của đấu thầu trong xây lắp là việc ứng dụng phương pháp xét hiệu
quả kinh tế trong việc lựa chọn tổ chức thi công xây dựng. Đây cũng là một biện
pháp quản lý kinh tế - kỹ thuật trong xây dựng, và là một phương pháp áp dụng phổ
biến nhất để tranh giành hợp đồng xây dựng giữa các nhà thầu muốn xây dự
công trình.
Chúng ta có thể tóm tắt nội dung cơ bản của đấu thầu xâ
u thầu xây lắp
Khi nói về năng lực đấu thầu ( hay năng lực cạnh tranh trong đấu thầu) của
doanh nghiệp là nói đến các nội lực bên trong như năng lực về tài chính, kỹ thuật,
công nghệ, quảng cáo, tổ chức quản lý, đội ngũ nhân viên…của doanh nghiệp và
việc sử dụng các nội lực đó để phục vụ cho các cuộc đấu thầu khác nhau tạo ra lợi
thế hơn hẳn các doanh nghiệp khác. Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về
năng lực đấu thầu của doanh nghiệp nhưng tựu chung lại đều đề cập đến hai vấn đề
cơ bản là chiếm lĩnh thị trường và thu lợi nhuận. Như vậy,năng lực đấu thầu ( hay
năng lực cạnh tranh trong đấu thầu ) của doanh nghiệp là toàn bộ năng lực và việc
sử dụng các năng lực đó để tạo ra lợi thế của doanh nghiệp so vơi các đối thủ khác
nhằm duy trì vị trí của doanh nghiệp trên thị trường và thu được hiệu quả cao nhấ
trong kinh doanh.
Trên cơ sở khái niệm năng lực đấu thầu ta có thể hiểu năng lực đấu thầu xây
lắp là toàn bộ năng lực và việc sử dụng các năng lực đó để tạo ra lợi thế của doanh
nghiệp o vơi các đối thủ khác nhằm duy trì vị tri của doanh nghiệp trên thị trường
và thu được hiệu quả cao nhất tron
SVTH: Vũ Thị Hiểu Lớp: Kế hoạch 48A
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
lĩnh vực xây lắp.
Thực tế trong nền kinh tế thị trường, hoạt động đấu thầu ngày càng sôi
động, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt. Để đứng vững và mở
rộng thị phần đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựng phải không ngừng nâng cao
ăng lực đấu thầu.
II. Các nhân tố ảnh hưởng tới năng l
đấu thầu xây lắp
Có thể tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực đấu thầu của doanh
nghiệp xây d
Sơ đồ 1.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực đấu thầu của do
SVTH: Vũ Thị Hiểu Lớp: Kế hoạch 48A
lực của
nhà
cung
cấp
Quyền
lực của
chủ đầu
tư
Nguồn
nhân
lực
Tài
chính
Máy
móc
thiết
bị
công
nghệ
Nhà
nước
và
chính
trị
Hoạt
động
quảng
cáo
tiếp
thị
giá cả lên xuống thất thường, ảnh hưởng lớn đến việc đầu tư và xác định giá dự
thầu. Do vậy có thể khẳng định rằng thị trường là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến
sự thành công hay thất bại của một dự án được đưa
đấu thầu trong xây lắp.
SVTH: Vũ Thị Hiểu Lớp: Kế hoạch 48A
16
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
Khi phân tích ảnh hưởng của thị trường đến năng lực đấu thầu của công ty
thường ta sẽ chú ý đến vấn đề giá cả thị trường nói chung và thị trường xây dựng
nói riêng (bao gồm giá cả máy móc thiết bị, giá cả vật tư ) và những tác động của
nó tới năng lực đấu thầu của công ty, trong đó chịu tác động trực tiếp nhất là năng
lực dự báo giá và
ng lực máy móc thiết bị
1.3. Đối thủ cạnh tranh
Sự hiểu biết về đối thủ cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh
nghiệp do nhiêu nguyên nhân. Các đối thủ cạnh tranh nhau quyết định tính chất và
mức độ tranh đua hoặc thủ thuật giành ưu thế trên thị trường. Mức độ cạnh tranh
phụ thuộc vào mối tương tác của số doanh nghiệp tham gia cạnh tranh, tốc độ tăng
trưởng của ngành, cơ cấu chi phí cố định hoặc chi phí dự trữ chiếm tỷ trọng lớn, sự
đa dạng hóa của các đối thủ cạnh tranh,
àng rào cản trở rút lui.
Hiện nay trên thị trường xây dựng có rất nhiều doanh nghiệp cả trong và
ngoài nước cùng tham gia, làm tăng tính chất và quy mô cạnh tranh trong ngành,
làm giảm mức lợi nhuận doanh nghiệp. Nếu trên thị trường có một số doanh nghiệp
dẫn đầu thì cạnh tranh gay gắt chỉ diễn ra giữa các doanh nghiệp yếu thế hơn. Trong
đấu thầu xây dựng, các doanh nghiệp có năng lực đấu thầu cao ( các doanh nghiệp ở
vị trí dẫn đầu ) thường sử dụng phương thức cạnh tranh bằng giá dự thầu, chất
lượng công trình, tiến độ thi công công t
nh để giành được hợp đồng.
1.4
chọn một trong hai con đường: tiếp tục mua hàng với giá cao hoặc tìm nguồn cung
cấp khác. Nếu công ty lựa chọn con đường thứ nhất thì khi lập dự toán giá dự thầu
sẽ cho kết quả giá chào thầu quá cao so với các nhà thầu khác, như vậy sẽ làm giảm
sự cạnh tranh của mình. Nếu lựa chọn con đường thứ hai công ty sẽ đối đầu với rủi
ro: một là sử dụng đơn giá của Nhà nước, có thể giá đó không phù hợp với tình hình
thực tế; hai là tìm nguồn cung cấp của nhà cung cấp khác thông qua bảng giá chào
thầu của nhà cung cấp, công ty sẽ không nắm rõ chất lượng của nhà cung cấp mới
này, đồng thời giá của họ cũng có thể là giá cao; thứ ba không tránh khỏi trường
hợp các nhà cung cấp liên kết với nhau để gây sức ép giá cả đối với công ty. Tóm
lại, xét về mặt giá cả cạnh tranh, sự ảnh hưởng của nhà cung cấp đối với công ty có
thể diễn ra vì nhiều lý do khách q
n nhiều hơn lý do chủ quan.
1.4.2. Ả
hưởng đến tiến độ thi công
SVTH: Vũ Thị Hiểu Lớp: Kế hoạch 48A
18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
Đối với lĩnh vực xây dựng, tiến độ thực hiện công trình phụ thuộc vào tiến
độ cung cấp vật tư. Nếu công ty có các nguồn cung cấp đầu vào ổn định, luôn đảm
bảo kịp thời khi cần thiết thì sẽ đảm bảo được tiến độ thi công, không những rút
ngắn được tiến độ thi công trên thực tế mà còn rút ngắn tiến độ ngay từ khi lập
xuất trong hồ sơ dự thầu.
Ngược lại, nếu như công ty không có cơ sở để đảm bảo nguồn cung cấp
nguyên vật liệu ổn định, mà phải đi mua ngoài của những nhà cung cấp mới lập mối
quan hệ lần đầu tiên, chắc chắn công ty sẽ không tránh khỏi những bỡ ngỡ và những
khó khăn ban đầu. Điều này dẫn đến giá không phải là giá cạnh tranh nhất và sẽ làm
giảm sức cạnh tranh của công ty. Trong giai đoạn thi công, nếu nguồn vật tư không
được cung cấp thường xuyên và ổn định, tiến độ thi công bị ảnh hưởng và có thể
không được đản bảo như trong hợp đồng ký kết. Nếu như công trình hoàn thành
chậm hơn so với tiến độ đặt ra ban đầu, uy tín của công ty sẽ bị giảm xuống. Đây là
của công trình, Những đặc điểm này liên quan đến khả năng của nhà thầu có đáp
ứng được hay không, nếu những yêu cầu của chủ đầu tư phù hợp thế mạnh của nhà
thầu thì nhà thầu sẽ đáp ứng được một cách dễ dàng và đạt được sự hoàn hảo, làm
hài lòng chủ đầu tư, tăng sức cạnh tranh của nhà thầu trong gói thầu đó. Ngược lại
nếu năng lực của nhà thầu không phù hợp với lĩnh vực của chủ đầu tư yêu cầu thì
biện pháp mà nhà thầu đưa ra, giá chào hàng, tiến độ thi công không mang tính
cạnh tranh cao, không đảm bảo thắng lợi trong đấu thầu. Hoặc nếu nhà thầu có thể
đáp ứng được các yêu cầu của chủ đầu tư nhưng khả năng đáp ứng không tốt bằng
các nhà thầu khác thì khả năng cạnh tranh
a nhà thầu cũng sẽ giảm xuống.
Tóm lại, khả năng thứ nhất mà chủ đầu tư có thể ảnh hưởng đến sức cạnh
tranh hay năng lực đấu thầu của nhà thầu được xét đến ở đây là sự thích ứng, sự phù
hợp giữa năng lực của nhà thầu với những yêu cầu của chủ đầu tư. Sự phù hợp hay
không của năng lực nhà thầu với yêu cầu từ phía chủ đầu tư quyết định đến tính ưu
việt, tối ưu của những phương án do nhà thầu đề xuất, (về phía tài chính, về kỹ
thuật) và làm tăng hay giảm sức cạnh tranh của nh
thầu trong tham gia đấu thầu.
Khả năng thứ hai mà chủ đầu tư có thể tác động đến sức cạnh tranh hay năng
lực đấu thầu của nhà thầu khi tham gia đấu thầu là mối quan hệ giữa chủ đầu tư với
nhà thầu. Xét về khía cạnh này, sự cạnh tranh diễn ra ngay cả khi chuẩn bị phát
hành hồ sơ mời thầu. Thật vậy, trong một dự án đấu thầu kể cả đấu thầu mở rộng
hay đấu thầu hạn chế thì số nhà thầu tham dự không phải quá nhiều, thường chỉ giới
hạn trong 10 nhà thầu trở xuống (trừ những dự án quốc tế có tính chất quan trọng),
do đó có sự cạnh tranh giữa các nhà thầu để được tham gia dự thầu. Việc loại bỏ các
đối thủ khác tham gia đấu thầu sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của nhà thầu xét về
khía cạnh nào đó. Trên thực tế có một số công trình khi tham gia dự thầu, nhà thầu
SVTH: Vũ Thị Hiểu Lớp: Kế hoạch 48A
20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
nhờ có quan hệ tốt với chủ đầu tư nên đã được mời dự thầu và được mua hồ sơ sớm
thường đánh giá nguồn nhân lực của doanh nghiệp tham gia đấu thầu ở cac cấp độ:
Ban giám đục; Cán bộ quản lý cấp doanh nghiệp; Cán bộ quản lý trung gian, đ
SVTH: Vũ Thị Hiểu Lớp: Kế hoạch 48A
21
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
công và công nhân. Cụ thể là:
- Ban giám đốc doanh nghiệp: Đây là cấp độ nhân lực cao nhất của doanh
nghiệp, quyết định đến sự thành bại của đơn vị trong kinh doanh. Khi đánh giá bộ
máy lãnh đạo người ta thường quan tâm đến các tiêu thức như kinh nghiệm lãnh
đạo, trình độ, các hoạt động của doanh nghiệp, phẩm chất kinh doanh và các mối
quan hệ… Sâu xa hơn nữa là tinh thần đoàn kết, đồng lòng của nhân viên, của ekip
lãnh đạo, uy tín của Ban lãnh đạo trong và ngoài doanh nghiệp, điều này làm tăng
sức mạnh của chính doanh nghiệp và tạ
tín nhiệm đối với chủ đầu tư .
- Cán bộ quản lý cấp doanh nghiệp: Để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của
đội ngũ cán bộ quản lý chủ đầu tư th
ng tiếp cận trên các khía cạnh:
+ Trình độ chuyên môn, kinh nghiệm công tác, tác phong làm việc, sự am
hiểu về kinh doanh và pháp luật của từ
thành viên trong ekip quản lý.
+ Cơ cấu về các chuyên ngành đào tạo phân theo trình độ sẽ cho biết khả
năng chuyên môn hóa cũng như khả năng đa dạng hóa của doanh nghiệp. Thông
thường, cơ cấu cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý, công nhân lành nghề có chuyên
môn về lĩnh vực chính mà doanh nghiệp đang kinh doanh phải chiếm ít nhất 60%
tổng số lao động, bởi điều này liên quan đến c
t lượng và kỹ thuật công trình.
- Cán bộ quản lý trung gian, đốc công và công nhân: Đây là đội ngũ lao
động trực tiếp tạo nên sức mạnh tổng hợp của doanh nghiệp trên các khía cạnh như
chất lượng công trình và tiến độ thi công. Người phụ trách đơn vị phải có trình độ
quản lý (tổ chức điều phối lao động, thiết bị hợp lý, tránh lãng phí nhằm hạ thấp giá
vào sử dụng cũng được chủ đầu tư thanh toán ngay, mà thực tế có rất nhiều công
trình sau một thời gian dài chủ đầu tư mới thanh toán cho nhà thầu. Điều này dẫn
tới bị ứ đọng vốn lưu động, gây ra khó khăn lớn cho doanh nghiệp khi cần huy động
vốn cho công trình tiếp theo. Bên cạnh đó, với yêu cầu của chủ đầu tư là phải có
một khoản tiền bảo lãnh thực hiện hợp đồng (từ 10 - 15 % tổng giá trị hợp đồ công
trình khi trúng thầu). Bởi vậy mọi doanh nghiệp xây dựng nói chung khi có năng
lực tài chính mạnh sẽ rất thuận lợi trong cạnh tranh. Doanh nghiệp có khả năng tài
chính dồi dào có thể tham gia đấu thầu nhiều công trình khác nhau, có nhiều cơ hội
để đầu tư trang thiết bị cho thi công nhằm đáp ứng kịp thời quy trình công nghệ
hiện đại, đồng thời sẽ tạo được niềm tin với các tổ chức tài chính tín dụn
và nhà cung cấp vật tư hàng hóa.
Như vậy, năng lực tài chính mạnh tác dụng tích cực đến quá trình đấu thầu.
Trước hết, nó giúp cho doanh nghiệp có thể thực hiện nhiệm vụ kinh doanh trong
điều kiện giới hạn về vốn. Thứ hai, nó tạo niềm tin nơi chủ đầu tư về khả năng quản
SVTH: Vũ Thị Hiểu Lớp: Kế hoạch 48A
23
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
lý hiệu quả đồng vốn được giao. Thứ ba, hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là yếu tố
quyết định đến khả năng huy động các nguồn tài chính từ bên ngoài cho quá
rình kinh doanh của doanh nghiệp.
2.3.
y móc thiêt bị công nghệ thi công
Thiết bị máy móc là bộ phận quan trọng nhất trong tài sản cố định của doanh
nghiệp. Nó đại diện cho trình độ kỹ thuật và năng lực sản xuất hiện có, giúp cho
doanh nghiệp tăng k
năng cạnh tranh trên thị trường.
Mức độ cơ giới hóa trong xây dựng được chủ đầu tư đánh giá cao, bởi nó có
liên quan nhiều đến chất lượng và tiến độ thi công công trình. Ưu thế về máy móc
thiết bị và công nghệ thể hiện qua các đặc tính: tính hiện đại, tính đồng bộ, tính hiệu
quả, tính đổi mới. Năng lực máy móc thiết bị và trình độ công nghệ ảnh hưởng rất
1. Năng lực tài chính
1.1. Khái niệ
và vai trò của năng lực tài chính
Năng lực tài chính của một doanh nghiệp là khả năng đảm bảo về nguồn lực
tài chính cho doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có đủ năng lực tài chính là doanh
nghiệp có khả năng đảm bảo vốn cho doanh nghiệp tiến hành các họat động đầu tư,
họat động sản xuất kinh doanh hướng tới việc đạt đựơc mục tiêu tối đa hóa lợi
nhuận, hướng t
tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.
Năng lực tài chính đóng vai trị rất quan trọng trong việc quyết định năng lực
phát triển nói chung của một doanh nghiệp cũng như của một cá nhân. Tài chính
không chỉ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế mà còn là động lực để con
người cố gắng làm việc tích cực và hiệu quả hơn trong xã hội. Năng lực tài chính
có mối quan hệ ràng buộc, quyết định tới các năng lực khác của doanh nghiệp. Đặc
biệt là đối với một doanh nghiệp mà lĩnh vực hoạt động chủ yếu là đấu thầu xây lắp
thì càng đòi hỏi cần tài chính mạnh, tài chính là một chỉ tiêu quan trọng để các chủ
đầu tư xem xét trong quá trình duyệt hồ sơ dự thầu. Do tính chất các công trình xây
lắp đòi hỏi vốn lớn và kỹ thuật cao nên năng lực tài chính là bộ phận quan trọng
hình thành nên năng lực của nhà thầu xây lắp. Như chúng ta đã biết để thực hiện
một công trình xây lắp phải bỏ ra trước nhiều khoản chi phí khác nhau như chi phí
giải phóng mặt bằng, chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí máy móc
thiết bị và một số công trình còn có cả chi phí xây dựng nhà tạm…Một nhà thầu dự
mạnh đến đâu cũng khó có thể đáp ứng được những chi phí phát sinh khi thực hiện
nhất là khi nhà thầu đó không chỉ tham gia một công trình, hạng mục khác nhau do
đó cần lượng vốn lớn và chứng minh năng lực tài chính là hết sức quan trọng đối
SVTH: Vũ Thị Hiểu Lớp: Kế hoạch 48A
25