luận văn quản trị kinh doanh Hoàn thiện công tác lập và phân tích Báo cáo tài chính tại công ty cổ phần Vũ Gia - Pdf 27

MỤC LỤC
KÝ HIỆU VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
KÝ HIỆU VIẾT TẮT 3
3
LỜI MỞ ĐẦU1
2.1.1.1. Sự hình thành của công ty cổ phần Vũ Gia 37
2.1.1.2. Một số chỉ tiêu minh hoạ cho quá trình hình thành và phát triển
của công ty cổ phần Vũ Gia 38
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của công ty cổ phần Vũ Gia
39
2.1.2.1. Chức năng của công ty cổ phần Vũ Gia 39
2.1.2.2. Nhiệm vụ và quyền hạn của công ty cổ phần Vũ Gia 40
2.1.3. Đặc điểm tổ chức, bộ máy quản lý của công ty cổ phần Vũ Gia 41
2.1.3.1. Tổ chức bộ máy quản lý của công ty cổ phần Vũ Gia 41
2.1.3.2. Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban tại công ty cổ phần Vũ
Gia 43
2.1.4. Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ
phần Vũ Gia 44
2.1.4.1. Đặc điểm về sản phẩm của công ty cổ phần Vũ Gia 44
2.1.4.2. Đặc điểm về thị trường kinh doanh của công ty cổ phần Vũ Gia
46
2.1.5. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán và tình hình vận dụng chế độ kế
toán tại công ty cổ phần Vũ Gia 47
2.1.5.1. Tổ chức bộ máy kế toán tại công ty cổ phần Vũ Gia 47
2.1.5.2. Đặc điểm vận dụng chế độ kế toán tại công ty cổ phần Vũ Gia
49
2.2.1. Quy chế quản lý tài chính tại công ty cổ phần Vũ Gia 54
2.2.1.1. Quản lý và sử dụng tài sản tại công ty 54
2.2.1.2. Quản lý doanh thu và chi phí kinh doanh 58
2.2.1.3. Lợi nhuận và trích lập các quỹ 59

CNV : Công nhân viên
ĐTTC : Đầu tư tài chính
GTGT : Giá trị gia tăng
KD : Kinh doanh
KH : Khách hàng
KH – KT : Khoa học – Kỹ thuật
NN : Nhà nước
NSNN : Ngân sách nhà nước
SP : Sản phẩm
TC – KT : Tài chính – Kế toán
TK : Tài khoản
TSCĐ : Tài sản cố định
TTNDN : Thuế thu nhập doanh nghiệp
TTSBQ : Tổng tài sản bình quân
VCSH : Vốn chủ sở hữu
VCSHBQ : Vốn chủ sở hữu bình quân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa

DANH MỤC CÁC BẢNG Trang
Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu tài chính của công ty trong những năm gần đây như sau
(nguồn Báo cáo tài chính năm 2004, 2005, 2006)
39
Bảng 2.2. Thời gian sử dụng của các nhóm tài sản cố định tại công ty cổ phần Vũ
Gia
55
Bảng 2.3. Bảng cân đối kế toán của công ty cổ phần Vũ Gia năm 2007
Bảng 2.4. Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty cổ phần Vũ Gia năm 2007
63
67
Bảng 2.5. Các chỉ tiêu phân tích Báo cáo tài chính của công ty cổ phần Vũ Gia

được xem là quan trọng hơn cả.
Xuất phát từ nhu cầu quản lý kinh tế ngày càng cao, các doanh nghiệp đã có sự
quan tâm thích đáng đến công tác phân tích tình hình tài chính. Việc phân tích tình
hình tài chính giúp cho thông tin cung cấp trên các Báo cáo tài chính thực sự có ý
nghĩa với người sử dụng. Qua phân tích họ có căn cứ để đánh giá tốt hơn tình hình sử
dụng vốn cũng như thực trạng hoạt động của doanh nghiệp, xác định được các nhân tố
ảnh hưởng, mức độ cũng như xu hướng tác động của từng nhân tố đến kết quả kinh
doanh, từ đó, các đối tượng quan tâm có thể ra quyết định tối ưu nhất.
Báo cáo tài chính là báo cáo phản ánh tổng hợp tình hình tài chính, kết quả sản
xuất kinh doanh, tình hình lưu chuyển các dòng tiền trong kỳ kinh doanh của doanh
nghiệp. Do vậy, có thể nói Báo cáo tài chính là bức tranh toàn cảnh về tình hình tài
chính của doanh nghiệp và là công cụ hữu ích để phân tích hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, từ đó, các chủ thể có quyết định cần thiết về quản lý tài chính của doanh
nghiệp.
Công ty cổ phần Vũ Gia là một doanh nghiệp non trẻ, hoạt động trong lĩnh vực
kinh doanh dịch vụ taxi. Không nằm ngoài quy luật chung của nền kinh tế thị trường,
để kiểm soát tốt quá trình hoạt động kinh doanh của mình, công ty đã chú trọng đến
công tác lập và phân tích Báo cáo tài chính.
Xuất phát từ thực trạng trên, em đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tác lập
và phân tích Báo cáo tài chính tại công ty cổ phần Vũ Gia”, một đề tài có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn to lớn đối với các doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần Vũ
Gia nói chung.
Kết cấu ngoài lời mở đầu và kết luận, bản khóa luận gồm 3 chương cơ bản:
- Chương 1 : Cơ sở lý luận về lập và phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp.
- Chương 2 : Lập Báo cáo tài chính và phân tích Báo cáo tài chính tại công ty
cổ phần Vũ Gia.
- Chương 3 : Hoàn thiện công tác lập và phân tích Báo cáo tài chính tại công ty
cổ phần Vũ Gia
1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP VÀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI

2
bảo độ trung thực mà thông tin cần có. Do đó, ta thấy công tác lập báo cáo trong giai
đoạn này là không khoa học.
- Giai đoạn 2: Giai đoạn đổi mới cơ chế quản lý kinh tế (từ năm 1986 đến nay)
Trong những năm đầu đổi mới, từ 1986 – 1990, nền kinh tế nước ta gặp vô vàn
khó khăn. Để phù hợp với sự vận động khách quan của nền kinh tế, Nhà nước ta đã
thực hiện chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế: từ cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung
sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác kế hoạch hóa và công tác quản lý kinh tế - tài
chính của Nhà nước trong giai đoạn này, chế độ Báo cáo Thống kê – Kế toán định kỳ
đã được ban hành theo quyết định số 13-TCTK/PPCĐ ngày 13/01/1986 của Tổng cục
trưởng Tổng cục Thống kê. Đối với lĩnh vực kế toán, có 9 biểu, các đơn vị phải lập và
gửi báo cáo định kỳ quý, 6 tháng, năm.
Tuy số lượng báo cáo đã giảm và cũng không yêu cầu bắt buộc phải lập báo
cáo theo tháng, song 9 vẫn là tương đối lớn, số lượng các chỉ tiêu vẫn còn nhiều, rườm
rà, không cần thiết cho hoạt động quản lý và quan trọng hơn cả là vẫn được thực hiện
tập trung, mang nặng tính hình thức, chưa thật sự hữu ích cho bản thân đơn vị, thông
tin kế toán chủ yếu vẫn được dùng cho việc kiểm soát, chỉ đạo của cấp trên và các cơ
quan chức năng của Nhà nước.
Từ 1990 – 1995, giai đoạn này sự cần thiết phải thay đổi cơ chế quản lý kinh tế
mới được nhận thức đầy đủ, những chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới cơ
chế quản lý kinh tế theo hướng hạch toán và kinh doanh xã hội chủ nghĩa được cụ thể
hóa, đưa vào cuộc sống. Trong giai đoạn này, hệ thống Báo cáo kế toán chỉ còn 4 báo
cáo định kỳ:
• Bảng tổng kết tài sản (lập theo quý, năm)
• Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (lập theo năm)
• Chi phí sản xuất theo yếu tố (lập theo năm)
• Bản giải trình kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh (lập theo năm)
Các doanh nghiệp quốc doanh phải nộp các báo cáo cho cơ quan Tài chính, cơ
quan chủ quản, cơ quan Thống kê và cơ quan Ngân hàng liên quan. Thời gian lập, nộp

cáo trước đó mà còn được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc và Chuẩn mực kế toán
quốc tế phục vụ thiết thực hơn cho các cơ quan quản lý Nhà nước và nhiều đối tượng
khác. Nó phản ánh đầy đủ hơn các sự kiện kinh tế tài chính phát sinh trong quá trình
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nên tạo được niềm tin từ phía người sử dụng
và thực sự phát huy vai trò quan trọng trong công tác quản lý tài chính, kế toán.
4
Nền kinh tế còn nhiều biến đổi, trong tương lai, hệ thống Báo cáo tài chính
cũng như hệ thống kế toán sẽ còn phải thay đổi để phù hợp hơn, đáp ứng nhu cầu của
các đối tượng quan tâm trong và ngoài doanh nghiệp.
1.1.3. Ý nghĩa, vai trò của Báo cáo tài chính
1.1.3.1. Ý nghĩa của Báo cáo tài chính
Xã hội loài người càng phát triển thì mức độ quan tâm đến hoạt động sản xuất
càng tăng, nghĩa là càng cần thiết phải tăng cường quản lý sản xuất. Hạch toán kế toán
ra đời và phát triển nhằm đáp ứng đòi hỏi khách quan đó của bản thân quá trình sản
xuất cũng như của xã hội.
Hạch toán kế toán, thực chất là nghiên cứu tài sản trong mối quan hệ với nguồn
hình thành và quá trình vận động của tài sản trong các tổ chức, các đơn vị bằng hệ
thống các phương pháp nghiên cứu khoa học, bao gồm: phương pháp chứng từ,
phương pháp đối ứng tài khoản, phương pháp tính giá, phương pháp tổng hợp – cân
đối kế toán.
Tổng hợp – cân đối kế toán là phương pháp khái quát tình hình tài sản, nguồn
vốn, kết quả kinh doanh và các mối quan hệ kinh tế khác thuộc đối tượng hạch toán
trên những mặt bản chất và trong các mối quan hệ cân đối vốn có của đối tượng hạch
toán kế toán mà bằng các phương pháp khác (chứng từ, tính giá, đối ứng tài khoản)
không thể thực hiện được. Hình thức biểu hiện cụ thể của phương pháp này là hệ
thống các bảng tổng hợp cân đối thường gọi là các Báo cáo kế toán. Tùy theo mục
đích, đối tượng cung cấp thông tin, Báo cáo kế toán được chia thành Báo cáo tài chính
và Báo cáo quản trị.
Trong đó, Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài
sản, vốn chủ sở hữu và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong

tượng quan tâm.
Vai trò cung cấp thông tin của các Báo cáo tài chính là tương đương nhau. Các
Báo cáo tài chính được lập có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau. Các bộ phận cấu thành
của các báo cáo phản ánh theo các khía cạnh khác nhau của cùng một số các chỉ tiêu,
sự kiện kinh tế. Mỗi Báo cáo tài chính riêng biệt cung cấp cho người đọc một khía
cạnh hữu ích khác nhau nhưng không có loại báo cáo nào chỉ phục vụ cho một mục
đích riêng biệt hoặc cung cấp mọi thông tin cần thiết có thể đáp ứng mọi yêu cầu sử
dụng. Khi xem xét, tìm kiếm thông tin đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa các Báo cáo tài
chính. Đó chính là mối liên hệ hệ thống của các Báo cáo tài chính.
6
Trong giai đoạn hiện nay, hệ thống Báo cáo tài chính được lập nhằm giúp
những người ra quyết định đánh giá chính xác thực trạng tài chính và tiềm năng của
doanh nghiệp, lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu trên cơ sở đánh giá khả năng tạo
ra các dòng tiền mặt, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, mức lợi nhuận,… Bởi
vậy, thông tin từ hệ thống Báo cáo tài chính và phân tích Báo cáo tài chính có vai trò
quan trọng đối với nhiều phía cả trong và ngoài doanh nghiệp.
Đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, họ quan tâm
đến nhiều mục tiêu khác nhau: tạo công ăn, việc làm, nâng cao chất lượng sản phẩm,
giảm bớt chi phí, đóng góp phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường,… Tuy nhiên, doanh
nghiệp chỉ có thể tồn tại nếu đảm bảo được 2 thử thách sống còn và cũng là 2 mục tiêu
cơ bản: kinh doanh có lãi và thanh toán công nợ. Như vậy, vì mục đích tồn tại và phát
triển, hơn ai hết, các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp phải có đủ
thông tin, hiểu rõ doanh nghiệp và liên kết các thông tin với nhau về mọi mặt: tình
hình tài chính, khả năng sinh lợi, đánh giá rủi ro,… Từ đó, các nhà quản lý có thể đưa
ra những quyết định đúng đắn nhất, hiệu quả nhất cho hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm chủ yếu
của họ chủ yếu là hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, họ đặc biệt
chú ý đến số lượng tiền và các tài sản khá có thể chuyển đổi thành tiền nhanh để dự
đoán khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Ngoài ra, họ cũng rất quan tâm đến khả

cách cẩn thận sau mỗi chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp.
1.2. Nguyên tắc và nội dung lập Báo cáo tài chính
1.2.1. Những vấn đề cơ bản về thủ tục và nguyên tắc lập Báo cáo tài chính
Các Báo cáo tài chính được lập nhằm mục tiêu cung cấp thông tin tài chính hữu
ích cho các đối tượng quan tâm đến tình hình kinh tế, tài chính của một doanh nghiệp
đề ra các quyết định kinh tế. Tuy nhiên, không phải mọi đối tượng đều am hiểu quy
trình ghi nhận dữ liệu và xử lý thông tin kế toán. Vì vậy, để đảm bảo tính hữu ích và
dễ hiểu của thông tin kế toán trên Báo cáo tài chính, Nhà nước đã đưa ra những thủ tục
và nguyên tắc nhất định cần phải tuân thủ trong việc lập và trình bày Báo cáo tài
chính.
Các yêu cầu lập và trình bày Báo cáo tài chính
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 – Trình bày Báo cáo tài chính, việc
lập và trình bày Báo cáo tài chính phải tuân thủ yêu cầu trình bày một cách trung thực
và hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của
8
doanh nghiệp. Cụ thể, khi lập và trình bày các Báo cáo tài chính doanh nghiệp cần đáp
ứng các yêu cầu:
- Trung thực, hợp lý.
- Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp với quy định của từng
Chuẩn mực kế toán. Trường hợp chưa có quy định ở chuẩn mực cũng như Chế độ kế
toán hiện hành thì doanh nghiệp phải căn cứ vào chuẩn mực chung để xây dựng các
phương pháp kế toán hợp lý nhằm đảm bảo Báo cáo tài chính cung cấp thông tin thích
hợp với nhu cầu ra các quyết định kinh tế của người sử dụng và cung cấp được các
thông tin đáng tin cậy, khi:
• Trình bày trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp.
• Phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện không chỉ
đơn thuần là phản ánh hình thức hợp pháp của chúng.
• Trình bày khách quan không thiên vị.
• Tuân thủ nguyên tắc thận trọng.

giữa doanh thu và chi phí. Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc phù hợp không cho
phép ghi nhận trên Bảng cân đối kế toán những khoản mục không thoả mãn định
nghĩa về tài sản hoặc nợ phải trả.
Nguyên tắc nhất quán
Nguyên tắc này yêu cầu việc trình bày và phân loại các khoản mục trong báo
cáo tài chính phải nhất quán từ niên độ này sang niên độ khác, trừ khi có sự thay đổi
đáng kể về bản chất các hoạt động của doanh nghiệp hoặc khi xem xét lại việc trình
bày báo cáo tài chính cho thấy rằng cần phải thay đổi để có thể trình bày một cách hợp
lý hơn các giao dịch và các sự kiện; hoặc một chuẩn mực kế toán khác yêu cầu có sự
thay đổi trong việc trình bày. Khi có thay đổi, thì doanh nghiệp phải phân loại lại các
thông tin đảm bảo tính so sánh của thông tin qua các thời kỳ và phải giải trình lý do và
ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần VIII của Bản thuyết minh báo cáo tài chính.
Nguyên tắc trọng yếu và tập hợp
Theo nguyên tắc này, từng khoản mục trọng yếu phải được trình bày riêng biệt
trong báo cáo tài chính. Các khoản mục không trọng yếu thì không phải trình bày
riêng rẽ mà được tập hợp vào những khoản mục có cùng tính chất hoặc chức năng
trong Báo cáo tài chính hoặc trình bày trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính.
Một thông tin được coi là trọng yếu nếu không trình bày hoặc trình bày thiếu
chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh
hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính.
10
Tuy nhiên, có những khoản mục không được coi là trọng yếu để có thể được
trình bày riêng biệt trên báo cáo tài chính, nhưng lại được coi là trọng yếu để phải
trình bày riêng biệt trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.
Theo nguyên tắc trọng yếu, doanh nghiệp không nhất thiết phải tuân thủ các
quy định về trình bày báo cáo tài chính của các chuẩn mực kế toán cụ thể nếu các
thông tin đó không có tính trọng yếu.
Nguyên tắc bù trừ
Nguyên tắc này đòi hỏi khi ghi nhận các giao dich kinh tế và các sự kiện để lập
và trình bày Báo cáo tài chính không được phép bù trừ tài sản và công nợ phải trả, do

diện pháp luật của đơn vị ký, đóng dấu của đơn vị. Người ký Báo cáo tài chính phải
chịu trách nhiệm về nội dung của báo cáo. Giám đốc hoặc người đứng đầu doanh
nghiệp chịu trách nhiệm về lập, trình bày Báo cáo tài chính.
Kỳ kế toán năm là năm dương lịch hoặc kỳ kế toán năm là 12 tháng tròn sau
khi thông báo cho cơ quan Thuế. Trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp được phép thay
đổi ngày kết thúc kỳ kế toán năm dẫn đến việc lập Báo cáo tài chính cho một niên độ
kế toán có thể dài hơn hoặc ngắn hơn một năm dương lịch nhưng không được vượt
quá 15 tháng. Khi đó, doanh nghiệp phải nêu rõ trong Bản thuyết minh báo cáo tài
chính, phần VIII. Những thông tin khác về:
- Lý do phải thay đổi ngày kết thúc kỳ kế toán năm.
- Các thông tin so sánh kỳ này, kỳ trước và phải được điều chỉnh cho phù hợp
với kỳ báo cáo của niên độ báo cáo kỳ này.
Thời hạn nộp Báo cáo tài chính được quy định tại điều 31 Luật kế toán và điều
20 Nghị định kế toán đối với các loại hình doanh nghiệp, cụ thể như sau:
Đối với doanh nghiệp Nhà nước
Đơn vị kế toán phải nộp Báo cáo tài chính chậm nhất 30 ngày kể từ ngày kết
thúc kỳ báo cáo (đối với Báo cáo tài chính năm), 20 ngày (đối với Báo cáo tài chính
quý). Tổng công ty Nhà nước chậm nhất là 90 ngày (Báo cáo tài chính năm), 45 ngày
(Báo cáo tài chính quý).
Đơn vị kế toán trực thuộc tổng công ty Nhà nước phải nộp báo cáo năm, quý
cho tổng công ty theo thời hạn do tổng công ty quy định.
Đối với các loại hình doanh nghiệp khác
Đơn vị kế toán là doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh phải nộp Báo cáo
tài chính năm chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm.
12
Đối với các đơn vị kế toán khác, thời hạn nộp Báo cáo tài chính năm chậm nhất
là 90 ngày.
Đơn vị kế toán trực thuộc nộp Báo cáo tài chính năm cho đơn vị kế toán cấp
trên theo thời hạn do đơn vị kế toán cấp trên quy định.
Báo cáo tài chính của đơn vị kế toán phải nộp cho cơ quan Thuế, cơ quan

sung, sửa đổi hoặc chi tiết các chỉ tiêu cho phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp nhưng phải được Bộ tài chính chấp thuận bằng văn bản.
Ngoài ra, để phục vụ yêu cầu quản lý kinh tế - tài chính, yêu cầu chỉ đạo, điều
hành, các doanh nghiệp có thể quy định thêm các báo cáo chi tiết khác. Đối với các
doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn tuân thủ các quy định chung còn những quy định, hướng
dẫn cụ thể được trình bày tại Chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ.
 Bảng cân đối kế toán: (Phụ lục 01: Bảng cân đối kế toán theo mẫu
B01- DN của Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ tài
chính)
Bảng cân đối kế toán là một Báo cáo tài chính phản ánh tổng quát tình hình tài
sản của doanh nghiệp theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản tại một thời điểm
nhất định. Theo quy định, thời điểm này là ngày cuối cùng của kỳ báo cáo. Số liệu trên
Bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu tài
sản và nguồn hình thành tài sản đó.
Bảng cân đối kế toán được kết cấu dưới dạng bảng cân đối số dư các tài khoản
và sắp xếp trật tự các chỉ tiêu theo yêu cầu quản lý. Bảng cân đối kế toán được chia
làm 2 phần: Tài sản và Nguồn vốn, có thể kết cấu theo kiểu 2 bên (Tài sản bên trái,
Nguồn vốn bên phải) hoặc kết cấu một bên (Tài sản phía trên, Nguồn vốn bên dưới).
Xét theo thời gian luân chuyển của tài sản, toàn bộ tài sản của doanh nghiệp
được chia thành 2 loại: Tài sản ngắn hạn và Tài sản dài hạn, được trình bày thành 2
phần trong phần tài sản trên Bảng cân đối kế toán.
Phần nguồn vốn: phản ánh nguồn hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp
đến cuối kỳ báo cáo. Các chỉ tiêu nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh
nghiệp về số tài sản đang quản lý và sử dụng đối với nhà nước, cấp trên, các nhà đầu
tư, các cổ đông, ngân hàng, các tổ chức tín dụng, khách hàng, các đơn vị kinh tế khác,
công nhân viên,…
Nguồn vốn được chia thành 2 loại: nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.
Ngoài các chỉ tiêu trong phần chính, Bảng cân đối kế toán còn phản ánh các chỉ
tiêu ngoài bảng như: Tài sản thuê ngoài, ngoại tệ các loại, … Đây là những chỉ tiêu
phản ánh những tài sản tạm thời để ở doanh nghiệp nhưng không thuộc quyền sở hữu

tài chính của doanh nghiệp, nhằm mục đích giải thích, bổ sung, thuyết minh những
thông tin, số liệu đã được trình bày trong Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và các thông tin cần thiết khác theo yêu
15
cầu của các Chuẩn mực kế toán cụ thể. Doanh nghiệp cũng có thể trình bày các thông
tin khác nếu cần thiết cho việc trình bày trung thực, hợp lý Báo cáo tài chính.
1.2.3. Quy trình lập Báo cáo tài chính theo kỳ kế toán năm
• Những thông tin chung về doanh nghiệp
Trong Báo cáo tài chính năm, doanh nghiệp phải trình bày các thông tin chung
sau:
- Tên, địa chỉ của doanh nghiệp báo cáo.
- Nêu rõ Báo cáo tài chính này là của riêng doanh nghiệp hay báo cáo tổng hợp,
hợp nhất của công ty mẹ, tập đoàn.
- Ngày kết thúc kỳ kế toán năm hoặc kỳ báo cáo.
- Ngày lập Báo cáo tài chính.
- Đơn vị tiền tệ dùng để lập Báo cáo tài chính
• Bảng cân đối kế toán
Để lập Bảng cân đối kế toán, cần thiết phải sử dụng khá nhiều nguồn tài liệu,
trong đó chủ yếu là các nguồn sau đây:
- Bảng cân đối kế toán cuối kỳ trước (năm trước).
- Sổ cái và sổ chi tiết tài khoản từ loại 1 đến 4 và tài khoản ngoài bảng tương
ứng với các chỉ tiêu được quy định trong Bảng cân đối kế toán của kỳ lập bảng cân đối
kế toán.
- Bảng cân đối tài khoản.
- Các tài liệu liên quan khác (Bảng tổng hợp chi tiết, Bảng kê, …).
Để đảm bảo tính kịp thời, chính xác của các chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán
và giúp cho việc lập báo cáo nhanh chóng, dễ dàng cần thiết phải làm tốt những công
việc sau:
- Kiểm kê tài sản trong trường hợp cần thiết và đối chiếu số liệu với các chứng
từ, sổ sách có liên quan. Nếu có chênh lệch phải điều chỉnh cho đúng với kết quả kiểm

- Các tài khoản liên quan đến Dự phòng (Tài khoản 129, 139, 159, 229) và Hao
mòn (Tài khoản 214) có số dư có nhưng vẫn phản ánh bên Tài sản. được ghi âm nhằm
phản ánh chính xác quy mô Tài sản hiện có ở doanh nghiệp.
- Bên cạnh đó, các tài khoản 412 – Chênh lệch đánh giá lại tài sản, tài khoản
413 – Chênh lệch tỷ giá hối đoái, tài khoản 421 – Lợi nhuận chưa phân phối, nếu có số
dư Có thì ghi bình thường bên Nguồn vốn, nếu có số dư Nợ thì ghi âm bên phần
Nguồn vốn.
17
Đối với một số chỉ tiêu mang tính tổng hợp như “Hàng tồn kho”, “Các khoản
phải thu”,… do có liên quan đến nhiều tài khoản nên phải tiến hành tổng hợp số liệu
từ các tài khoản có liên quan để lấy số liệu phản ánh lên Bảng cân đối kế toán.
Các chỉ tiêu ngoài Bảng cân đối kế toán được ghi nhận trên cơ sở số dư của các
tài khoản liên quan. Đặc điểm của các tài khoản ngoài bảng là ghi đơn, có số dư Nợ
nên kế toán căn cứ trực tiếp vào số dư Nợ cuối kỳ trên sổ cái của từng tài khoản để ghi
vào các chỉ tiêu tương ứng.
• Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Nguồn số liệu chủ yếu dùng để lập Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm:
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ trước.
- Sổ kế toán chi tiết, tổng hợp trong kỳ của các tài khoản loại 5, 6, 7, 8, 9.
- Các số liệu khác (Thông báo nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, Sổ chi tiết tài
khoản 3334 – Thuế thu nhập doanh nghiệp).
Đối với cột số liệu “Năm trước” trong báo cáo kỳ này, tương tự như việc lập
Bảng cân đối kế toán, được lấy từ cột số liệu “Năm nay” tương ứng của Báo cáo kết
quả hoạt động kinh doanh kỳ trước.
Cột số liệu “Năm nay” phản ánh trị số của các chỉ tiêu trong kỳ báo cáo. Việc
lập các chỉ tiêu trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh ở cột “Năm nay” cụ thể
như sau:
- Đối với số liệu về Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, Các khoản giảm
trừ, Giá vốn hàng bán, Doanh thu hoạt động tài chính, Chi phí tài chính, Chi phí bán
hàng, Chi phí quản lý doanh nghiệp, Thu nhập khác, Chi phí khác được lấy từ sổ kế

được coi là các khoản tương đương tiền) để loại trừ ra khỏi các khoản mục liên quan
đến hoạt động đầu tư ngắn hạn. Đối với các khoản đầu tư chứng khoán và công cụ nợ
không được coi là tương đương tiền, kế toán phải căn cứ vào mục đích đầu tư để lập
bảng chi tiết xác định các khoản này phục vụ cho mục đích thương mại hay phục vụ
cho mục đích nắm giữ đầu tư để thu lãi.
Khi lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cần quán triệt các nguyên tắc sau:
- Trình bày luồng tiền theo từng hoạt động phù hợp với đặc điểm kinh doanh
của doanh nghiệp bao gồm: hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư, hoạt động tài
chính.
- Phân biệt các luồng tiền phát sinh từ các hoạt động trên cơ sở thuần, bao gồm
một số luồng tiền phát sinh trong những trường hợp sau:
+ Thu và chi trả tiền hộ khách hàng.
19
+ Thu và chi tiền đối với các khoản có vòng quay nhanh, thời gian đáo
hạn ngắn (mua bán ngoại tệ hay các khoản đầu tư; các khoản đi vay, cho vay có thời
hạn thanh toán không quá 3 tháng).
- Đối với các giao dịch về đầu tư tài chính không trực tiếp sử dụng tiền hay các
khoản tương đương tiền không được trình bày trong Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
- Phải quy đổi các giao dịch ngoại tệ ra thành đồng tiền chính thức sử dụng để
ghi sổ kế toán và lập báo cáo theo tỷ giá hối đoái tại thời điểm phát sinh giao dịch.
- Doanh nghiệp phải trình bày giá trị và lý do của các khoản tiền và tương
đương tiền có số dư cuối kỳ lớn do doanh nghiệp nắm giữ nhưng không được sử dụng
do có sự hạn chế của pháp luật hoặc các ràng buộc khác mà doanh nghiệp phải thực
hiện.
Khi lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có thể sử dụng hai phương pháp: phương
pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp.
Theo phương pháp trực tiếp, các chỉ tiêu trên báo cáo được lập bằng cách xác
định và phân tích trực tiếp các khoản thực thu, thực chi bằng tiền trên các sổ kế toán
theo từng hoạt động và theo nội dung thu – chi được chi tiết.
Đối với phương pháp gián tiếp, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập bằng cách

của doanh nghiệp nhưng phải thực hiện đúng yêu cầu và nội dung thông tin cần trình
bày theo quy định. Ngoài ra, tùy thuộc vào yêu cầu quản lý doanh nghiệp có thể trình
bày bổ sung thêm một số thông tin khác nhằm mục đích giúp cho người sử dụng hiểu
được Báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Việc lập Bản thuyết minh báo cáo tài chính tùy theo từng nội dung trong báo
cáo được cụ thể như sau:
- Phần I, II: doanh nghiệp căn cứ vào tình hình, đặc điểm thực tế của doanh
nghiệp mình để cung cấp thông tin về phần này.
- Phần III, IV: doanh nghiệp căn cứ vào thực tế áp dụng hệ thống Chuẩn mực
kế toán Việt Nam đã ban hành và hệ thống Chế độ kế toán doanh nghiệp áp dụng tại
doanh nghiệp để trình bày các thông tin được yêu cầu tại phần này trong Bản thuyết
minh báo cáo tài chính.
- Phần V, VI, VII: là phần thông tin bổ sung cho các khoản mục đã được trình
bày trong Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Báo cáo lưu
chuyển tiền tệ. Số liệu để ghi vào các chỉ tiêu thuộc phần này ở cột “Năm trước”,
“Đầu năm” được căn cứ vào cột số liệu “Năm Nay”, “Cuối năm” của báo cáo này kỳ
trước. Đối với cột “Năm nay”, “Cuối năm” của Bản thuyết minh báo cáo tài chính kỳ
21

Trích đoạn Phõn tớch tỡnh hỡnh thanh toỏn và khả năng thanh toỏn của Phõn tớch hiệu quả kinh doanh Đỏnh giỏ hiệu lực quản lý tài chớnh tại cụng ty cổ phần Vũ Gia Đỏnh giỏ về phõn tớch Bỏo cỏo tài chớnh tại cụng ty Hoàn thiện lập Bỏo cỏo tài chớnh tại cụng ty
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status