Quan hệ giữa hành vi công nhận với tư cách chủ thể của quốc gia - Pdf 27

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
1. Một số vấn đề lý luận chung. 1
1.1 Khái niệm về “Công nhận”. 1
1.2 Khái niệm về quốc gia. 1
1.3 Tư cách chủ thể của luật quốc tế. 2
2. Bình luận quan điểm. 2
2.1 Công nhận không tạo ra tư cách chủ thể luật quốc tế. 2
2.2 Công nhận tạo điều kiện thuận lợi cho quốc gia mới thực hiện quyền và nghĩa vụ một
cách đầy đủ nhất, tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế một cách tốt nhất. 5
KẾT LUẬN 7
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI MỞ ĐẦU
Quốc gia là một chủ thể quan trọng và phổ biến nhất trong các quan hệ pháp luật quốc tế.
Tư cách chủ thể của quốc gia là thuộc tính vốn có của nó, có nghĩa là ngay khi thỏa mãn
những yếu tố là một quốc gia thì nó đã có tư cách củ thể của luật quốc tế. Tuy nhiên,
không phải cứ có tư cách chủ thể thì mọi quan hệ pháp luật quốc tế mà quốc gia đó tham
gia đều được thuận lợi. Để có được sự thuận lợi đó, trên thực tế các quốc gia cần có sự
công nhận của các quốc gia khác trên thế giới. Chính vì vậy đã có quan điểm: “Công
nhận không tạo ra tư cách chủ thể luật quốc tế nhưng nó tạo điều kiện cho quốc gia mới
thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình một cách đầy đủ nhất, tham gia vào các quan
hệ quốc tế một cách tốt nhất.” Bài viết sau đây sẽ đi bình luận quan điểm trên.
NỘI DUNG
1. Một số vấn đề lý luận chung.
1.1 Khái niệm về “Công nhận”.
Theo quan niệm của Luật quốc tế, công nhận quốc tế có thể được quan niệm là hành vi
chính trị - pháp lý của quốc gia công nhận dựa trên nền tảng các động cơ nhất định (mà
chủ yếu là động cơ chính trị, kinh tế, quốc phòng) nhằm xác nhận sự tồn tại của thành
viên mới trong cộng đồng quốc tế, khẳng định quan hệ của quốc gia công nhận đối với
chính sách, chế độ chính trị, kinh tế…của thành viên mới và thể hiện ý định muốn được

2. Bình luận quan điểm.
Theo em, quan điểm trên là đúng. Vì:
2.1 Công nhận không tạo ra tư cách chủ thể luật quốc tế.
Mối quan hệ giữa công nhận quốc tế và quyền năng chủ thể luật quốc tế, cũng như vị trí
và vai trò của cộng đồng quốc tế được giải quyết theo chiều hướng khác nhau. Trong
khoa học Luật quốc tế, có nhiều quan điểm, trường phái và học thuyết khác nhau về vấn
đề này nhưng chủ yếu là hai thuyết cấu thành và tuyên bố là những thuyết thường được
đề cập.
Thuyết cấu thành hay còn gọi là thuyết sáng lập ra chủ thể luật quốc tế xuất hiện vào đầu
thế kỉ XIX và đã ăn sâu vào tri thức pháp lý của nhiều luật gia tư bản. Các luật gia quốc
tế của các nước tư bản chủ nghĩa kiên trì lập trường bảo vệ cho thuyết cấu thành là
Oppenhein, Lauterpacht, Anzilotti… Theo nội dung cơ bản của thuyết cấu thành thì các
quốc gia mới được thành lập chỉ có thể trở thành chủ thể luật quốc tế, trở thành một thành
viên độc lập của cộng đồng luật quốc tế nếu các quốc gia mới được các quốc gia khác
chính thức công nhận. Sự công nhận quốc gia mới này có ý nghĩa sáng lập ra những
quyền và nghĩa vụ quốc tế của quốc gia được công nhận (quyền năng chủ thể quốc tế của
quốc gia).
Thuyết tuyên bố cũng là thuyết của các luật gia ở các nước tư bản chủ nghĩa. Thuyết này
được hình thành như là một trào lưu chống lại thuyết cấu thành. Những người kiên quyết
bảo vệ thuyết tuyên bố là các luật gia quốc tế danh tiếng ở các nước tư sản như Brierly,
Martens, Ulianiski… Những người chủ trương thuyết này cho rằng tất cả các quốc gia
mới thành lập đều là chủ thể luật quốc tế. Điều này được kiểm chứng thông sự xuất hiện
và tồn tại trên thực tế các quốc gia này. Việc công nhận quốc gia mới thành lập không thể
tạo ra tư cách chủ thể mới của luật quốc tế, mà chỉ đóng vai trò tuyên bố sự tồn tại trên
thực tế của quốc gia đó mà thôi.
Thuyết cấu thành và thuyết tuyên bố với tư cách là những học thuyết tiêu biểu về công
nhận quốc gia mới thành lập, hiện nay đã không còn thỏa mãn với các yêu cầu khách
quan của quan hệ quốc tế. Thuyết cấu thành là thuyết chính trị phản động, và là thuyết
mâu thuẫn với pháp luật quốc tế hiện đại. Thuyết này, trước tiên mâu thuẫn với các
nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế hiện đại, đặc biệt mâu thuẫn với nguyên tắc tự

thường xuyên, lãnh thổ được xác định, Chính phủ, năng lực tham gia vào các quan hệ với
chủ thể quốc tế khác chứ không hề đề cập đến việc công nhận của các quốc gia khác. Một
thực thể khi được coi là một quốc gia tức đã thỏa mãn đầy đủ bốn yếu tố trên đây. Trrong
đó, yếu tố năng lực tham gia vào các quan hệ với chủ thể quốc tế khác chính là chỉ tư
cách chủ thể của quốc gia đó một cách rõ ràng nhất. Tức là, ngay sau khi xuất hiện với tư
cách “quốc gia” thì quốc gia đó đã có năng lực tham gia vào các quan hệ với chủ thể
quốc tế khác hay nói cách khác đó chính là năng lực pháp luật và năng lực hành vi của
quốc gia đó. Năng lực pháp luật chính là các quyền và nghĩa vụ mà mỗi chủ thể là quốc
gia đều được hưởng và phải làm theo quy định của các điều ước quốc tế. Còn năng lực
hành vi chính là quốc gia đó, bằng những hành động của mình (như ký kết điều ước quốc
tế, tuyên bố…) để tự tham gia, xác lập vào quan hệ quốc tế với các chủ thể khác. Đây là
hai yếu tố thể hiện tư cách chủ thể của quốc gia và nó là thuộc tính vốn có của quốc gia
ngay khi xuất hiện chứ không phải do hành vi công nhận của các quốc gia khác tạo ra.
2.2 Công nhận tạo điều kiện thuận lợi cho quốc gia mới thực hiện quyền và nghĩa vụ một
cách đầy đủ nhất, tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế một cách tốt nhất.
Việc công nhận của các quốc gia khác tuy không ảnh hưởng đến tư cách chủ thể của quốc
gia được công nhận nhưng lại có ảnh hưởng đến việc thực hiện các quyền năng quốc gia
với tư cách là chủ thể của luật quốc tế. Bởi khi được công nhận quốc gia đó sẽ có được
những thuận lợi sau:
Thứ nhất, sự công nhận của các quốc gia sẽ giải quyết triệt để vấn đề quy chế pháp lý của
nước đó, lúc đó quốc gia được công nhận đương nhiên được tất cả các quốc gia thừa
nhận. Và vì thế việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của quốc gia mới sẽ được thuận lợi hơn.
Còn nếu không được các quốc gia công nhận thì vấn đề quy chế pháp lý của quốc gia đó
sẽ gặp phải rất nhiều vấn đề, điều đó có ảnh hưởng khá lớn với việc thực hiện quyền và
nghĩa vụ của quốc gia mới này. Mà trong quan hệ quốc tế hiện đại thì trường hợp của
Kosovo là một ví dụ điển hình. Đó là:
Ngày 22/7 vừa qua, Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) có trụ sở tại The Hague, Hà Lan, đã ra
phán quyết cho rằng tuyên bố đơn độc lập của Kosovo hồi năm 2008, mà Cộng hòa
Serbia không thừa nhận, là "không vi phạm luật pháp quốc tế". Một loạt nước phương
Tây, trong đó có Mỹ, Pháp, Anh, Đức sốt sắng công nhận Kosovo là quốc gia độc lập.

khăn do không có sự công nhận của một số nước lớn trong đó có Mỹ, trong suốt thời kỳ
đó Mỹ và một số nước phương Tây khác do Mỹ đứng sau hậu thuẫn đã thi hành chính
sách cấm vận với Việt Nam làm cho kinh tế của chúng ta gặp phải những vấn đề khó
khăn nhất định. Mãi đến năm 1994, chính sách cấm vận mới được bãi bỏ hoàn toàn và
đến năm 1995 thì Việt Nam và Mỹ đã bình thường hóa quan hệ, tạo điều kiện để hai bên
hợp tác tốt hơn về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và quân sự.
Thứ ba, việc công nhận của các quốc gia cũng tạo điều kiện thuận lợi cho quốc gia được
công nhận có thể dễ dàng hơn khi tham gia vào các quan hệ quốc tế như kí kết điều ước
quốc tế, tham gia hội nghị, tổ chức quốc tế…Vì nếu chỉ có tư cách quốc gia thôi mà chưa
có được sự đồng tình ủng hộ của các chủ thể khác thì quốc gia đó khó mà có thể tham gia
rộng rãi vào quan hệ quốc tế. Ví dụ như đối với việc tham gia vào tổ chức quốc tế cũng
vậy. Về nguyên tắc các quốc gia đều có quyền tham gia vào các tổ chức quốc tế mà
không phụ thuộc vào sự công nhận của các quốc gia khác. Nhưng trên thực tế sự công
nhận này lại có ý nghĩa rất lớn trong việc quyết định quốc gia có được tham gia vào tổ
chức hay không, ta có thể lấy ví dụ về Việt Nam để thấy rõ điều này. Năm 1945 Việt
Nam dân chủ cộng hòa là 1 quốc gia độc lập, có đủ các quyền năng tham gia quan hệ
quốc tế nhưng chưa được hầu hết các quốc gia công nhận. Khi Việt Nam dân chủ cộng
hòa nộp đơn xin gia nhập Liên Hợp Quốc nhưng đã không được gia nhập vì theo thủ tục
của Liên Hợp Quốc thì phải có 9/15 phiếu thuận trong đó phải có 5 phiếu của các ủy viên
thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc nhưng Việt Nam bị 3 quốc gia là Mĩ, Pháp,
Trung Quốc bỏ phiếu phủ quyết vì lí do các quốc gia này không công nhận Việt Nam
Dân chủ cộng hòa là quốc gia độc lập. Mãi đến năm 1977 khi có đựoc sự công nhận của
hầu hết các quốc gia này thì Việt Nam mới trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc.
Thứ tư, khi được các quốc gia công nhận thì quốc gia này sẽ có cơ hội phát triển về nhiều
mặt khi được học hỏi, giao lưu với các nước khác do được mở rộng quan hệ với các quốc
gia khác cũng như được tham gia vào quan hệ quốc tế.
KẾT LUẬN
Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, việc một quốc gia được tất cả các quốc gia
trên thế giới công nhận sẽ tạo điều kiện thuận lợi rất lớn cho quốc gia đó để giúp quốc gia
đó phát triển một cách toàn diện. Với những phân tích như trên đây đã một lần nữa giúp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status