Mối quan hệ giữa hành vi bạo lực thân thể của cha mẹ với hành vi hung tính của học sinh trung học cơ sở - Pdf 25

i

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TÔ THỊ THANH
MỐI QUAN HỆ GIỮA HÀNH VI BẠO LỰC THÂN THỂ
CỦA CHA MẸ VỚI HÀNH VI HUNG TÍNH CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC HÀ NỘI – 2013
ii ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC


YSR
Youth sefl reprt
2
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng3.1: Số lượng học sinh tính theo khối lớp

51
Bảng 3.2: Số lượng học sinh tính theo giới tính
52

Bảng 3.10: Điểm trung bình hành vi hướng ngoại, điểm hành vi xâm
khích và điểm hành vi phá luật ở học sinh (con đánh giá) theo giới

57
Bảng 3.11: 5 hành vi mà cha mẹ thường sử dụng nhiều nhất
58
Bảng 3.12: Sự khác biệt về điểm tổng hành vi bạo lực của cha mẹ
theo trường

59
Bảng 3.13: Sự khác biệt về điểm tổng hành vi bạo lực của cha mẹ
theo khối lớp

59
Bảng 3.14: Sự khác biệt về điểm tổng hành vi bạo lực của cha mẹ
theo giới tính

60
Bảng 3.15: Tương quan giữa hành vi bạo lực của cha mẹ và điểm
tổng hành vi hướng ngoại của con cái (qua bảng hỏi YSR)

61
Bảng 3.16: Tương quan giữa hành vi hướng ngoại tổng con đánh giá
qua bảng hỏi YSR và các câu hỏi về bạo lực của cha mẹ

62

3
Bảng 3.17: Tương quan giữa hành vi bạo lực của cha mẹ và điểm
tổng hành vi hướng ngoại của con cái (qua bảng hỏi CBCL)

73
Bảng 3.27:
Tương quan giữa các hành vi bạo lực của cha mẹ và
hành vi xâm khích của con (cha mẹ đánh giá)

74
Bảng 3.28: Ảnh hưởng của giới tính đến hành vi bạo lực của cha mẹ
với hành vi hướng ngoại của con

76
Bảng 3.29: Ảnh hưởng của trường học đến hành vi bạo lực của cha
mẹ với hành vi hướng ngoại của con

76
Bảng 3.30: Ảnh hưởng của tình trạng hôn nhân đến hành vi bạo lực
của cha mẹ với hành vi hướng ngoại của con

77
Bảng 3.31: Ảnh hưởng của kết quả học tập đến hành vi bạo lực của
cha mẹ với hành vi hướng ngoại của con

78
Bảng 3.32: Ảnh hưởng của thu nhập bình quân của gia đình đến
hành vi bạo lực của cha mẹ với hành vi hướng ngoại của con

78
Bảng 3.33: Ảnh hưởng của trình độ học vấn của cha và của mẹ đến
hành vi bạo lực của cha mẹ với hành vi hướng ngoại của con

79

Lời cảm ơn
i
Danh mục viết tắt
i
i
Danh mục các bảng
i
ii
Danh mục các biểu đồ
i
v
Mục lục
v
MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
5
1.1. Khái niệm bạo lực và hành vi bạo lực
5
1.1.1. Khái niệm bạo lực
5
1.1.2. Khái niệm về hành vi bạo lực
6
1.1.3. Nguyên nhân dẫn đến hành vi bạo lực
8
1.1.4. Bản chất của hành vi bạo lực
1
4
1.2. Hành vi hung tính
1

2
1.5. Một số vấn đề lý luận về lứa tuổi thiếu niên
3
7
1.5.1. Khái niệm lứa tuổi thiếu niên
3
7
1.5.2. Những điều kiện phát triển tâm lý ở lứa tuổi thiếu niên
3
9
1.5.3. Trích dẫn một số số liệu về điều tra hành vi hung tính của thanh
thiếu niên ( Điều tra SAVY)

4
2
Chƣơng 2:
TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4
3
2.1. Đặc điểm của khách thể nghiên cứu
4
3
2.2. Tổ chức thu thập số liệu
4
4
2.3. Các loại thang đo sử dụng trong nghiên cứu
4
5
2.4. Phương pháp xử lý số liệu
4


6
3
3.7. Tương quan giữa hành vi bạo lực của cha mẹ và hành vi phá luật của
con (trẻ đánh giá)

6
6
3.8. Tương quan giữa hành vi bạo lực của cha mẹ và hành vi phá luật của
con (cha mẹ đánh giá)

6
8
3.9. Tương quan giữa hành vi bạo lực của cha mẹ và hành vi xâm khích
của con (trẻ đánh giá)

7
0
3.10. Tương quan giữa hành vi bạo lực của cha mẹ và hành vi xâm khích
của con (cha mẹ đánh giá)

7
3
3.11. Những yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa hành vi bạo lực của 8
cha mẹ và hành vi hướng ngoại của con
7
6

9 MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ông cha ta có câu “yêu cho roi cho vọt” ý muốn nói để giáo dục con cái
nên người cần có những hình phạt nghiêm khắc. Quan niệm này đã ăn sâu vào
niềm tin của các bậc cha mẹ Việt Nam nhiều thế hệ và dẫn đến việc cha mẹ tin và
sử dụng đòn roi và các hình thức bạo lực cơ thế khác để răn dạy mỗi khi có
những hành vi sai. Tuy nhiên, những nghiên cứu khác trên thế giới lại chỉ ra rằng
hành vi bạo lực cơ thể của cha mẹ thường dẫn tới những hậu quả xấu với con.
Những trẻ bị đánh đập và trừng phạt về thân thể có nhiều vấn đề về hành vi cảm
xúc hơn, thiếu tự tin hơn trong các mối quan hệ xã hội và thường có hành vi hung
tính, xâm khích khi đối mặt với những mâu thuẫn. Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã
giải thích rằng khi cha mẹ trừng phạt thân thể con cái mình chính là đang làm
mẫu để trẻ học theo cách hành xử hung tính và tin rằng hành vi hung tính, xâm
khích, làm đau người khác là có thể chấp nhận được.
Lứa tuổi thiếu niên là thời kỳ vô cùng phức tạp, thời kỳ đang dần
chuyển từ trẻ con sang người lớn. Lứa tuổi này có nhiều biến đổi về tâm sinh
lý, xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển. Đặc trưng nổi bật của lứa tuổi này
là sự bắt chước không chỉ bắt chước những người trong g gia đình mà bắt
chước tất cả những gì diễn ra xung quanh trẻ. Khi trẻ sống trong môi trường
gia đình có bạo lực nhất là bạo lực về thân thể có thể sẽ làm cho các em tập
nhiễm những hành vi bạo lực và niềm tin rằng có thể sử dụng những hành vi

huyện Từ Liêm; THCS Hai Bà Trưng, quận Hai Bà Trưng và THCS Nguyễn Tất
Thành, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
4. Giả thuyết khoa học
+ Hành vi bạo lực của cha mẹ có tương quan thuận chiều với các vấn
đề về hành vi hung tính của trẻ. Cha mẹ có xu hướng sử dụng bạo lực nhiều hơn
nếu con cái có nhiều vấn đề hành vi và ngược lại khi cha mẹ sử dụng nhiều hình
thức bạo lực, con cái có thể bắt chước và thể hiện qua những hành vi hung tính
hoặc hành vi phá luật.

11
+ Xu hướng sử dụng hành vi bạo lực ở cha mẹ có mối liên hệ với
hành vi xâm khích chặt hơn với hành vi phá luật .
+ Xu hướng sử dụng hành vi bạo lực ở cha mẹ với con trai và con gái
có sự khác biệt.
+ Mối quan hệ giữa việc cha mẹ sử dụng hành vi bạo lực và vấn đề
hành vi hướng ngoại ở trẻ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thứ 3 như giới tính của trẻ,
trình độ học vấn của cha mẹ, tình trạng hôn nhân của gia đình. (VD mối quan hệ
giữa việc sử dụng hành vi bạo lực và hành vi hướng ngoại của trẻ bị ảnh hưởng
bởi tình trạng hôn nhân gia đình có nghĩa là mặc dầu cha mẹ không sử dụng
nhiều hành vi bạo lực đối với trẻ nhưng nếu trẻ lớn lên trong một gia đình không
hoàn thiện, trẻ có thể vẫn phát triển những vấn đề hành vi).
5. Nhiệm vụ của đề tài
5.1. Nghiên cứu lý luận
+ Hệ thống các nghiên cứu về hành vi làm cha mẹ (nhất là những
nghiên cứu về bạo lực thân thể) và mối liên hệ của chúng với các dạng rối loạn
hướng ngoại của trẻ.
+ Tìm hiểu thiết kế nghiên cứu và chiến lược phân tích số liệu từ các
nghiên cứu đi trước để rút ra phương pháp và chiến lược phân tích cho nghiên
cứu này.
5.2. Nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp phỏng vấn: Chúng tôi tiến hành gặp gỡ các phụ huynh và
học sinh để phỏng vấn về các hình thức trừng phạt mà cha mẹ dành cho con cái.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Chúng tôi xây dựng bảng hỏi về
các hình thức bạo lực thân thể mà cha mẹ sử dụng với con cái và tần suất cha mẹ
áp dụng các hình thức trừng phạt đó
6.3. Phương pháp thống kê và xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm thống kê SPSS 17.0 để xử lý số liệu
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,
nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương.

13
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm bạo lực và hành vi bạo lực
1.1.1. Khái niệm bạo lực
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Bạo lực” được hiểu là “sức mạnh dùng để
trấn áp, cưỡng bức hoặc lật đổ” [14, tr.39]
Còn theo Từ điển Xã hội học thì “Bạo lực” được hiểu là các hành vi có
khuynh hướng hủy diệt như một phương tiện tối hậu để thực thi quyền lực trong
khuôn khổ quan hệ trên dưới một chiều dựa trên ưu thế bề ngoài, không có sự
thừa nhận của người yếu thế [5, tr.22]
Theo từ điển Anh – Việt “aggression” có nghĩa là hành hung.
Trong tâm lý học có những tác giả sử dụng thuật ngữ “aggression” khi nói

tích hoặc tử vong và tổn hại về tâm lý.[ dẫn theo 19]
Từ việc đó tổng hợp lịch sử nghiên cứu về bạo lực và tham khảo một số
định nghĩa về bạo lực khác nhau, chúng tôi xin được trình bày cách hiểu của
mình như sau: Bạo lực được hiểu là sử dụng sức mạnh, quyền lực hay các
hành động để cưỡng bức, trấn áp, đe dọa, hành hung… làm tổn thương đến
thể chất, tinh thần, tâm lý người khác.
1.1.2. Khái niệm về hành vi bạo lực
Định nghĩa của Liên minh cứu trợ trẻ em quốc tế: Hành vi bạo lực thân
thể và tinh thần là hành vi sử dụng vũ lực, lời nói hoặc các hành vi khác nhằm
gây ra đau đớn hoặc thương tích.
Có một số nhóm hành vi bạo lực sau:

15
- Nhóm 1: hành vi bạo lực về thể chất là những hành vi trong đó cha mẹ
dùng sức mạnh để khống chế, sử dụng hành động bằng chân tay, gậy gộc hoặc
phương tiện…làm đau đớn, tổn thương thể chất trẻ. Có thể nói đến một số biểu
hiện như: đánh đòn, tát tai, túm tóc, bắt quỳ gối, úp mặt vào tường…
- Nhóm 2: Hành vi bạo lực tinh thần sử dụng những lời mắng chửi, dọa
nạt, gây khống chế…gây đau khổ và làm tổn thương tinh thần trẻ như:
+ La hét, quát tháo, đe dọa với bộ mặt giận dữ và cử chỉ thô bạo
+ Chửi rủa và nói lời xúc phạm đến lòng tự trọng, danh dự và nhân phẩm
đạo đức của trẻ.
+ Hành hạ những người yêu thương, gần gũi trẻ
+ Cô lập trẻ trong gia đình và các mối quan hệ bạn bè, người thân, người
xung quanh; đối xử không công bằng giữa các con
+ Cha mẹ xâm phạm quyền riêng tư cá nhân như đọc trộm tư từ, nhật ký,
ghi chép riêng, nghe lén điện thoại của trẻ, can thiệp một cách quá đáng và thô
bạo vào những quyết định riêng của trẻ
+ Bếu riếu, chê bai, mắng nhiếc trẻ trước người lạ hoặc đám đông;
có những cử chỉ, lời nói mà trẻ không thích, trẻ đã thể hiện thái độ rõ ràng nhưng

luôn đi kèm với nhau để thỏa mãn bản năng sinh tồn.
Đầu thế kỷ 20, nhà phân tâm học Sigmund Freud đã đưa ra khái niệm mới
mẻ là bản năng chết. Bản năng chết được hiểu là khát vọng vô thức tiềm ẩn,
muốn thoát ra khỏi những căng thẳng của cuôc sống bằng cách mong muốn được
chết được giải thoát để khỏi phải chiến đấu và thích nghi giữa cuộc đời đầy phức
tạp khó khăn. Bản năng chết được thể hiện bằng sự hằn học của chính mình, sự
bất mãn…Bên cạnh bản năng chết, con người còn có bản năng sống. Bản năng
sống thực chất là nhu cầu như: nhu cầu tính dục, nhu cầu được sống, được ăn,
được ở, được yêu thương, được khẳng định, được bảo vệ và tự bảo vệ, được an
toàn và được tự do. Dựa trên những phát hiện quan trọng về bản năng sống và
bản năng chết, Sigmund Freud đã suy đoán rằng hành vi bạo lực của con người
xuất phát từ sự đổi hướng năng lượng của bản năng chết nguyên thủy của cá

17
nhân sang người khác. Trong bạo lực, ảnh hưởng của bản năng chết làm đổi
hướng năng lượng “xung năng”.
Cơ chế của quá trình đổi hướng năng lượng xung năng được mô tả bằng
sự dồn nén năng lượng xuống vô thức và sẽ bùng cháy trong thời điểm nhất định
theo kiểu “tức nước vỡ bờ”. Khi bị kích thích năng lượng bạo lực phải được kích
thích ra bên ngoài nhằm vào một đối tượng giao tiếp của chủ thể. Nhờ sự đổi
hướng năng lượng “xung năng” mà con người cảm thấy nhẹ nhàng hơn, khoan
khoái hơn. Như vậy sự đổi hướng năng lượng xung năng mang tính hủy hoại của
bản năng chết là điều cần thiết để duy trì cân bằng môi trường trong cơ thể.
Ý tưởng cho rằng bạo lực có tính bản năng vấp phải sự chỉ trích của các
nhà Tâm lý học xã hội. Trong thế giới con người, bạo lực thay đổi nhiều hơn
những điều được gợi ra từ thuyết bản năng. Chính vì vậy thuyết bản năng đã thất
bại trong việc mô tả sự đa dạng của hành vi bạo lực từ người này tới người khác,
từ nền văn hóa này tới nền văn hóa khác.
Mặc dù khuynh hướng cho rằng hành vi bạo lực của con người không phải
do bản năng nhưng trên thực tế người ta không thể phủ nhận vai trò của yếu tố

hệt như hoàn cảnh tác động đến chủ thể.
Cũng như vậy hành vi bạo lực được diễn tả theo công thức:
S – R
S: Kích thích bạo lực
R: Bạo lực
Con người có xu hướng trả lời bạo lực với các kích thích bạo lực. Trên
thực tế thì không phải bất kỳ kích thích bạo lực nào cũng nhận được trả lời bạo
lực, vì con người có nhận thức, có nhân cách của bản thân. Vì vậy thuyết hành vi
cổ điển không còn phù hợp để giải thích hành vi bạo lực.
- Thuyết hành vi bạo lực hiện đại (thuyết nhận thức hành vi) ra đời trên cơ
sở thuyết hành vi cổ điển. Trong cách tiếp cận của thuyết hành vi hiện đại giữa S
và R có sự tham gia của quá trình nhận thức và tư duy.
S- M – R

19
M: Là dòng suy nghĩ cảm nhận của chủ thể trước những tình huống kích
thích với chính mình.
Chính sự nhận thức tư duy, dòng suy nghĩ của chủ thể đã chi phối sự ứng xử
của chủ thể. Như vậy, nhận thức hành vi không chỉ chú trọng đến yếu tố môi
trường ảnh hưởng đến ứng xử của chủ thể mà coi cách cảm nhận, cách tiếp thu
thái độ của chủ thể đối với kích thích đó mới giải thích được đầy đủ hành vi của
chủ thể trước một tình huống kích hoạt. Hành vi bạo lực hình thành ở chủ thể
không chỉ có tác động của của môi trường mà chính là tâm thế đón nhận của chủ
thể. Con người không chỉ trả lời kích thích một cách bản năng vô thức mà phải
có sự lựa chọn, ứng xử một cách có ý thức của chủ thể.
Như vậy, khắc phục nhược điểm của thuyết hành vi cổ điển, thuyết hành vi
hiện đại là một trong những thuyết có sự lý giải khoa học về hành vi bạo lực. Đây
là cách tiếp cận khách quan quan tâm đến yếu tố bên ngoài và bên trong chi phối
hành vi ứng xử của con người. Tuy nhiên nó có nhược điểm là trong trị liệu khó
làm thay đổi nhận thức, tư duy, suy nghĩ của chủ thể. Bởi vì tâm lý, nhân cách

động và định hướng đến mục tiêu. Năm 1939, John Dollard và một vài đồng
nghiệp của ông ở Yull đã đi tới đề xuất rằng “Bạo lực luôn luôn là kết quả của sự
thất vọng” và “sự thất vọng luôn luôn dẫn tới hình thức bạo lực”. Dollard và các
đồng nghiệp của ông cho rằng động cơ giành được mục đích càng mạnh mẽ thì
sự thất vọng càng tăng lên. Sự giận dữ và bạo lực càng gia tăng khi chúng ta
tưởng tượng về những gì nhân được nhưng lại bị ngăn trở và phút chót. Theo
ông, nếu sự thất vọng lặp đi lặp lại nhiều lần thì một lúc nào đó nó sẽ bùng lên
dẫn đến những hành vi bạo lực mạnh mẽ.[dẫn theo 2]
Năng lượng bạo lực cần được giải thoát trực tiếp ra ngoài, chống lại nguồn
gây ra nó. Chúng ta đều được dạy là phải kìm hãm sự trả thù trực tiếp, đặc biệt là
bị người khác phản đối, hoặc bị trừng phạt; thay thế vào đó chúng ta học cách
chuyển hướng sự thù địch của chúng ta sang mục tiêu khác an toàn hơn.
Những người thường xuyên có bạo lực là những người trong hành vi có xu
hướng tấn công thuộc típ người hung hãn. Tuy nhiên, trong thực tế không phải

21
như thế. Rất nhiều trường hợp những kẻ gây ra bạo động lớn trong những lúc
bình thường được đánh giá là hiền lành, nhút nhát thậm chí họ chẳng bao giờ
phản đối.Thuyết này giải thích hành vi bùng nổ mãnh liệt của những người mà
trong điều kiện bình thường có thể xu hướng tính cách của họ đối lập với tính
cách mà họ thể hiện trong cơn bạo lực. Hay nói cách khác thất vọng có thể làm
một người hiền lành trở thành một tên sát nhân bạo lực.[2]
1.2.3.5. Lý thuyết “học tập xã hội”
Thuyết học tập xã hội xuất hiện năm 1930 với đại diện là Albert Bandura.
Ngược lại với thuyết tập tính sinh học coi bạo lực là hành vi có tính bản năng của
con người, thì Bandura nhấn mạnh điều kiện môi trường và xã hội là một trong
những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi bạo lực.
Albert Bandura (1977) đã đề xuất một học thuyết nghiên cứu xã hội liên
quan đến bạo lực. Ông tin rằng chúng ta có thể học về tính bạo lực không chỉ
bằng việc từng trải qua và chịu hậu quả mà nó gây ra mà còn bằng việc quan sát

tố khác nhau – sự thất vọng, những chấn thương. Những kinh nghiệm đó ảnh
hưởng đến cảm xúc của chúng ta. Song chúng ta có hành động một cách bạo lực
hay không phụ thuộc nhiều vào kết quả mà ta mong đợi. Hành vi bạo lực xuất
hiện khi chúng ta bị khuấy động cảm xúc và nó dường như trở nên an toàn nếu
gặp động cơ đúng đắn, thúc giục ngừng bạo lực khi cần thiết.
1.1.4. Bản chất của hành vi bạo lực
1.1.4.1. Bạo lực là hành vi có chủ ý, có ý thức
Khi nghiên cứu hành vi bạo lực của con người, người ta không xét hành vi
đó mang tính ý nghĩa xã hội tích cực hay tiêu cực, là hành vi chính nghĩa hay phi
nghĩa mà đơn giản xem xét hành vi đó như thế nào thì gọi đó là hành vi bạo lực.
Với ý nghĩa đó thì mọi hành vi bạo lực có tính toán cố tình làm tổn thương người
khác hoặc làm tổn hại vật chất xung quanh đều là hành vi bạo lực.
Vô tình làm tổn thương ai đó không phải là một hành động bạo lực vì ở
đây không có ý định làm hại. Tương tự như vậy, những hành động gây hại mà
không có chủ ý thì không gây thù hận, vì vậy không phải là hành vi bạo lực.
Những hành động cố ý gây tổn thương cho người khác mà không thành công thì

23
sẽ gây ra thù hận. Vì vậy việc bắn chết người là một hành động bạo lực, kể cả
viên đạn bị trượt không gây sát thương.
Như vậy, bạo lực là hành vi sử dụng sức mạnh vũ lực có chủ ý có ý thức
nhằm làm tổn thương người khác hoặc vật cho dù mục đích có đạt được hay
không. Đó là hành vi gây tổn hại, gây thương tích cho người khác một cách cố ý
và thương có xu hướng dùng sức mạnh cơ học (đấm,đá, thụi, xô, đẩy…) hoặc sử
dụng vũ khí như gậy, dao, súng làm công cụ để tấn công người khác. Nhưng vô
tình làm ai đó bị tổn thương thì không phải là hành động bạo lực vì ở đây có
hành động chủ ý làm tổn thương người khác.
1.1.4.2. Bạo lực làm tổn hại về tinh thần
Con người luôn tồn tại với hai mặt rõ rệt là về thể chất và tinh thần,
người ta có thể đo đếm được những tổn thương về mặt thể chất, còn tổn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status