1 Mã số: …45………….
MỐI QUAN HỆ GIỮA PHẠM VI BẢO
HIỂM TIỀN GỬI, CƠ CẤU SỞ HỮU ĐẾN
SỰ CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM
.
1
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Hoạt động kinh doanh tiền tệ là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro nhƣ rủi ro nợ xấu, rủi ro
tín dụng và đặc biệt là rủi ro thanh khoản trong bối cảnh khủng hoảng tài chính (2008).
Mặc dù bảo hiểm tiền gửi bảo vệ sự an toàn và ổn định của hệ thống ngân hàng nhƣng
nó, tùy theo phạm vi bảo hiểm và cơ cấu sở hữu của ngân hàng, cũng làm thay đổi hành
vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng, có khả năng gây nên rủi ro đạo đức thể hiện qua hiện
tƣợng chấp nhận rủi ro quá mức (excessive risk-taking) và có thể dẫn đến rủi ro cho cả hệ
thống. Một số nghiên cứu trên Thế giới đã đo lƣờng sự liên hệ giữa phạm vi bảo hiểm với
hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng (Angkinand và Wihlborg, 2010 và gần đây nhất
là Herman Saheruddin, 2013) và mối tƣơng quan giữa cơ cấu vốn sở hữu của ngân hàng
và hành vi chấp nhận rủi ro (Laeven và Levine, 2009) nhƣng ở Việt Nam vẫn chƣa có
những nghiên cứu đo lƣờng các mối liên hệ này.Vì thế, bài nghiên cứu quyết định chọn
đề tài nhằm lƣợng hóa các mối quan hệ này.
Bài nghiên cứu chia làm 3 phần:
Phần 1: Định nghĩa cùng lý luận về những kết quả nghiên cứu trƣớc đây.
Phần 2: Phân tích thực trạng, các vấn đề hiện nay của 3 nhân tố: bảo hiểm
tiền gửi, cơ cấu sở hữu và sự chấp nhận rủi ro.
Nghiên cứu về mô hình định lƣợng, OLS regression, fixed effect và random
effect: trên các phƣơng diện lý thuyết, phƣơng pháp tính, cách áp dụng cho
2.1.2. Tình hình của bảo hiểm tiền gửi trong hệ thống ngân hàng thƣơng mại cổ phần
Việt Nam. 39
3
2.1.3. Tình hình của cơ cấu sở hữu trong hệ thống ngân hàng thƣơng mại cổ phần
Việt Nam 45
2.2. Xây dựng mô hình nghiên cứu 50
2.2.1. Dữ liệu nghiên cứu 50
2.2.2. Các biến nghiên cứu 50
2.2.3. Lựa chọn phƣơng pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu 54
2.2.4. Quy trình nghiên cứu. 57
2.3. Kết quả nghiên cứu 59
2.3.1. Mô tả các biến nghiên cứu 59
2.3.2. Kết quả nghiên cứu 61
3. Gợi ý chính sách liên quan đến mối quan hệ giữa bảo hiểm tiền gửi, cơ cấu sở hữu đến
sự chấp nhận rủi ro của ngân hàng 69
3.1. Định hƣớng phát triển của bảo hiểm tiền gửi và cơ cấu sở hữu 69
3.2. Một số đề xuất khác 74
3.3. Kết luận, hạn chế và hƣớng phát triển đề tài 77
Phụ lục 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
4
DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH
Bảng 1: Thống kê các nghiên cứu về mối quan hệ của phạm vi bảo hiểm tiền gửi, cơ cấu
Hình 9: Mô tả sự tự tƣơng quan giữa các biến 60
Hình 10: Kết quả chạy mô hình Fixed Effect 1, 2, 3, 4, 5, 6. 61
Hình 11: Kết quả chạy mô hình Random Effect 1, 2, 3, 4, 5, 6. 61
Hình 12: Kiểm định Hausman Test cho mô hình thứ nhất 62
Hình 13: Kiểm định phƣơng sai thay đổi trong mô hình RE 62
Hình 14: Kiểm định Hausman và Breusch-Pagan Lagrange Multiplier cho REM cho mô
hình 2 63
Hình 15: Kiểm định Hausman và Breusch-Pagan Lagrange Multiplier cho REM cho mô
hình 3 63
Hình 16: Kiểm định Hausman và Breusch-Pagan Lagrange Multiplier cho REM cho mô
hình 4 64
Hình 17: Kiểm định Hausman và Breusch-Pagan Lagrange Multiplier cho REM cho mô
hình 5 64
Hình 18: Kiểm định Hausman và Breusch-Pagan Lagrange Multiplier cho REM cho mô
hình 6 65
Hình 19: Mô hình hồi quy cổ điển với lựa chọn robust cho mô hình 1, 2, 3, 4, 5, 6. 66
Hình 20: Phƣơng hƣớng hoàn thiện quy chế pháp lý về BHTG tại Việt Nam 75
2
LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Xây dựng mô hình kiểm định để lựa chọn mô hình định lƣợng phù hợp.
Từ những bằng chứng thực nghiệm và các kết quả thống kê mô tả, bài nghiên cứu đƣa ra
các gợi ý về chính sách liên quan nhằm hạn chết sự chấp nhận rủi ro, phát triển và thay
đổi bảo hiểm tiền gửi và cơ cấu sở hữu cho phù hợp.
Phương pháp nghiên cứu
- Nguồn dữ liệu:
Chủ yếu, bài nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu sở hữu sử dụng những báo cáo quản trị
ngân hàng hàng năm và cơ cấu sở hữu đƣợc gửi bởi nhóm ngân hàng thƣơng mại cổ phẩn
hoạt động tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2002 đến 2013 bao gồm 6 ngân hàng
thƣơng mại là Vietcombank, Sacombank, MB, Eximbank, BIDV, Techcombank tạo
thành bộ dữ liệu panel data gồm có 48 quan sát.
Bài nghiên cứu bổ sung cho cơ sở dữ liệu này với thông tin từ các trang web, tạp chí và
các nguồn thông tin khác của ngân hàng với các biến phạm vi bảo hiểm tiền gửi và các
3
biến vĩ mô khác. Đối với những biến kế toán đƣợc dùng để đo lƣờng sự rủi ro nhận đƣợc
của nhân hàng (bank risk taking), bài nghiên cứu sử dụng báo cáo tài chính hàng năm của
ngân hàng.
- Phƣơng pháp:
Đối với các mục tiêu định tính: bài nghiên cứu tập trung vào phƣơng pháp thống kê mô
tả, quan sát thu thập các tài liệu nghiên cứu trƣớc đây và một số tạp chí tài chính đƣợc cơ
quan chính phủ Việt Nam công nhận.
Đối với các mục tiêu định lƣợng: Bài nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp định lƣợng bằng
cách chạy mô hình tự pooled regression, fixed effect và random effect đối với cơ sở dữ
liệu bảng.
- Công cụ: Sử dụng phần mềm Stata 10 để ƣớc lƣợng các mô hình.
Nội dung nghiên cứu
Bài nghiên cứu chia làm 3 phần:
- Phần 1:
Giải thích các định nghĩa, lý thuyết nền cùng lý luận về những kết quả nghiên cứu trƣớc
5
hữu đến mức độ chấp nhận rủi ro của hệ thống ngân hàng ở Việt Nam bằng cách đa dạng
hóa các danh tính cơ cấu sở hữu nhƣ là gia đình, chính phủ địa phƣơng, tìm ra các bằng
chứng thực nghiệm của sở hữu chéo, sở hữu kim tử tháp, cùng phân tích rõ hơn các khía
cạnh của sự chấp nhận rủi ro trên phƣơng diện nợ xấu.
1. TỔNG QUAN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHẠM VI BẢO HIỂM TIỀN
GỬI, CƠ CẤU SỞ HỮU VÀ SỰ CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA NGÂN
HÀNG.
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ
1.1.1. KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN SỰ CHẤP NHẬN RỦI RO
Định nghĩa về rủi ro:
Theo Frank Knight, 1921, thì rủi ro là sự bất trắc có thể đo lƣờng đƣợc.
Theo Irving Prefler, 1956, thì rủi ro là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lƣờng
đƣợc bằng xác suất.
Theo Allen Willett, 1951 thì rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một
biến cố không mong đợi.
Phân loại rủi ro:
- Cách 1: Rủi ro có thể tính toán và không thể tính toán
Rủi ro có thể tính toán (Rủi ro tài chính): Là những rủi ro mà tần số xuất hiện cũng nhƣ
mức độ trầm trọng của nó có thể tiên đoán đƣợc
Rủi ro không thể tính toán (Rủi ro phi tài chính): Ngƣời ta không thể (hoặc chƣa thể) tìm
ra quy luật vận động nên không thể (hoặc chƣa thể) tiên đoán đƣợc xác suất xảy ra biến
cố trong tƣơng lai
6
- Cách 2: Rủi ro động và tĩnh
Rủi ro động: Là những rủi ro vừa có thể dẫn đến khả năng tổn thất vừa có thể dẫn đến 1
khả năng kiếm lời. Cũng vì khả năng kiếm lời đó mà ngƣời ta còn gọi những rủi ro này là
hữu trái phiếu, nợ trực thuộc cổ đông và sở hữu chứng khoán lai), và sự phức tạp của các
ngân hàng hoạt động. Hơn nữa, rủi ro đạo đức đƣợc tạo ra bởi tình hình quá lớn để thất
bại có thể dẫn bảng để khuyến khích chấp nhận rủi ro khi họ biết rằng thiệt hại lớn sẽ
đƣợc thanh toán phần lớn là do ngƣời nộp thuế chứ không phải là các bên liên quan.
Dòng này của lý luận hƣớng sự chú ý đến cơ cấu quản trị công ty tổ chức tài chính là một
trong những nguồn gốc của quá nhiều hành vi nguy hiểm do các ngân hàng làm những gì
các nhà quản lý của họ quyết định và quản lý , lần lƣợt, đƣợc điều khiển bởi một ban
giám đốc . Do đó quá nhiều rủi ro phải liên quan đến một sự cố trong kiểm soát, hoặc
mong muốn trên một phần của hội đồng quản trị để khuyến khích hoạt động nhƣ vậy.
- Thứ hai:
Theo Xavier Freixas and Mathias Dewatripont, 2012, nhận định, sự chấp nhận rủi ro quá
mức có liên quan đến cơ chế chuyển hóa của các ngân hàng ( banking resolution regime)
đƣợc coi là một trong những nền tảng của bất kỳ liên minh ngân hàng - nó quyết định
những gì sẽ xảy ra khi các ngân hàng bị phá sản. Nó tƣơng đƣơng với quy định bảo đảm
an toàn và giám sát (để giảm xác suất của các vấn đề), và chƣơng trình đảm bảo tiền gửi
(để giảm xác suất của ngân hàng chạy gây phá sản), và hỗ trợ thanh khoản từ các ngân
hàng trung ƣơng (để giảm nguy cơ các ngân hàng dung môi đi theo do thiếu tính thanh
khoản).
Theo các tác giả, nếu ngân hàng biết trƣớc rằng sẽ đƣợc giải cứu, rủi ro là không bao giờ
quá rủi ro cho ngân hàng.
8
Cơ chế chuyển hóa của các ngân hàng đƣợc xem nhƣ là một trò chơi thƣơng lƣợng giữa
các cổ đông và nhà quản lý. Cổ đông muốn để tối đa hóa giá trị cổ phần của họ trong khi
mục tiêu chính cơ quan quản lý là để bảo vệ sự ổn định tài chính với chi phí thấp nhất có
thể . Vì điều này , các tác giả tranh luận về các quy định phá sản đƣợc thiết kế đặc biệt
cho ngành ngân hàng ( và khác với những áp dụng cho các công ty phi tài chính ). Các
tác giả cũng cho rằng thời gian là điều cốt yếu, ngay cả với các thủ tục phá sản hoàn toàn
hiệu quả . Ngân hàng bị nạn phải đƣợc nhanh chóng đóng cửa hoặc nhanh chóng giải cứu
. Kiểm tra chƣơng của các cuộc khủng hoảng ngân hàng ở các nƣớc khác nhau cho thấy
không đầy đủ đề với xung đột lợi ích . Họ kêu gọi quy định hơn của các cơ quan xếp
hạng tín dụng để khắc phục tình trạng này.
Nguồn chính của thị trƣờng thông tin là báo cáo tài chính và các cơ quan xếp hạng tín
dụng của các công ty và các tác giả giải quyết một số trách móc nhằm vào cả hai. Trên
báo cáo tài chính , việc sử dụng phân tích giá trị hợp lý đã đến cho những lời chỉ trích
mạnh mẽ vì nó gây ra các công ty viết ra tài sản giảm xuống khi thị trƣờng sụp đổ với
điều này dẫn đến vốn bị xói mòn và sự không chắc chắn cao . Tuy nhiên các tác giả lập
luận rằng giá trị hợp lý không phải là nhiều để đổ lỗi vì nó chỉ ảnh hƣởng đến danh mục
đầu tƣ kinh doanh của các ngân hàng và có quyết định đáng kể cho các ngân hàng đình
chỉ nếu thiệt hại đƣợc coi là tạm thời. Họ là quan trọng hơn khi nói đến các cơ quan xếp
hạng tín dụng , kết luận rằng các công ty lợi nhuận tối đa là trong một môi trƣờng thể chế
không đầy đủ đề với xung đột lợi ích . Họ kêu gọi quy định hơn của các cơ quan xếp
hạng tín dụng để khắc phục tình trạng này.
- Thứ tƣ
Ảnh hƣởng đến sự chấp nhận rủi ro quá mức chính là các yêu tố vĩ mô và các yếu tố thị
trƣờng( Procyclicality), theo Rafael Repullo and Jesus Saurina thì sự khủng hoảng của
các yếu tố thị trƣờng đẩy các ngân hàng đến những quyết định mang tính rủi ro, Các tác
giả tập trung vào một khía cạnh của điều này , cụ thể là câu hỏi liệu và bao nhiêu vốn bổ
sung nên đƣợc yêu cầu trong các giai đoạn tăng trƣởng tín dụng quá mức, và làm thế nào
10
những giai đoạn tăng trƣởng tín dụng quá mức sẽ đƣợc xác định . Họ nghiên cứu cách
khuôn khổ pháp lý Basel III đề xuất để giải quyết các vấn đề và mức độ mà các quy tắc
thực hiện các mục tiêu của họ.
Quy định ngƣợc chu trình, Basel III yêu cầu tỷ lệ cao hơn vốn để cho vay khi tỷ lệ tín
dụng trên GDP lệch khỏi xu hƣớng của nó . Phân tích của họ , tuy nhiên , cho thấy các
công trình này một cách sai lầm cho một phần lớn của các quốc gia ; độ lệch tƣơng quan
tiêu cực với tăng trƣởng GDP. Trong ngắn hạn, các ngân hàng thực hiện theo các quy tắc
sai lệch so với xu hƣớng thực sự có thể đƣợc theo đuổi một mục tiêu kinh tế nào đó hơn
là một chính sách vốn chu kỳ. Các tác giả đề xuất một quy tắc đơn giản - tốc độ tăng
số tiền mà tổ chức bảo hiểm trả cho ngƣời gửi tiền và thƣờng có một giới hạn cao nhất
(coverage limit) còn gọi là giới hạn của bảo hiểm tiền gửi.
Bên cạnh đó Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 cũng định nghĩa 1 số khái niệm
sau:
“Ngƣời đƣợc bảo hiểm tiền gửi là cá nhân có tiền gửi đƣợc bảo hiểm tại tổ chức
tham gia bảo hiểm tiền gửi.”
“Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng
nƣớc ngoài thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng đƣợc nhận tiền
gửi của cá nhân.”
“Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tài chính nhà nƣớc, hoạt động không vì mục
tiêu lợi nhuận, thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi, góp phần duy trì sự ổn định
của hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của
hoạt động ngân hàng.”
“Phí bảo hiểm tiền gửi là khoản tiền mà tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải
nộp cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi để bảo hiểm cho tiền gửi của ngƣời đƣợc bảo
hiểm tiền gửi tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.”
12
1.1.2.2. BẢN CHẤT CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI
Bảo hiểm tiền gửi cũng mang bản chất của các loại hình bảo hiểm nói chung, theo Dennis
Kessler, 1994, tức là hoạt động theo nguyên lý lấy số đông bù số ít nhƣng bên cạnh đó nó
còn mang tính chất đặc thù, đó là:
Hoạt động BHTG là hoạt động cung cấp dịch vụ công, có nghĩa là BHTG là công
cụ đƣợc sử dụng để thực hiện chính sách công của từng quốc gia.
Hoạt động của tổ chức BHTG thông thƣờng không vì mục tiêu lợi nhuận. Chính
phủ các quốc gia thành lập tổ chức BHTG nhằm mục đích để thực hiện chính sách
công. Bởi trong thực tế, hoạt động tài chính - ngân hàng là hoạt động nhạy cảm,
gắn với tính lan truyền rất cao; đồng thời sự đổ vỡ của hệ thống tài chính -ngân
hàng sẽ ảnh hƣởng đến toàn bộ nền kinh tế và gây ra những bất ổn về mặt xã hội.
Do đó, Chính phủ các quốc gia đã sử dụng công cụ tài chính là BHTG nhằm góp
quan trọng lớn trong quản trị doanh nghiệp, vì họ xác định động cơ của các nhà quản lý
và do đó hiệu quả kinh tế của các tập đoàn họ quản lý.
Trong tham chiếu này ta chú ý đến các nhân tố quan trọng xác định chủ sở hữu bao gồm
quyền biểu quyết (vote rights), quyền dòng tiền (cash flow rights). Trong bài nghiên cứu
này, ta dùng quyền biểu quyết để xác định chủ sở hữu cuối cùng trong trƣờng hợp có sự
giống nhau trong quyền dòng tiền.
Trong đó quyền biểu quyết (vote rights) đƣợc định nghĩa là quyền đƣợc sa thải và thuê
giám đốc, thay đổi chính sách của công ty, bán, thanh lý công ty, để thay đổi điều lệ công
ty, vv, cụ thể bao gồm:
Bầu cử các nhà quản lý
14
Quyền được thông tin về tình hình tài chính của công ty
Quyền khởi kiện người quản lý vi phạm nghĩa vụ
Quyền trì hoãn thủ tục phá sản
Bên cạnh đó, quyền dòng tiền (cash flow right) đƣợc mô tả là bao gồm các quyền nhƣ
sau:
Quyền được nắm bắt dòng tiền còn lại
Quyền được nhận cổ tức
Dễ dàng chuyển nhượng cổ phần
Cuối cùng, ta đề cập đến vấn đề danh tính của chủ sở hữu. Các ngân hàng đƣợc phân loại
dựa theo danh tính của chủ sở hữu bao gồm các danh tính nhƣ là nhà nƣớc, cá nhân, pháp
nhân, tổ chức tín dụng trong nƣớc và nƣớc ngoài, tổ chức nƣớc
1.1.3.2. PHÂN LOẠI CƠ CẤU SỞ HỮU
Phân loại theo mức độ phân tán và tập trung:
Có 2 loại cấu trúc sở hữu là phân tán và tập trung.
Trong cấu trúc sở hữu tập trung, cả quyền sở hữu lẫn quyền kiểm soát công ty tập trung
vào tay một số cá nhân, gia đình, ban quản lý, hoặc các định chế cho vay. Những cá nhân
và nhóm này (ngƣời bên trong) thƣờng kiểm soát và chi phối lớn đến cách thức công ty
vận hành. Bởi vậy, cấu trúc tập trung thƣờng đƣợc xem là hệ thống nội bộ. Những cổ
nhau, nhƣng sự không độc lập hay sự tồn tại các mối quan hệ liên quan, liên kết giữa 2
nhóm ngƣời này cũng gây ra vấn đề tƣơng tự nhƣ vấn đề của cấu trúc tập trung. Một khả
năng dễ xảy ra nhất là sự tồn tại các cấu trúc sở hữu chéo và cấu trúc kim tự tháp giữa
16
các công ty. Hai hình thức sở hữu này thƣờng thấy ở các công ty thành viên của tập đoàn
hoặc các nhóm công ty.
- Sở hữu kim tự tháp
Là hình thức sở hữu bởi một ngƣời kiểm soát thực sự thông qua nhiều tầng nấc sở hữu tại
các công ty khác. Chẳng hạn, A nắm 20% vốn của B, B lại nắm 10% vốn của C. A đƣợc
gọi là chủ sở hữu sau cùng của C, vì A kiểm soát C thông qua B. A có thể tác động lên
một quyết định nào đó của C nhƣng chỉ chịu 2% (= 20% x 10%) mức độ ảnh hƣởng
(hoặc mức độ thiệt hại) của quyết định đó.
- Sở hữu chéo
Xuất hiện khi A kiểm soát B (trong ví dụ trên) nhƣng trong trƣờng hợp này, B cũng nắm
quyền kiểm soát tại A. Mặc dù với tỉ lệ sở hữu chéo không cao, nhƣng sự ràng buộc sở
hữu chéo này lại làm gia tăng mức độ liên kết của A và B trong việc kiểm soát C.
Về nguyên tắc, cấu trúc sở hữu chéo giúp các công ty gia tăng mức độ liên kết, cam kết
và hợp tác thực hiện chiến lƣợc, nhƣng nếu năng lực kiểm soát việc thực thi pháp luật
không cao có thể sẽ dẫn đến tình trạng các công ty liên kết vi phạm quyền lợi cổ đông
nhỏ.
Về lý thuyết, sở hữu chéo có thể phân ra làm 2 loại, sở hữu chéo tích cực và tiêu cực
Sở hữu chéo tích cực sẽ thúc đẩy thƣơng mại Việt Nam và quốc tế, nâng cao quản trị vốn
hiệu quả, các mối quan hệ bao gồm:
NHTM nhà nước và NHTM nước ngoài
Cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM
Cổ đông tại các NHTM là các công ty quản lý quỹ
17
Sở hữu chéo tiêu cực trái lại tiềm ẩn nguy cơ xấu cho tính ổn định của hệ thống Ngân
rủi ro ngân hàng.
Lý thuyết ngân hàng truyền thống đã nhìn thấy một ngân hàng đơn giản nhƣ là định chế
tài chính trung gian (Gurley và Shaw 1960). Lý thuyết hợp đồng phác họa những hoạt
động của ngân hàng một cách tổng quát hơn. Một ngân hàng trở nên hòa nhập với bộ máy
tài chính gồm thông tin không định hình và bộ máy thỏa thuận. Trong những bộ phận văn
phòng phía sau (back offices), những đại lý ngân hàng thu thập thông tin, nhận dạng
thông tin, lƣu giữ thông tin, xử lý thông tin, quản lý thông tin và truyền dẫn thông tin cho
những ngƣời chủ và khách hàng của họ thông qua mạng lƣới nội bộ và bên ngoài. Những
văn phòng trung gian (middle offices) sử dụng những phòng chứa thông tin để soạn thảo
và định giá hàng loạt những dự thảo hợp đồng đầu tiên. Những dự thảo ghi nhận sự thật
là ngân hàng và khách hàng đồng ý dựa trên những điều khoản rõ ràng của thỏa thuận tài
chính, những quyền lợi và nhiệm vụ bắt buộc của các bên đối tác. Cuối cùng, bộ phận
văn phòng đối ngoại ( front-office) sẽ thỏa thuận, trao đổi hợp đồng và dịch vụ với khách
hàng.
Lý thuyết về tài chính doanh nghiệp (corporate-finance theory) nhấn mạnh rằng mỗi hợp
đồng đều thành lập mối quan hệ đại diện ngƣời đứng đầu giữa các bên đối tác. Chi phí
đại diện là những chi phí đƣợc nâng cao khi những yếu đố hợp đồng không đƣợc chia sẻ
một cách khách quan hoàn toàn. Chi phí đại diện gồm 3 nhân tố:
Những chi phí mà đại diện gánh chịu để đƣa ý định của nó vào sự thể hiện trách
nhiệm của nó dƣới hợp đồng.
Những chi phí mà ngƣời đúng đầu gánh chịu để giám sát và thúc đấy sự hoàn
thành của hợp đồng
Những cơ hội dƣ thừa cho sự không hoàn thành mà không đƣợc kiểm soát bởi hợp
đồng.
19
Nhận định trung tâm của lý thuyết đại diện là những bên đối tác có một động lực để giảm
thiểu chi phí đại diện. Những chi phí này đƣợc giảm thiểu khi những chi phí biên của sự
giao kèo, giám sát, kiểm soát sự thi hành đƣợc đặt ngang hàng với lợi nhuận biên của
những cơ hội không đƣợc thực hiện dôi ra mà những sự kiểm soát kiềm chế lại.