luận văn thạc sĩ quản trị nhân lực Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Ban Quản lý các dự án đường thủy nội địa phía Bắc - Pdf 27

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ
nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Lê Hòa Khánh

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập tại Viện Đại học Mở Hà Nội với chuyên
ngành đào tạo thạc sỹ Quản trị Kinh doanh, tôi đã được tiếp thu những kiến
thức vô cùng quý báu và bổ ích từ những kinh nghiệm quản lý mà các thầy cô
giáo truyền đạt cho mình. Từ đó, tôi áp dụng vào thực tiễn của bản thân, đem
những kiến thức mà mình học được phục vụ cho công việc nơi tôi công tác.
Để hoàn thành đề tài luận văn: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Ban Quản lý các dự án đường thủy nội địa phía Bắc”, ngoài sự nỗ lực, cố
gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, chu đáo
của Thầy giáo – Nhà giáo ưu tú GS. TS Phạm Quang Phan, người thầy
giáo hướng dẫn trực tiếp tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và viết luận văn.
Ngoài ra, tôi cũng nhận được sự tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện của
Ban lãnh đạo, các đồng nghiệp tại Ban Quản lý các dự án đường thủy nội địa
phía Bắc. Sự động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất về mọi mặt của gia
đình và người thân.
Với tấm lòng biết ơn, tôi xin tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới tất cả những sự
giúp đỡ quý báu để tôi hoàn thành tốt bản luận văn này.
Song, dù đã hết sức cố gắng, nhưng do hạn chế về trình độ và thời gian,
Luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Tôi rất mong được
các Thầy (Cô) và đồng nghiệp đóng góp ý kiến để tiếp tục hoàn thiện luận
văn. Những ý kiến đóng góp đối với tôi, không chỉ để sửa chữa những hạn
chế, thiếu sót của bản luận văn này, mà còn giúp tôi nhận thức đầy đủ và hoàn

tăng trưởng kinh tế khá cao và tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao
động, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện
và nâng cao rõ rệt.
Trong quá trình đổi mới, mở cửa hội nhập khu vực và thế giới, Đảng và
Nhà nước đã luôn quan tâm, tạo điều kiện phát triển cơ sở hạ tầng ngành giao
thông vận tải nói chung và giao thông ĐTNĐ nói riêng, điều này được thể
hiện ở chính sách huy động và sử dụng vốn từ ngân sách Nhà nước, vốn của
doanh nghiệp và đặc biệt là nguồn vốn ODA vay từ các nhà tài trợ quốc tế
như Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) và cơ
quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA). Chính vì vậy trong những năm qua cơ
sở hạ tầng giao thông vận tải đã có bước phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng,
góp phần không nhỏ vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội đất nước, tạo
tiền đề cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Mặc dù vậy, hệ thống GTVT nói chung trong đó có hệ thống giao thông
ĐTNĐ hiện so với các nước phát triển trong khu vực và thế giới vẫn còn nhiều
yếu kém, tồn tại, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Đây cũng là một trong
những nguyên nhân làm hạn chế thu hút vốn đầu tư, làm tăng chi phí sản xuất,
kinh doanh của doanh nghiệp, gây nên lãng phí, sử dụng không hiệu quả nguồn
vốn của Nhà nước cũng như nguồn vốn ưu đãi từ phía các nhà tài trợ.
Sự yếu kém của hệ thống giao thông ĐTNĐ được thể hiện ở chỗ không
ít công trình thời gian thi công quá dài, nợ đọng lớn, hiệu quả sử dụng thấp.
Một số công trình cán bộ có nhiều biểu hiện tiêu cực, thậm chí vi phạm pháp
1
luật, như tình trạng bán thầu, vi phạm quy trình kỹ thuật, quản lý lỏng lẻo, thiếu
trách nhiệm, trình độ chuyên môn cán bộ quản lý dự án còn nhiều hạn chế.
Ban Quản lý các dự án đường thủy nội địa phía Bắc (PMU-NIW) là đơn
vị sự nghiệp trực thuộc Cục ĐTNĐ Việt Nam và Bộ GTVT, thay mặt chủ đầu
tư quản lý đầu tư xây dựng các dự án giao thông trong lĩnh vực đường thủy,
chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư về điều hành nghiệm thu, thanh quyết toán
nhiều công trình với lực lượng nhân sự không nhỏ, quản lý và điều hành một

- TS. Nguyễn Thanh (2005), Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Về luận văn, luận án có:
- Luận văn Thạc sỹ kinh tế của Hoàng Văn Nhiệm năm 2009 “Giải pháp
phát triển NNL phục vụ CNH, HĐH đất nước ở tỉnh Vĩnh Phúc” - Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
- Luận văn Thạc sỹ kinh tế của Trương Tuấn Dũng năm 2009 “NNL cho
phát triển kinh tế của tỉnh Hoà Bình” - Học viên Chính trị - Hành chính quốc
gia Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Minh Đường (1996), Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân
lực trong điều kiện mới, Đề tài KX.07-14, Hà Nội.
- Cơ hội và thách thức đối với việc đào tạo, phát triển NNL Việt Nam
trong giai đoạn hội nhập kinh tế -Trương Thu Hà, tạp chí Khoa học xã hội
Việt Nam, số 4 năm 2005.
- Nguyễn Văn Thành (2008), Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu
cầu của hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí kinh tế và dự báo, số 417 tr 45 v.v.
- PGS.TS. Nguyễn Cúc đề xuất: “Các giải pháp về giáo dục đào tạo
nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
3
hóa và hội nhập quốc tế ở nước ta từ 2012 - 2020”. (Kỷ yếu Hội thảo khoa
học Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế, Hà Nội 2012).
Nhìn chung, các công trình đó đều đã đề cập đến những vấn đề lý luận
chung về NNL và đưa ra những giải pháp cụ thể gắn với những đặc thù và
điều kiện thực tế của đối tượng nghiên cứu, nhằm nâng cao CLNNL. Tuy
nhiên, cho đến nay chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận
và thực tiễn liên quan đến CLNNL tại Ban QLCDA ĐTNĐ phía Bắc, phù hợp
với mục đích, yêu cầu của Chiến lược phát triển ngành GTVT ĐTNĐ ở Việt
Nam. Do vậy, đề tài luận văn không trùng lặp với bất kỳ công trình khoa học
nào đã công bố.

các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của triết học Mác- Lê nin
- Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu về nhân lực, chất lượng
nhân lực
- Phương pháp so sánh, thống kê và phương pháp của lý thuyết hệ thống
6. Những đóng góp khoa học của luận văn:
Từ các kết quả đạt được, luận văn có những đóng góp khoa học sau:
- Phân tích một cách có hệ thống những vấn đề lý luận liên quan đến đề
tài, trong đó làm rõ khái niệm nhân lực, NNL, NNL trong tổ chức, CLNNL,
các tiêu chí, phương pháp đánh giá CLNNL, sự cần thiết, và những nhân tố
ảnh hưởng đến nâng cao CLNNL tại Ban QLCDA ĐTNĐ phía Bắc.
- Qua nghiên cứu việc nâng cao CLNNL ở một số Ban Quản lý dự án,
luận văn rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc nâng cao CLNNL tại
Ban QLCDA ĐTNĐ phía Bắc.
5
- Phân tích tình hình CLNNL, đánh giá những nhân tố ảnh hưởng, các
biện pháp chính sách Quản trị nhân lực, những thành tựu đạt được, những tồn
tại hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại hạn chế trong việc nâng cao
CLNNL tại Ban QLCDA ĐTNĐ phía Bắc.
- Đề xuất và luận chứng các phương hướng, giải pháp nâng cao CLNNL
tại Ban QLCDA ĐTNĐ phía Bắc.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao CLNNL tại các Ban
Quản lý dự án.
Chương 2: Thực trạng việc nâng cao CLNNL Ban Quản lý các dự án
ĐTNĐ phía Bắc.
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao CLNNL
Ban Quản lý các dự án ĐTNĐ phía Bắc giai đoạn 2013- 2020

hay xã hội. Nói cách khác, nhân lực là tổng hợp tất cả các cá nhân, cùng kiến
thức, kỹ năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức của họ để thành lập, duy trì,
đóng góp cho sự phát triển của tổ chức, của xã hội. Từ định nghĩa chung này,
có thể xem xét thuật nhân lực dưới một số khía cạnh:
Nhân lực theo nghĩa rộng: là con người của một quốc gia, một vùng
lãnh thổ, một tổ chức, một doanh nghiệp có thể tham gia vào quá trình phát
triển đất nước, lãnh thổ, doanh nghiệp.
Nhân lực theo nghĩa hẹp: là bộ phận dân số trong độ tuổi theo quy định
của pháp luật đang tham gia lao động.
Nhân lực được hiểu theo hai mặt: số lượng và chất lượng. Về số lượng,
nhân lực là tổng thể những người trong độ tuổi lao động và thời gian làm việc
có thể huy động được của họ. Về chất lượng, nhân lực thể hiện ở giới tính,
sức khỏe, trình dộ chuyên môn, ý thức, tác phong, thái độ làm việc của NLĐ.
Việc nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật cho nhân lực phải
không ngừng “phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể
chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn
trọng nghĩa tình, lối sống văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng
và xã hội” (6).
1.1.1.2. Khái niệm NNL
Thuật ngữ NNL (Human Resource) xuất hiện từ những thập niên 80 của
thế kỷ trước, thời kỳ đó có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử
dụng con người trong hoạt động kinh tế. Sự xuất hiện thuật ngữ NNL biểu thị
cho một phương thức quản lý mới đối với việc sử dụng nguồn lực con người.
Theo quan điểm duy vật lịch sử, sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống
8
xã hội. Để tiến hành sản xuất xã hội cần có những yếu tố cơ bản như sức lao
động, đối tượng lao động, tư liệu lao động. Theo C.Mác: Sức lao động hay
năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại
trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra
vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó (2).

dân cư trong độ tuổi lao động đang tham gia vào quá trình sản xuất xã hội.
Theo lý luận về tăng trưởng kinh tế, NNL là yếu tố chủ yếu của tăng
trưởng kinh tế. Mức độ đáp ứng về NNL đóng vai trò quyết định đảm bảo tốc
độ tăng trưởng kinh tế trong từng điều kiện cụ thể.
Theo quan niệm của Ngân hàng Thế giới (WB), NNL là toàn bộ vốn con
người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp…do mọi cá nhân sở hữu.
Đầu tư cho con người là cơ sở vững chắc cho phát triển bền vững. Đầu tư cho
con người mà chủ yếu là đầu tư vào giáo dục có tỷ lệ thu hồi vốn cao so với
các lĩnh vực khác: đối với tiểu học là 24%, trung học là 17%, cao đẳng và đại
học là 14%, trong khi dầu tư vào các ngành sản xuất vật chỉ là 13%. (7)
Theo Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), NNL là tổng thể
những năng lực (cơ năng và trí năng) của con người được huy động vào quá
trình sản xuất, là nội lực xã hội của một quốc gia. Việt Nam đang có NNL dồi
dào, nếu biết khai thật hợp lý sẽ tạo ra động lực to lớn cho sự phát triển KT-
XH của đất nước.
Theo quan niệm của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, “NNL
nói tới ở đây là NNL về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh,
trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm
toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường (không bị khiếm khuyết hoặc
dị tật bẩm sinh)”.
10
Theo Begg, Fischer và Dornbusch: “NNL là toàn bộ trình độ chuyên
môn mà con người tích lũy được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương
lai”. Cũng giống như nguồn lực vật chất, NNL là kết quả đầu tư trong quá
khứ với mục đích tạo ra thu nhập trong tương lai. Cách hiểu này chỉ giới hạn
trong trình độ chuyên môn của con người và chưa đặt ra giới hạn về mặt
phạm vi không gian của NNL.
Theo giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc cho rằng: Xét trên bình diện quốc
gia hay địa phương, NNL được xác định là “Tổng thể các tiềm năng lao động
của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động

Như vậy, NNL được biểu hiện trên hai mặt số lượng và chất lượng:
Về số lượng: NNL phụ thuộc vào thời gian làm việc có thể có được của
cá nhân và quy định độ tuổi lao động của mỗi quốc gia. Số lượng NNL đóng
vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế (KT) - xã hội (XH). Nếu số
lượng không tương xứng với sự phát triển (thừa hoặc thiếu) thì sẽ ảnh hưởng
không tốt đến quá trình CNH, HĐH. Nếu thừa sẽ dẫn đến thất nghiệp, tạo
gánh nặng về mặt xã hội cho nền kinh tế; nếu thiếu thì không có đủ lực lượng
nhân lực cho quá trình CNH, HĐH và phát triển kinh tế đất nước.
Về chất lượng: NNL được biểu hiện ở thể lực, trí lực, tinh thần thái độ,
động cơ, ý thức lao động, văn hoá lao động công nghiệp, phẩm chất tốt đẹp
của người công dân đó là yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội (CNXH). Trong ba
mặt: thể lực, trí lực, tinh thần thì thể lực là nền tảng, cơ sở để phát triển trí
lực, là phương thức để chuyển tải khoa học kỹ thuật vào thực tiễn. Ý thức tinh
thần đạo đức tác phong là yếu tố chi phối hiệu quả hoạt động chuyển hoá của
trí lực thành thực tiễn. Trí tuệ là yếu tố có vai trò quan trọng hàng đầu của
NNL bởi nó có con người mới có thể nghiên cứu sáng tạo và ứng dụng tiến bộ
12
khoa học vào quá trình hoạt động sản xuất và cải biến xã hội. Mác và Ăng
ghen đã nói "Tất cả cái gì thúc đẩy con người hành động đều tất nhiên phải
thông qua đầu óc của họ".
Từ những quan niệm trên tác giả đi đến một cách hiểu thống nhất về
NNL như sau: NNL về chất là tổng thể sức lao động của xã hội, bao gồm cả
thể lực và trí lực, được huy động vào quá trình phát triển KT-XH. NNL là
tổng thể hữu cơ của nhiều yếu tố hợp thành như thể chất, trí tuệ cùng với
trình độ văn hoá, kỹ năng chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp, thái độ và
phong cách làm việc của người lao động. Về lượng, NNL bao gồm toàn bộ
những người có khả năng lao động trong nền kinh tế, trong đó thành phần
quan trọng nhất là những người trong độ tuổi lao động và đang lao động.
NNL là nguồn nội lực quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt trong điều kiện ngày
nay, quyết định đối với phát triển KT-XH, cho nên cần được quan tâm đầu tư

nhà Quản lý tạo ra nhằm nâng cao CLNNL cho người lao động.
1.1.1.5. Khái niệm CBCCVC
Khái niệm Cán bộ: Theo Khoản 1 Điều 4 Luật cán bộ, công chức 2008
quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm
giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
Đặc điểm cán bộ:
Tính chất công việc: Một là, cán bộ hoạt động không thường xuyên,
điều này biểu hiện ở việc cán bộ làm việc theo nhiệm kỳ. Ví dụ: Chủ tịch Ủy
14
ban nhân dân cấp tỉnh được coi là cán bộ, làm việc theo nhiệm kì là 5 năm
(theo Luật tổ chức Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân 2003).
Hai là, công việc của cán bộ không mang tính chuyên môn nghiệp vụ rõ rệt. Ví
dụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân được coi là cán bộ và công việc của người này là
lãnh đạo và điều hành chung công việc của Ủy ban nhân dân cấp mình, mà
không chỉ đạo, giải quyết riêng công việc trong một lĩnh vực nhất định.
Con đường hình thành: Cán bộ được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ
các chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ. Ví dụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
huyện là cán bộ. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện do Hội đồng nhân dân
cấp huyện bầu ra và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê chuẩn; giữ
chức vụ là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và làm việc theo nhiệm kì là
5 năm
Nơi làm việc: Cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức
chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở
,huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
Nguồn trả lương: Cán bộ trong biên chế và được hưởng lương từ ngân
sách nhà nước theo một chế độ lương mà pháp luật quy định.

dụng phải trải qua kỳ thi tuyển hoặc xét tuyển theo quy định. Thi tuyển là một
phương thức tuyển dụng công chức, trong đó, hình thức, nội dung thi tuyển
phải phù hợp với ngành, nghề, bảo đảm lựa chọn được những người có phẩm
chất, trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu tuyển dụng. Người được tuyển
dụng vào công chức phải thực hiện chế độ tập sự theo quy định của Chính
phủ. Hết thời gian tập sự, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng
công chức đánh giá phẩm chất đạo đức và kết quả công việc của người đó;
nếu đạt yêu cầu thì đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý công chức
16
quyết định bổ nhiệm chính thức vào ngạch.
Bên cạnh việc bổ nhiệm vào một ngạch sau khi người được tuyển dụng
hoàn thành chế độ tập sự thì bổ nhiệm còn là một con đường trực tiếp hình
thành công chức. Đó là việc công chức được bổ nhiệm để giữ một chức vụ
lãnh đạo, quản lý. Việc bổ nhiệm công chức giữ một chức vụ lãnh đạo, quản
lý phải căn cứ vào nhu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị; tiêu
chuẩn, điều kiện của chức vụ lãnh đạo, quản lý. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục
bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý được thực hiện theo quy định của pháp
luật và của cơ quan có thẩm quyền. Ví dụ: chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
chức là tuyển dụng và bổ nhiệm, trong đó, tuyển dụng là con đường đặc thù.
Nơi công tác:
Cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã
hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị quân đội nhân
dân, công an nhân dân; trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp
công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.
Nguồn trả lương:
Đa số công chức là những người trong biên chế và hưởng lương từ ngân
sách nhà nước.
Khái niệm viên chức:
Được tuyển dụng theo hợp đồng làm việc, được bổ nhiệm vào một chức
danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý (trừ các chức vụ quy định là công chức).

nhiệm vụ của chính tổ chức đó.
* CLNNL của đội ngũ CBCCVC Nhà nước
CLNNL đội ngũ cán bộ công chức viên chức là chất lượng của tập hợp
cán bộ tại một cơ quan, đơn vị Quản lý nhà nước mà trước hết chính là chất
18
lượng lao động, tinh thần, thái độ làm việc. CLNNL của đội ngũ CBCCVC
thể hiện mối quan hệ phối hợp, hợp tác giữa các yếu tố, các thành viên cấu
thành nên bản chất bên trong của đội ngũ CBCCVC, thể hiện ở trình độ
chuyên môn, sự hiểu biết nhận thức về chính trị - xã hội, phẩm chất đạo đức,
khả năng thích nghi với sự chuyển đổi theo mục tiêu định hướng và vai trò
quản lý của Nhà nước. CLNNL đội ngũ CBCCVC được thông qua hệ thống
các tiêu chuẩn và chỉ tiêu đánh giá, nhằm phản ánh về năng lực, trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, các kỹ năng, kinh nghiệm tích lũy trong quá trình
công tác, tình trạng sức khỏe của đội ngũ CBCCVC và tình thần làm việc.
Tóm lại, CLNNL đội ngũ CBCCVC là tập hợp các yếu tố về trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ, các kỹ năng, kinh nghiệm trong quản lý, thái độ
chính trị, đạo đức, lối sống, tình trạng sức khỏe của mỗi cán bộ công chức
nhằm thực thi nhiệm vụ công vụ của một cơ quan, đơn vị do Nhà nước giao.
CLNNL của đội ngũ CBCCVC quyết định sự tồn tại, phát triển của Bộ
máy quản lý hành chính Nhà nước, việc nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý
Nhà nước là nhân tố quan trọng, nó vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển
kinh tế - xã hội.
1.1.2.2. Các yếu tố cấu thành CLNNL
CLNNL được biểu hiện ở thể lực, trí lực (trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ
thuật), tinh thần thái độ, động cơ, ý thức lao động, văn hóa lao động công
nghiệp… Trong ba mặt: thể lực, trí lực, tinh thần thì thể lực là nền tảng, cơ sở để
phát triển trí lực, là phương thức để chuyển tải khoa học kỹ thuật vào thực tiễn.
Ý thức tinh thần, đạo đức, tác phong là yếu tố chi phối hiệu quả hoạt động
chuyển hóa của trí lực thành thực tiễn. Trí tuệ là yếu tố có vai trò quan trọng
hàng đầu của NNL bởi nó có con người mới có thể nghiên cứu sáng tạo và ứng

20
Trí lực là năng lực trí tuệ, khả năng nhận thức và tư duy mang tính sáng
tạo thích ứng xã hội của con người. Nói đến trí lực là nói đến yếu tố tinh
thần , trình độ văn hóa và học vấn của con người, biểu hiện ở khả năng vận
dụng những điều kiện vật chất, tinh thần vào hoạt động thực tiễn nhằm đạt
hiệu quả cao, đồng thời là khả năng định hướng giá trị hoạt động của bản thân
để đạt được mục tiêu. Trí lực là yếu tố chiếm vị trí trung tâm chỉ đạo hành vi
của con người trong mọi hoạt động, kể cả trong việc lựa chọn các giải pháp
phù hợp nhằm phát huy tác dụng của các yếu tố khác trong cấu trúc CLNNL.
Trí lực là yếu tố quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con người, là yếu
tố ngày càng đóng vai trò quan trọng và quyết định trong CLNNL nói riêng
và sự phát triển của NNL con người nói chung.
Ba là, Tâm lực: Tâm lực là những giá trị chuẩn mực đạo đức, phẩm chất
tốt đẹp và sự hoàn thiện nhân cách của con người, được biểu hiện trong thực
tiễn lao động sản xuất và sáng tạo cá nhân. Những giá trị đó gắn liền với năng
lực tư duy và hành động cụ thể của con người, tạo nên CLNNL. Tâm lực tạo
ra động cơ bên trong của chủ thể, thúc đẩy và điều chỉnh hoạt động của con
người hay nói cách khác tâm lực góp phần vào việc phát huy vai trò của các
yếu tố thể lực và trí lực của con người với tư cách là NNL của xã hội.
Đạo đức, phẩm chất là những đặc điểm quan trọng trong yếu tố xã hội
của NNL, bao gồm tập hợp về nhân cách con người, tình cảm, phong tục, tập
quán, phong cách, thói quen, quan niệm, truyền thống, các hình thái tư tưởng,
đạo đức và nghệ thuật… gắn liền với truyền thống văn hóa. Một nền văn hóa
với bản sắc riêng luôn là sức mạnh nội tại của một quốc gia. Kinh nghiệm
thành công của một số nước phát triển Châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc là
tiếp thu kỹ thuật phương Tây trên cơ sở khai thác và phát huy giá trị tốt đẹp
của nền văn hóa dân tộc để đổi mới và phát triển. Trinh độ văn hóa được cung
cấp qua hệ thống giáo dục chính quy, không chính quy, thông qua quá trình
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status