BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
NGUYỄN TIẾN ĐẠT
QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
NGUYỄN TIẾN ĐẠT
QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS: BÙI XUÂN NHÀN
thập, tổng hợp và đánh giá một cách tổng quan những thông tin, số liệu thực
tế về quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước trên
địa bàn tỉnh Hà Nam để từ đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn
thiện đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2017
Học viên
Nguyễn Tiến Đạt
iii
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
Viết tắt
Viết đầy đủ
1
DA
Dự án
2
Kinh tế xã hội
8
NSNN
Ngân sách Nhà nước
9
LLSX
Lực lượng sản xuất
10
QLDA
Quản lý dự án
11
QLNN
Quản lý Nhà nước
12
TM-DV
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1: Nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tỉnh Hà
36
Nam giai đoạn 2014-2016
Bảng 2.2. Cơ cấu vốn đầu tư phát triển thời kỳ 2014 – 2016
phân theo ngành kinh tế
Bảng 2.3. Thu – Chi ngân sách địa phương giai đoạn 20142016
Bảng 2.4. Danh sách các Ban quản lý dự án có sử dụng con
dấu riêng để giao dịch
Bảng 2.5. Kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách
nhà nước của tỉnh Hà Nam giai đoạn 2014-2016
Bảng 2.6 Kết quả thẩm định các dự án đầu tư sử dụng vốn
ngân sách
Bảng 2.7. Tình hình thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ
bản của tỉnh Hà Nam giai đoạn 2013-2016
xây dựng cơ bản theo quy định của Nhà nước
Sơ đồ 1.3. Sơ đồ quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng cơ
bản
15
26
28
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong tổng chi ngân sách Nhà nước, chi đầu tư xây dựng cơ bản luôn
chiếm một tỷ trọng lớn, qua đó đã tạo nên sự chuyển biến quan trọng về cơ sở
vật chất kỹ thuật, thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng
lực sản xuất, cải thiện văn minh đô thị, đóng góp quyết định vào phát triển
nền kinh tế và ổn đinh xã hội…. Tuy nhiên, công tác quản lý và triển khai
thực hiện các DA còn nhiều hạn chế và yếu kém đặc biệt trong lĩnh vực quản
lý các DA đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách nhà nước (NSNN).
Đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) luôn là lĩnh vực được đặc biệt chú
trọng. Bất cứ một ngành, một lĩnh vực nào để đi vào hoạt động đều phải thực
hiện đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật (KT-KT), cơ sở vật chất, nghĩa là
có những đầu tư nhất định cho xây dựng cơ bản. Những năm gần đây, đầu tư
XDCB đã đóng góp không nhỏ đối với tăng trưởng và phát triển nền kinh tế
của nước ta. Rất nhiều công trình về các lĩnh vực như: Giáo dục, y tế, giao
thông, thủy lợi, du lịch, dịch vụ, công nghiệp khai thác, chế biến, nông, lâm
nghiệp được đầu tư, làm tiền đề thúc đẩy KT-XH của đất nước.
Quản lý các dự án đầu tư XDCB ở nước ta là một lĩnh vực phức tạp, có
tính đặc thù và luôn biến động nhất là trong giai đoạn cơ chế chính sách chưa
sử dụng, khai thác, đã phát huy được hiệu quả qua đó góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm, cải thiện thu nhập, từng bước nâng cao
đời sống của nhân dân cả về vật chất và tinh thần. Nhờ đó mà tốc độ tăng
trưởng kinh tế của tỉnh đã đạt được khá cao so với mức bình quân chung của
cả nước trong nhiều năm. Nổi bật là: kinh tế tăng trưởng cao, GDP tăng bình
quân trên 13,5%/năm; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng
nông, lâm, ngư nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ…tỉnh
Hà Nam đã chuẩn bị tốt các điều kiện tạo tiền đề trở thành trung tâm dịch vụ
chất lượng cao cấp vùng về y tế, giáo dục và du lịch. Tuy vậy, hiệu quả công
tác quản lý các DA đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN chưa cao; tồn tại, hạn
3
chế còn xảy ra ở hầu hết các khâu. Công tác chuẩn bị đầu tư một số DA chưa
tốt. Năng lực điều hành, khả năng phối hợp của một số ngành và huyện còn
hạn chế. Một số chủ đầu tư chưa nắm vững các quy định về công tác quản lý
các DA đầu tư XDCB. Công tác bố trí kế hoạch hàng năm thường phân tán,
dàn trải, kéo dài, một số DA chưa đủ điều kiện đã ghi kế hoạch. Việc quyết
toán vốn, quyết toán DA hoàn thành chưa được thực hiện nghiêm túc...Tình
trạng lãng phí, thất thoát trong đầu tư XDCB chưa được khắc phục một cách
triệt để.
Trong nước dã có nhiều công trình nghiên cứu về công tác quản lý các
DA đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, nhưng thực tế
cho thấy thời điểm nghiên cứu của các công trình là khác nhau, hệ thống văn
bản pháp luật đã được sửa đổi và bổ sung nhiều luật và văn bản mới như: Luật
đầu tư công, luật xây dựng, Luật ngân sách Nhà nước, luật đấu thầu và các
nghị định, thông tư hướng dẫn như: Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày
26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết luật đấu thầu số 43/2013/QH13,
Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015 của Chính phủ hướng dẫn quản
pháp, kiến nghị. Tuy nhiên thời gian nghiên cứu luận văn cũng chỉ dừng lại
năm 2012, hiện tại cơ chế, chính sách đã có nhiều thay đổi nên một số tồn tại
và giải pháp không còn phù hợp.
Nguyễn Hải Sơn (2014), “Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây
dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách ở huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang”,
Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Thái Nguyên. Tác giả đã nghiên cứu, phân
tích các thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại huyện
Yên Sơn và đề xuất giải các pháp hoàn thiện. Nhưng phạm vi nghiên cứu và
đề xuất giải pháp chỉ áp dụng trên địa bàn của một huyện.
Một số kết luận rút ra qua tổng quan nghiên cứu và khoảng trống cần
nghiên cứu của đề tài luận văn :
Ngoài một số công trình tiêu biểu liên quan đến đề tài luận văn trên, còn
có khá nhiều công trình nghiên cứu khác liên quan đến quản lý các công trình
đầu tư XDCB. Qua tổng quan có thể rút ra một số kết luận sau:
Một là, các đề tài trên đã nghiên cứu khá đầy đủ về cơ sở lý luận liên
quan đến quản lý đầu tư trên các phương diện rộng (toàn bộ quá trình đầu tư)
hoặc hẹp (một nội dung trong quá trình đầu tư), trên các địa phương khác
7
nhau và thời gian nghiên cứu đã lâu, hiện tại cơ chế, chính sách đã có nhiều
thay đổi nên một số nhận định và giải pháp đề ra có thể không còn phù hợp vì
đã có một loạt các văn bản quy phạm pháp luật mới liên quan đến các DA đầu
tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn Ngân sách Nhà nước đã được ban hành và
có hiệu lực.
Hai là, các nhận xét, kết luận rút ra qua nghiên cứu, các giải pháp đề ra
của các công trình trên không thể áp dụng rộng rãi cho các địa phương có
điều kiện, hoàn cảnh khác nhau, ở các giai đoạn khác nhau. Tuy nhiên, các
công trình nghiên cứu trên là những tài liệu tham khảo có giá trị cho việc
quyền địa phương cấp tỉnh tại Hà Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý
các DA đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn Ngân sách Nhà nước của chính
quyền địa phương cấp tỉnh tại Hà Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Luận văn nghiên cứu thực trạng quản lý các DA đầu tư
XDCB từ nguồn vốn NSNN của chính quyền địa phương cấp tỉnh tại Hà Nam
và đề xuất các giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý các DA
đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn Ngân sách Nhà nước của chính quyền địa
phương cấp tỉnh tại Hà Nam. Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm
vi quản lý các DA đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách nhà nước. Luận văn
cũng không có điều kiện đi vào các lĩnh vực chuyên sâu thuộc về kỹ thuật xây
dựng, quản lý các DA đầu tư XDCB không thuộc nguồn vốn NSNN…
Về không gian: Đề tài nghiên cứu công tác quản lý các DA đầu tư XDCB
của chính quyền địa phương cấp tỉnh tại Hà Nam.
Về thời gian: Tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý các DA đầu tư
XDCB từ nguồn vốn NSNN của chính quyền địa phương cấp tỉnh tại Hà Nam
trong khoảng thời gian từ 2014 - 2016 và đề xuất một số giải pháp kiến nghị
nâng cao hiệu quả quản lý các DA đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN đến
năm 2020 và những năm tiếp theo.
9
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Luận văn khai thác cơ sở lý luận
từ các giáo trình, các luận văn tham khảo, các bài báo, công trình nghiên cứu
liên quan để làm cơ sở lý luận cho luận văn. Để phân tích thực trạng của công
Phương pháp thống kê mô tả: Dựa trên các số liệu thống kê để mô tả sự
biến động cũng như xu hướng thay đổi của các số liệu, các tình hình sử dụng
vốn, số giải ngân thanh toán các năm, số KHV được cấp, các nhân tố ảnh
hưởng, mức độ chấp hành pháp luật của các chủ thể... Phương pháp này sử
dụng để mô tả thực trạng tình hình quản lý các DA đầu tư XDCB từ nguồn
vốn NSNN.
Phương pháp phân tích tổng hợp: Mỗi vấn đề sẽ được phân tích theo
nhiều góc độ khác nhau, phân tích từng tiêu chí cuối cùng tổng hợp lại trong
mối quan hệ với nhau. Phân tích thực trạng của công tác quản lý các DA đầu
tư XDCB từ nguồn vốn NSNN và dựa vào đó ta chỉ ra được những điểm
mạnh, điểm yếu, những tồn tại hạn chế của từng khâu quản lý các DA đầu
XDCB từ nguồn vốn NSNN, nhằm đề xuất những giải pháp có tính khả quan
để khắc phục những điểm yếu.
6. Ý nghĩa vấn đề nghiên cứu
Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần đánh giá
thực tiễn và hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về công tác quản lý các DA
đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn NSNN.
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa áp dụng thực tiễn vào
quản lý các DA đầu tư xây dựng từ nguồn vốn NSNN của chính quyền địa
phương cấp tỉnh Hà Nam, đưa gia các biện, đề xuất làm tăng tính hiệu quả của
các DA đầu tư, tránh thất thoát trong các DA đầu tư xây dựng từ nguồn vốn
NSNN. Đồng thời làm tài liệu tham khảo cho các tập thể cá nhân có quan tâm.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục các bảng biểu, tài liệu tham
khảo, mục lục, kí hiệu viết tắt, luận văn được kết cấu theo 3 chương:
11
Chương 1: Một số cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý
chất xám, công sức.
Theo Luật đầu tư công, dự án đầu tư: “là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung
hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn
cụ thể, trong khoảng thời gian xác định” [23]
Các DA đầu tư có thể bao gồm một số hoặc toàn bộ các công việc sau:
- Việc hoạch định các chính sách, các chuẩn mực, các kế hoạch, chương
trình.
- Việc thiết kế, chế tạo, mua sắm trang thiết bị.
13
- Việc xây dựng, lắp đặt thiết bị.
- Việc đổi mới tổ chức và phương thức quản trị điều hành.
- Việc đào tạo nhân lực.
- Việc chuyển giao “phần mềm” để cải tiến đổi mới công nghệ.
Dự án đầu tư:
Theo Khoản 2 Điều 3 luật đầu tư số 67/QH13: “Dự án đầu tư là tập hợp
đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư
kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”.[25]
Dự án đầu tư xây dựng:
Theo Khoản 15 Điều 3 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014
[24]: “Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử
dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải
tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công
trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn
chuẩn bị DA đầu tư xây dựng, DA được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên
cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng
hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng”.
Qua việc nghiên cứu đề tài, theo tác giả: “Dự án đầu tư XDCB là sự đề
ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư, cũng như việc phát huy kết quả
đầu tư. Vì vậy cần được bố trí hợp lý địa điểm xây dựng đảm bảo các yêu cầu
về an ninh quốc phòng, phải phù hợp với kế hoạch, qui hoạch bố trí tại nơi có
điều kiện thuận lợi, để khai thác lợi thế so sánh của vùng, quốc gia, đồng thời
phải đảm bảo được sự phát triển cân đối của vùng lãnh thổ.
Năm là, dự án đầu tư xây dựng có liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành
Quá trình đầu tư xây dựng cơ bản rất phức tạp liên quan đến nhiều
ngành, nhiều lĩnh vực. Diễn ra không những ở phạm vi một địa phương mà
còn nhiều địa phương với nhau. Vì vậy khi tiến hành hoạt động này, cần phải
có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong quản lý quá trình đầu tư,
bên cạnh đó phải qui định rõ phạm vi trách nhiệm của các chủ thể tham gia
đầu tư, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo được tính tập trung dân chủ trong quá
trình thực hiện đầu tư.
15
Hoạt động Quản lý các DA đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách Nhà
nước gồm 5 bước sau (xem sơ đồ 1.1)
Quy hoạch
và chủ
trương đầu
tư
Lập dự
án và
chuẩn bị
đầu tư
Triển
Làm tăng tổng cầu trong giai đoạn ngắn hạn của nền kinh tế để kích
thích tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Đầu tư XDCB từ NSNN làm tăng tổng cầu của nền kinh tế trong ngắn
hạn, qua đó làm tăng nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất và đời sống để kích thích
tăng trưởng kinh tế. Mặt khác, do mục đích VĐT phát triển của NSNN là đầu
16
tư cho duy trì, phát triển hệ thống hàng hóa công cộng và phát triển các
ngành, lĩnh vực kinh tế mũi nhọn có quy mô lớn. Từ đó, khi đầu tư hoàn
thành sẽ làm tăng tổng cung trong dài hạn và tạo tiền đề cơ sở vật chất kỹ
thuật hạ tầng cho phát triển KT-XH;
Đẩy nhanh chuyển dịch về cơ cấu kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm cho
người lao động .
Đầu tư XDCB từ vốn NSNN là tiềm lực của kinh tế nhà nước, với vai trò
chủ đạo, nó đã định hướng đầu tư của nền kinh tế vào các mục tiêu chiến lược
đã định của Nhà nước, làm chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, sử dụng, bố trí
lại hợp lý có hiệu quả các nguồn lực, tạo thêm nhiều cơ hội việc làm cho
người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế;
Phát triển lực lượng sản xuất và củng cố quan hệ sản xuất
Đầu tư XDCB từ vốn NSNN tạo lập cơ sở vật chất, kỹ thuật cho tăng
trưởng và phát triển nền kinh tế, làm chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, giải
phóng và phân bổ hợp lý các nguồn lực sản xuất. Trên cơ sở đó, làm cho
lượng sản xuất không ngừng phát triển về cả mặt lượng và chất. Đồng thời,
lực lượng sản xuất phát triển đã tạo tiền đề vững chắc củng cố cho quan hệ
sản xuất;
Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
Với chức năng tạo lập, duy trì, phát triển hệ thống hạ tầng KT-XH và phát
những tác động của mình. Qua đó có các quyết sách cụ thể để phù hợp với
thực tiễn tác động vĩ mô theo sự biến đổi của thực tiễn và nâng cao vai trò
quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế.
Quản lý các DA đầu tư XDCB được quản lý theo các văn bả chung của
cả nước, nó được thống nhất từ TW đến địa phương và theo yêu cầu quản lý
chung và đặc điểm riêng của từng địa phương.
1.1.4 Sự cần thiết quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn
vốn ngân sách nhà nước
Thứ nhất, Tạo tiềm lực cơ sở hạ tầng để phát triển kinh tế, đưa đất nước
đến năn 2020 trở thành đất nước công nghiệp hiện đại
18
Để trở thành một nước có nền kinh tế phát triển công nghiệp hiện đại đòi
hởi cơ sở hạ tầng phát triển đáp ứng các yêu cầu về điện đường, trường, trạm
đặc biệt là phát triển về hạ tầng giao thông để kêu gọi các nhà đầu tư đến với
Việt Nam. Do đó như cầu về vốn đầu tư là rất lớn, tuy nhiên nước ta là một
nước còn nghèo, NSNN còn hạn chế nên việc bố trí nguồn vốn cho phát triển
cơ sở hạ tầng còn thiếu, dàn trải và chưa tập trung. Để đạt được mục tiêu đề ra
cần xác định được trọng tâm, trọng điểm cần đầu tư để việc đầu tư đúng mục
đích và đạt hiệu quả mong muốn, tạo tiềm lực phát triển KT-XH.
Thứ hai, tình trạng lãng phí, thất thoát trong đầu tư XDCB tại các địa
phương còn nhiều do đó cần nâng cao công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ
bản từ vốn ngân sách Nhà nước.
Những năm gần đây Nhà nước đã tập trung nguồn vốn đầu tư XDCB cao,
thường chiếm tỉ trọng khoảng gần 30% trong cơ cấu ngân sách Nhà nước. Tuy
nhiên cơ chế quản lý còn lỏng lẻo, thiếu đồng bộ vẫn còn nhiều kẽ hở, đặc biệt là
công tác quản lý còn yếu kem.....Tình trạng lãng phí, thất thoát trong đầu tư vẫn
là vấn đề nhức nhối làm hạn chế việc phát triển KT-XH. Từ đó vấn đề đặt ra là