ĐẶT VẤN ĐỀ
“Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và
xã hội, chứ không phải là chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế”( theo định nghĩa
về sức khỏe của tổ chức y tế thế giới)
Theo định nghĩa trên, mỗi chúng ta cần chủ động để có một sức khỏe tốt.
Cần chủ động trang bị cho mình kiến thức về dinh dưỡng nhất là vấn đề dinh
dưỡng trẻ em trong cộng đồng, đó là vấn đề toàn cầu, được nhiều tổ chức quốc
tế quan tâm nghiên cứu, nhằm tìm ra giải pháp để cải thiện tình hình dinh dưỡng
của trẻ em. Suy dinh dưỡng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trẻ em.
Trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước, sức khỏe của trẻ em là mối
quan tâm hàng đầu của toàn xã hội, chăm lo cải thiện đời sống nhân dân là mối
lo hàng đầu của Đảng và nhà nước ta. Trong những năm gần đây, với sự hổ trợ
của các cấp, các ngành, đặc biệt là ngành y tế, nhiều chương trình chăm sóc sức
khỏe đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhờ đó tình trạng dinh dưỡng của
trẻ em nói riêng và sức khỏe nhân dân nói chung đã được cải thiện đáng kể, tỷ lệ
suy dinh dưỡng trẻ em hàng năm giảm rõ rệt.
Tuy nhiên nếu nhìn nhận một cách khách quan và toàn diện thì vấn đề sức
khỏe trong cộng đồng đặc biệt và vấn đề dinh dưỡng trẻ em dưới 1 tuổi vẫn còn
nhiều thách thức lớn.Tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 1 tuổi vẫn còn
cao, thể hiện không đồng điều giữa các vùng nông thôn, thành thị, miền xuôi,
miền núi, với trình độ văn hóa, kinh tế khác nhau, tập trung ở những vùng có thu
nhập thấp, trình độ văn hóa kém,vùng sâu vùng xa.Tình trạng dinh dưỡng của
mỗi cá thể trong quần thể không chỉ do ăn uống mà còn chịu tác động bởi nhiều
yếu tố khác nhau: bệnh tật,cân nặng lúc mới sinh, mà đặc biệt là sự thiếu kiến
thức nuôi dạy con của các bà mẹ.
Khi thiếu dinh dưỡng thì sẽ có những biểu hiện ngưng phát triển chiều cao,
cân nặng, nhưng biến đổi về chức phận và bệnh nhiễm khuẩn.
Nuôi dưỡng trẻ không đúng cách thì nguy cơ suy dinh dưỡng ở trẻ rất dễ
xảy ra, suy dinh dưỡng ở trẻ em càng cao thì nòi giống càng kém phát triển về
thể lực và trí tuệ.
Kiến thức nuôi dưỡng trẻ em của bà mẹ chiếm một vị trí vô cùng quan
Số bà mẹ được phỏng vấn: 50 bà mẹ ở tổ 10 Phường Thủy Phương, Thị xã
Hương Thủy
1.1. Tuổi của các bà mẹ
Bảng 1: Phân bố các bà mẹ theo tuổi
Tuổi 20-25 25-30 30-35 35- >40 Tổng
n 3 28 13 6 50
Tỉ lệ (%) 6 56 26 12 100
Nhận xét: Độ tuổi sinh đẻ của các bà mẹ từ 25 đến 30 tuổi chiếm tỷ lệ 56%
Bà mẹ 30 – 35 tuổi chiếm tỷ lệ 26%,12% là độ tuổi 35 - > 40 và độ tuổi 20 – 25
chiếm tỷ lệ thấp 8%.
1.2. Nghề nghiệp của các bà mẹ
Bảng 2: Phân bố nghề nghiệp của các bà mẹ
Nghề nghiệp Làm nông Buôn bán Công nhân Cán bộ Khác Tổng
n 30 11 2 4 3 50
Tỷ lệ (%) 60 22 4 8 6 100
Nhận xét: Đa số các bà mẹ làm nông chiếm tỷ lệ cao 60%, buôn bán chiếm
22%,công nhân 4%, cán bộ 8 %, có 3 bà mẹ không có việc làm ổn định (6%).
1.3. Trình độ văn hóa của các bà mẹ
Biểu đồ 1: Phân bố trình độ văn hóa của các bà mẹ
Nhận xét: Số bà mẹ học hết PTCS chiếm tỉ lệ cao 70%,25 % học hết cấp 3
trở lên, 5% số bà mẹ học hết cấp 1,không có bà mẹ nào mù chữ
II. Kiến thức chăm sóc trẻ:
2.1. Thời gian cho bú sau khi sinh
Bảng 3: Thời gian các bà mẹ cho con bú sau khi sinh
Thời gian
≤ 30phút – 1 giờ
1 -2 giờ 2-4h > 4 giờ Tổng
N 15 32 3 0 50
Tỷ lệ (%) 30 64 6 0 100
Nhận xét: Đa số các bà mẹ cho con bú 1-2 giờ sau sinh chiếm tỷ lệ
Glucid
Protit - Glucid -
Vitamin
Protit, glucid,
Lipid, Vitamin
Glucid Tổng
n 27 19 4 0 50
Tỷ lệ (%) 54 38 8 0 100
Nhận xét: Không có bà mẹ nào chỉ cho ăn 1 loại thức ăn. Có 54% bà mẹ
cho ăn có 2 thành phần. Có 38% bà mẹ cho ăn có 3 thành phần. Có rất ít bà mẹ
cho ăn đủ các thành phần 8%.
2.7. Cách cho trẻ ăn
Bảng 7: Cách cho trẻ ăn.
Cách thức Ăn xay Nghiền
Cháo
lỏng
Cơm
men
Tổng
n 40 4 4 2 50
Tỷ lệ (%) 80 8 8 4 100
Nhận xét: 78 % bà mẹ cho trẻ ăn xay, 6% trẻ ăn nghiền,8% trẻ ăn cháo
lỏng, 4% trẻ ăn cơm men.
2.8. Nguồn cung cấp kiến thức cho các bà mẹ về chăm sóc nuôi
dưỡng
Biểu đồ 4: Biểu đồ nguồn cung cấp kiên thức về dinh dưỡng và cách
chăm sóc.
Nhận xét: Trong 50 bà mẹ được cung cấp kiến thức thì có 55% bà mẹ tìm
hiểu từ ti vi, đài, báo…Chỉ có 30% được cung cấp từ nhân viên y tế và còn 15%
từ các nguồn khác (người thân trong gia đình, bạn bè…)
Biểu đồ 6: Tỷ lệ các bà mẹ biết chăm sóc khi trẻ bị tiêu chảy
Nhận xét: Phần lớn các bà mẹ biết cho uống ORS khi trẻ bị tiêu chảy 74%,
có 10% bà mẹ cho trẻ uống nước cháo muố, có 6% bà mẹ dùng thuốc tây,10%
bà mẹ dùng thuốc nam.
BÀN LUẬN
1. Kết quả khảo sát cho thấy độ tuổi các bà mẹ chủ yếu sinh đẻ chiếm từ
25-35 tuổi chiếm đến 80% ( bảng 1) Độ tuổi của đối tượng nghiên cứu, đây
là độ tuổi sinh và nuôi con tốt nhất (bảng 1).
2. Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu (bảng 2)
Phần đông các bà mẹ làm nông chiếm 60%và buôn bán chiếm 22 %, nên ít
có thời gian cập nhật thông tin và chăm sóc trẻ. Số các bà mẹ là cán bộ công
chức và công nhân có điều kiện chăm sóc trẻ còn ít chỉ chiếm 18%
3. Trình độ văn hóa của đối tượng nghiên cứu
Không có bà mẹ nào mù chữ: Đây là yếu tố thuận lợi nhất để truyền đạt
kiến thức cho bà mẹ.
4. Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ
Đa số các bà mẹ ít sử dụng sữa ngoài cho trẻ, có đến 90% các bà mẹ không
sử dụng sữa ngoài cho trẻ (theo bảng 5).
Thời gian cho trẻ bú sau sinh ( bảng 4) của các bà mẹ trước ½-1 giờ chiếm
tỷ lệ 30%, 1-2 giờ là 64%, như vậy đã nói lên được sự ý thức của các bà mẹ
ngày một hiểu hơn. Tuy nhiên cũng có 6% cho trẻ bú sau 2 - 4 giờ, vì theo suy
nghĩ của những bà mẹ này sưã non là sữa chưa chín, sữa non có màu vàng nên
không tốt cho trẻ, một số bà mẹ sau sinh trong quá trình rặn đẻ làm mẹ mệt nên
ngủ thiếp 1,2 giờ,một số bà mẹ phải chờ 24 giờ sau khi sinh để “ xuống sữa” rồi
mới cho bú.
5. Số lần trẻ bú trong ngày của các bà mẹ ( bảng 4 ). Đa số các bà mẹ cho
trẻ bú theo yêu cầu của trẻ chiếm tỉ lệ rất cao 80%, đây là nhận thức rất đúng
đắn mang ý nghĩa làm giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng ngày một ít đi.
6. Về thời gian cai sữa của trẻ củng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển về
thể chất của trẻ sau này. So với các loại thức ăn, sữa mẹ rất nhiều năng lượng
9. Từ tháng thứ tư trở đi bên cạnh việc bú sữa mẹ cần cho trẻ ăn bổ sung
thêm đầy đủ các nhóm gồm đạm ( thịt, cá trứng,…);dầu mở và vitamin. Tại
bảng 6, một số bà mẹ cho rằng không nên cho trẻ ăn dầu, mở sợ đi lỏng chiếm tỷ
lệ 6%, một số lại kiêng ăn rau vì sợ trẻ đi phân xanh chiếm tỷ lệ 4%, có 4% cho
ăn bột, cũng may con số này chiếm tỷ lệ thấp. Hầu hết các bà mẹ cho trẻ ăn dặm
đầy đủ chiếm tỷ lệ 78%. Tỷ lệ dầu mỡ trong thức ăn quá thấp cũng ảnh hưởng
đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Người ta nhận thấy rằng nếu thiếu chất béo
trong khẩu phần ăn của trẻ làm cho cơ thể không đủ năng lượng để phát triển
kèm theo thiếu một số vitamin cần thiết như A,D,E,K…Sự thiếu thốn này càng
làm cho trẻ suy dinh dưỡng. Bên cạnh đó nếu khẩu phần ăn của trẻ không bổ
sung thêm rau, củ, trái cây thì sẽ thiếu vitamin và một số chất cần thiết cho quá
trình chống đỡ bệnh tật của trẻ. Các bà mẹ chưa tận dụng được nguồn thực phẩm
có sẳn trong vườn, vừa tiết kiệm được chi phí mà vừa an tâm vừa có nguồn gốc
xuất xứ của thực phẩm. Các thực phẩm được mua từ chợ là chính, điều này
không phù hợp với một xã ven thành phố mà người dân có thể sống bằng nghề
trồng trọt.
10. Qua bảng 6 còn cho chúng ta thấy còn một số bà mẹ vẫn chưa thực sự
quan tâm đến việc cho trẻ ăn đầy đủ các chất thì làm sao trẻ đủ năng lượng để
phát triển thể chất, góp phần làm nặng nề thêm tình trạng thiếu dinh dưỡng,
không tránh khỏi ở các bà mẹ thiếu kiến thức nuôi dạy trẻ. Cùng với số bữa ăn
của trẻ trong ngày, hầu hết các bà mẹ cho trẻ ăn bằng thức ăn được xay 80%,
nghiền 6% hoặc cháo lỏng 8 % ( bảng 7) nhưng vẫn còn 4% bà mẹ cho trẻ ăn
bằng cơm mem, cần tư vấn thêm cho các bà mẹ này hiểu tác hại đến sức khỏe
của trẻ ăn cơm mem sẽ lây truyền bệnh từ mẹ sang con dẫn đến trẻ suy dinh
dưỡng.
Như đã nói từ đầu, kiến thức chăm sóc các bà mẹ là vô cùng quan trọng, nó
quyết định phần lớn tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Bà mẹ muốn nuôi dạy con tốt
phải tìm hiểu các kiến thức nuôi dạy con, kiến thức có thể từ nhiều nguồn khác
nhau, có thể từ ti vi, sách báo, tờ rơi, loa truyền thông và các buổi sinh hoạt tập
trung của chị em phụ nữ, ở biểu đồ 4 cho thấy có 15% bà mẹ tìm hiểu kinh
8% bà mẹ biết tăng cường dinh dưỡng khi trẻ bị tiêu chảy. Có đến 44%
bà mẹ cho trẻ ăn ít lại.
• 84% bà mẹ cho trẻ uống ORS và nước cháo muối khi trẻ bị tiêu chảy,
nhưng có 6% bà mẹ tự mua thuốc tây cho trẻ uống.
• Chỉ có 30% các bà mẹ được cung cấp từ nhân viên y tế.
KIẾN NGHỊ
Sự hiểu biết về kiên thức chăm sóc trẻ dưới 1 tuổi của các bà mẹ trên đây là
kết quả của nhiều chương trình tuyên truyền, giáo dục sức khỏe với nhiều hình
thức đài, báo, tờ rơi… là sự nỗ lực của tất cả các ngành đặc biệt là ngành y tế.
Từ những kết luận trên chúng tôi xin nêu ra một số kiến nghị sau:
- Trạm y tế cần đẩy mạnh hơn nữa công tác truyền thông giáo dục sức khỏe
đến tận người dân, phát huy mạng lưới y tế thôn bản tại cơ sở để công tác truyền
thông đạt hiệu quả hơn.
- Nên tổ chức thường xuyên các buổi tuyên truyền để cung cấp kiến thức
nuôi con cho bà mẹ, đồng thời tổ chức các buổi thực hành dinh dưỡng tại trạm
cho các bà mẹ tham gia, giáo dục cho bà mẹ ăn bổ sung đủ 4 nhóm thức ăn theo
ô vuông thức ăn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Tham vấn nuôi con bằng sữa mẹ: BỘ Y TẾ
[2]. Bộ Y tế: Chăm sóc dinh dưỡng cho bà mẹ trẻ em tại gia đình
[4]. Bùi Tá Tâm, nghiên cứu tình hình nuôi dưỡng trẻ em dưới 1 tuổi tại
thành phố Huế.
[5]. Chăm sóc trẻ bị tiêu chảy cấp: Điều dưỡng Nhi của Trường Đại học Y
dược Huế.
[6]. Chăm sóc sức khỏe trẻ em: Ủy ban dân số gia đình và trẻ em. Bộ Y tế
2002.
[7]. Bài giảng nhi khoa, bộ môn trường đại học y dược Thành phố Hồ Chí
Minh.
Trường Đại học Y Dược Huế
Khoa: Điều dưỡng
Tăng cường chất dinh dưỡng
Câu 9:Theo chị, khi cháu bị ỉa chảy cho cháu uống gì?
ORS Nước cháo muối
thuốc tây Thuốc nam Khác
Câu 10: Chị có cân trẻ hàng tháng không?
Có Không
Câu 11: Chị có biêt cân trẻ hàng tháng để làm gì không?
Phát hiện sớm trẻ không tăng cân hoặc tụt cân, tìm cách phòng ngừa suy
dinh dưỡng.
Để biết trọng lượng con
Để CBYT theo dõi.
Câu 12:Chị có cho trẻ đi tiêm chủng mở rộng không?
Có Không
Câu 13:Chị có được cung cấp kiến thức về dinh dưỡng và cách nuôi con không?
Có không
Câu 14: Nếu có từ nguồn nào?
Nhân viên y tế Cộng tác viên dinh dưỡng
Ti vi, đài, báo… Khác
Câu 15:Chị có biết cho trẻ ăn dặm quá sớm, quá muộn hay thức ăn dặm không
đủ chất sẽ dẫn đến suy dinh dưỡng?
Có Không
Xin cảm ơn chị đã trả lời câu hỏi.
Huế, ngày ….tháng….năm 2011
Người điều tra
Lời cảm ơn
Được sự giúp đỡ của khoa điều dưỡng trường Đại Học Y
Dược Huế và sự hướng dẫn tận tình của giáo viên,
Chúng em xin chân thành cảm ơn:
1.1.Đối tượng nghiên cứu 3
1.2.Địa điểm và thời gian nghiên cứu 3
1.3.Phương pháp nghiên cứu 3
1.4.Xử lý số liệu 3
Phần II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4
I.Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 4
II.Kiến thức chăm sóc trẻ 5
BÀN LUẬN 10
KẾT LUẬN 14
KIẾN NGHỊ 15
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
DANH SÁCH ĐIỀU TRA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
( PHỤ NỮ TRONG ĐỘ TUỔI 20 - > 40 )
STT Họ và tên Năm sinh Địa chỉ
1 Nguyễn Thị Hòa 1969 Tổ 10
2 Trần Thị Yến 1986 Tổ 10
3 Hồ Thị Lệ 1980 Tổ 10
4 Phạm Thị Liên 1987 Tổ 10
5 Nguyễn Thị Hoa 1969 Tổ 10
6 Nguyễn Thị Hoa 1971 Tổ 10
7 Lê Thị Ái Phương 1985 Tổ 10
8 Phan Thị Hương Thủy 1975 Tổ 10
9 Nguyễn Thị Dung 1976 Tổ 10
10 Lê Thị Hồng Quế 1988 Tổ 10
11 Dương Hương Thủy 1983 Tổ 10
12 Hoàng Ngọc Diễm Phương 1970 Tổ 10
13 Phan Thị Chân Phương 1981 Tổ 10
14 Nguyễn Thị Kim Hoa 1978 Tổ 10
15 Trần Thị Quyên 1972 Tổ 10
46 Nguyễn Thu Vân 1978 Tổ 10
47 Phạm Thị Hoa 1974 Tổ 10
48 Nguyễn Thị Thuận 1982 Tổ 10
49 Phan Mỹ Hạnh 1975 Tổ 10
50 Tô T Huệ 1970 Tổ 10